Nghiên Cứu Thay Đổi Cytokine Và Hiệu Quả Điều Trị Bệnh Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Bằng Methotrexate

Nghiên cứu nồng độ cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate, cung cấp thông tin hữu ích cho điều trị.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội khoa/Da liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

135
8
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.2. Tình hình bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.3. Sinh bệnh học bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.4. Đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.5. Mô bệnh học bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.6. Chẩn đoán bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.7. Cập nhật chiến lược điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.8. Vai trò cytokin trong bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.9. Vai trò cytokin trong bệnh vảy nến thông thường

1.10. Methotrexate trong điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

1.10.1. Cấu trúc methotrexate

1.10.2. Cơ chế tác dụng của methotrexate

1.10.3. Hấp thu và thải trừ

1.10.4. Liều và cách dùng

1.10.5. Chỉ định và chống chỉ đinh

1.10.6. Quá liều methotrexate

1.10.7. Tác dụng không mong muốn

1.10.8. Dạng sản phẩm

1.11. Các nghiên cứu về cytokin và điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate trên Thế giới và Việt Nam

1.11.1. Các nghiên cứu trên Thế giới

1.11.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Vật liệu nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.3. Các bước tiến hành

2.2.4. Các chỉ số, biến số trong nghiên cứu

2.2.5. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3.1. Địa điểm nghiên cứu

2.3.2. Thời gian nghiên cứu

2.4. Đạo đức nghiên cứu

2.5. Hạn chế của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh VNĐDTT

3.1.1. Một số yếu tố liên quan

3.1.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

3.2. Kết quả nồng độ IL-2, Il-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ huyết thanh của bệnh nhân VNĐDTT

3.2.1. Đặc điểm của 2 nhóm

3.2.2. Kết quả nồng độ IL-2, Il-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ huyết thanh trước điều trị của bệnh nhân VNĐDTT

3.2.3. Kết quả nồng độ IL-2, Il-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ huyết thanh sau điều trị của bệnh nhân VNĐDTT

3.3. Kết quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate

3.3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu

3.3.2. Kết quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh VNĐDTT

4.1.1. Một số yếu tố liên quan

4.1.2. Đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân

4.2. Kết quả nồng độ IL-2, Il-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ huyết thanh của bệnh nhân VNĐDTT

4.2.1. Đặc điểm của 2 nhóm

4.2.2. Kết quả nồng độ IL-2, Il-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ huyết thanh trước điều trị của bệnh nhân VNĐDTT

4.2.3. Kết quả nồng độ IL-2, Il-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ huyết thanh sau điều trị của bệnh nhân VNĐDTT

4.3. Kết quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate

4.3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu

4.3.2. Kết quả điều trị bệnh VNĐDTT bằng methotrexate

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

ẢNH MINH HỌA

PHIẾU NGHIÊN CỨU

DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Bệnh Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Cập Nhật 2024

Bệnh vảy nến đỏ da toàn thân (VNĐDTT) là một thể nặng của bệnh vảy nến, chiếm tỉ lệ khoảng 1-2,25% trong số bệnh nhân vảy nến. Đặc trưng lâm sàng là ban đỏ có vảy lan rộng khắp cơ thể, bao gồm mặt, tay, chân, móng, thân mình và các chi. Chẩn đoán khi tổn thương chiếm trên 90% diện tích bề mặt cơ thể, kèm theo các rối loạn về sinh hóa, nước, điện giải và thương tổn các cơ quan, ảnh hưởng lớn đến chức năng và chất lượng cuộc sống. Tỷ lệ VNĐDTT tại Việt Nam có xu hướng tăng do lạm dụng corticoid. Sinh bệnh học VNĐDTT chưa được hiểu đầy đủ so với vảy nến thông thường (VNTT). Cơ chế bệnh sinh VNTT bắt nguồn từ sự tương tác bất thường giữa các tế bào lympho T, tế bào đuôi gai, tế bào sừng, bạch cầu trung tính và các cytokine tiền viêm, dẫn đến kích hoạt trục miễn dịch Th17/Th1. Điều trị VNĐDTT cần chiến lược bao gồm giai đoạn tấn công và giai đoạn duy trì, sử dụng thuốc đơn độc, kết hợp hoặc luân chuyển để cải thiện chất lượng cuộc sống người bệnh. Nghiên cứu về thay đổi cytokine và hiệu quả điều trị bằng Methotrexate là cần thiết.

1.1. Tình Hình Dịch Tễ Bệnh Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Toàn Cầu

Bệnh vảy nến là một bệnh viêm da mãn tính ảnh hưởng đến khoảng 2-3% dân số thế giới. VNĐDTT được chẩn đoán khi tổn thương da chiếm trên 90% diện tích cơ thể. Tỷ lệ mắc bệnh hàng năm khác nhau giữa các quốc gia. Theo Rasnik và cộng sự (2016), VNĐDTT chiếm 1-2,25% tổng số bệnh nhân vảy nến. Các nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ này biến động, từ 1% theo Goeckerman đến 6,8% theo Đặng Văn Em và cộng sự tại Việt Nam. Tuổi khởi phát bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu là nam giới. Nghiên cứu của Hawilo (2011) trên 60 bệnh nhân VNĐDTT, cho thấy 76,7% là nam và tuổi trung bình là 53,7.

1.2. Yếu Tố Nguy Cơ và Bệnh Kết Hợp Liên Quan Vảy Nến Đỏ Da

Tiền sử gia đình có người mắc vảy nến dao động từ 15-45% trong các nghiên cứu khác nhau. Các bệnh phối hợp trong VNĐDTT tương tự như VNTT, bao gồm lupus ban đỏ hệ thống, pemphigus, bạch biến. Đặc biệt, VNĐDTT thường đi kèm với tăng huyết áp, xơ gan, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa. Hội chứng chuyển hóa là một tập hợp các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường và bệnh tim mạch. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân VNĐDTT rất cao, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đặc biệt là xơ vữa động mạch. Bệnh nhân VNĐDTT cũng có nguy cơ cao mắc các bệnh thần kinh như suy nhược, dễ bị kích thích, cáu gắt và lo lắng.

II. Phân Tích Nguyên Nhân Gây Bệnh Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân

Nhiều yếu tố có thể kích hoạt VNĐDTT, bao gồm nhiễm khuẩn, ánh nắng, chấn thương tâm lý, nghiện rượu, bệnh hệ thống, tiếp xúc với thuốc và hóa chất. Tiền sử sử dụng corticoid đường toàn thân có thể nhanh chóng chuyển đổi VNTT thành VNĐDTT. Việc phân biệt các yếu tố kích hoạt đôi khi khó khăn, cần xem xét cả các bệnh kèm theo. Một nguyên nhân quan trọng là hiện tượng bật bóng sau khi dừng đột ngột thuốc ức chế miễn dịch hoặc thuốc sinh học. Theo Nguyễn Hữu Sáu, 13,2% bệnh nhân VNĐDTT là do sử dụng corticoid đường toàn thân và 48,5% do dùng thuốc nam. Việc lạm dụng corticoid là một trong những yếu tố thúc đẩy VNĐDTT và gây nhiễm trùng nặng.

2.1. Các Yếu Tố Kích Hoạt Bệnh Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Cần Lưu Ý

Các yếu tố kích hoạt môi trường bao gồm cháy nắng, chấn thương da, căng thẳng cảm xúc, nghiện rượu và nhiễm trùng. Các yếu tố hóa học: chất sử dụng chụp cắt lớp vi tính, hắc ín bôi ngoài, thuốc lá, sử dụng Bupropion. Bệnh toàn thân: HIV, bệnh bạch cầu, u lympho tế bào T, bệnh goutte, bệnh tiền ung thư. Các loại thuốc: thuốc chống sốt rét, trimethoprim/sulfamethoxazole, lạm dụng corticoid đường toàn thân. Điều quan trọng là nhận biết và tránh các yếu tố kích hoạt này để kiểm soát bệnh hiệu quả hơn.

2.2. Vai Trò Của Hệ Miễn Dịch Trong Sinh Bệnh Học Vảy Nến Đỏ Da

Sinh bệnh học của VNĐDTT chưa được làm sáng tỏ, nhưng một số nghiên cứu cho thấy liên quan chủ yếu đến T helper 2 (Th2). Mặc dù HLA-CW6, HLA-B57, HLA-B13, và HLA-B17 có liên quan đến đột biến VNTT và đột biến IL36RN gắn liền với vảy nến mụn mủ, yếu tố di truyền ít được biết đến trong VNĐDTT. Nghiên cứu của Li và cộng sự (2005) cho thấy sự gia tăng Immunoglobulin E (IgE) trong huyết thanh bệnh nhân VNĐDTT so với nhóm chứng, do sự mất cân bằng Th1/Th2. IgE là một kháng thể do tế bào lympho B tiết ra sau tác động của Th2, cụ thể là tế bào tương tác với những tế bào B và tiết IL-4 kết hợp với thụ thể bề mặt của tế bào lympho B.

2.3. Cytokine Th2 và Vai Trò Trong Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân

Các cytokine Th2 có thể gắn liền với sinh bệnh học của VNĐDTT, và sự thay đổi từ VNTT thành VNĐDTT có thể do sự mất cân bằng Th1/Th2. IL-10 có thể kích thích sự tăng sinh và sự khác biệt của tế bào lympho B và thúc đẩy khả năng miễn dịch dịch thể. Nồng độ IL-4, IL-10, IL-2 và IFN-γ trong bệnh nhân VNĐDTT tăng lên so với nhóm chứng khỏe mạnh và bệnh nhân VNTT. Có sự đảo ngược tỷ lệ IFN-γ/IL-4 ở bệnh nhân vảy nến, cho thấy cả cytokine Th1Th2 tham gia vào sinh bệnh học của VNĐDTT, đặc biệt vai trò của Th2 nổi bật hơn so với Th1.

III. Methotrexate Trong Điều Trị Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Hướng Dẫn

Methotrexate (MTX) là một loại thuốc ức chế miễn dịch thường được sử dụng trong điều trị VNĐDTT. Nó hoạt động bằng cách ức chế acid folic, từ đó làm giảm sự tăng sinh tế bào và viêm nhiễm. MTX có thể được sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với các liệu pháp khác như retinoids hoặc liệu pháp quang học. Hiệu quả của MTX đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu lâm sàng, cho thấy nó có thể làm giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Tuy nhiên, việc sử dụng MTX cần được theo dõi chặt chẽ do các tác dụng phụ tiềm ẩn.

3.1. Cơ Chế Tác Dụng Của Methotrexate Đối Với Bệnh Vảy Nến

MTX hoạt động bằng cách ức chế dihydrofolate reductase, một enzyme quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic. Sự ức chế này làm giảm sự tăng sinh của các tế bào viêm và tế bào sừng, từ đó giảm viêm và cải thiện các triệu chứng của bệnh vảy nến. MTX cũng có tác dụng điều hòa miễn dịch, giúp kiểm soát phản ứng miễn dịch quá mức trong bệnh vảy nến. Cấu trúc hóa học và cơ chế tác động phức tạp của MTX đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả điều trị của nó.

3.2. Liều Lượng Và Cách Sử Dụng Methotrexate Hiệu Quả An Toàn

Liều MTX thường được sử dụng trong điều trị VNĐDTT là 7.5-25 mg mỗi tuần, uống hoặc tiêm. Liều lượng cụ thể cần được điều chỉnh dựa trên đáp ứng của bệnh nhân và khả năng dung nạp thuốc. Điều quan trọng là phải theo dõi chức năng gan và thận thường xuyên trong quá trình điều trị MTX, vì thuốc có thể gây độc cho các cơ quan này. Bệnh nhân nên được thông báo về các tác dụng phụ tiềm ẩn và cần liên hệ với bác sĩ nếu có bất kỳ triệu chứng bất thường nào.

IV. Nghiên Cứu Thay Đổi Cytokine và Hiệu Quả Methotrexate Kết Quả

Nghiên cứu này tập trung vào việc khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng của bệnh VNĐDTT được điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương. Mục tiêu chính là xác định nồng độ các cytokine như IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, INF-γ trong huyết thanh của bệnh nhân VNĐDTT trước và sau khi điều trị bằng Methotrexate. Kết quả điều trị VNĐDTT bằng Methotrexate cũng được đánh giá chi tiết. Nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quan trọng về mối liên quan giữa các cytokine và hiệu quả điều trị bằng Methotrexate.

4.1. So Sánh Nồng Độ Cytokine Trước Và Sau Điều Trị Bằng MTX

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi đáng kể về nồng độ các cytokine sau khi điều trị bằng MTX. Cụ thể, một số cytokine tiền viêm như IL-6, IL-17 và TNF-α giảm đáng kể, trong khi các cytokine điều hòa miễn dịch như IL-10 có xu hướng tăng. Sự thay đổi này cho thấy MTX có tác dụng điều hòa hệ miễn dịch, giảm viêm và cải thiện tình trạng bệnh của bệnh nhân VNĐDTT.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Điều Trị Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Bằng Methotrexate

Đánh giá hiệu quả điều trị bằng các chỉ số lâm sàng như PASI (Psoriasis Area and Severity Index) cho thấy MTX có hiệu quả trong việc giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh. Nhiều bệnh nhân đạt được PASI 50, PASI 75 và PASI 90 sau một thời gian điều trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hiệu quả điều trị có thể khác nhau giữa các bệnh nhân, và một số bệnh nhân có thể cần liều lượng cao hơn hoặc kết hợp với các liệu pháp khác để đạt được kết quả tốt nhất.

4.3. Tác Dụng Không Mong Muốn Khi Điều Trị MTX Cần Lưu Ý

Mặc dù MTX có hiệu quả trong điều trị VNĐDTT, nó cũng có thể gây ra một số tác dụng phụ, bao gồm buồn nôn, chán ăn, mệt mỏi, tăng men gan và giảm số lượng tế bào máu. Việc theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ này là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Trong một số trường hợp, cần phải điều chỉnh liều lượng hoặc ngừng thuốc nếu tác dụng phụ quá nghiêm trọng. Bác sĩ cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ khi sử dụng MTX trong điều trị VNĐDTT.

V. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về MTX Và Vảy Nến

Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng về hiệu quả của MTX trong điều trị VNĐDTT. Kết quả cho thấy MTX có thể làm giảm viêm, điều hòa hệ miễn dịch và cải thiện tình trạng bệnh của bệnh nhân. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế tác dụng của MTX và xác định các yếu tố dự đoán hiệu quả điều trị. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc tìm kiếm các biomarker giúp dự đoán đáp ứng với MTX và phát triển các phác đồ điều trị cá nhân hóa cho bệnh nhân VNĐDTT.

5.1. Đánh Giá Tổng Quan về Ưu và Nhược Điểm của Methotrexate

MTX là một lựa chọn điều trị hiệu quả và kinh tế cho VNĐDTT, nhưng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích và nguy cơ. Ưu điểm của MTX bao gồm hiệu quả đã được chứng minh, chi phí thấp và dễ sử dụng. Nhược điểm của MTX bao gồm tác dụng phụ tiềm ẩn và cần phải theo dõi chặt chẽ. Quyết định sử dụng MTX cần được đưa ra dựa trên tình trạng bệnh cụ thể của từng bệnh nhân và sự tư vấn của bác sĩ.

5.2. Tiềm Năng Phát Triển Các Liệu Pháp Thay Thế Methotrexate

Trong những năm gần đây, đã có nhiều tiến bộ trong điều trị VNĐDTT, bao gồm sự ra đời của các thuốc sinh học nhắm mục tiêu vào các cytokine cụ thể như TNF-α, IL-17 và IL-23. Các thuốc này có thể hiệu quả hơn và ít tác dụng phụ hơn so với MTX, nhưng chi phí thường cao hơn. Nghiên cứu tiếp tục được tiến hành để tìm kiếm các liệu pháp mới và cải thiện các liệu pháp hiện có cho VNĐDTT.

24/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Vảy nến đỏ da toàn thân (VNĐDTT) là một trong những thể nặng của bệnh vảy nến, chiếm khoảng 1-2,25% ở bệnh nhân vảy nến [1]. Lâm sàng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân đặc trưng là đa số có bệnh vảy nến thông thường trước đó và bệnh tiến triển nặng với ban đỏ có vảy khắp cơ thể bao gồm mặt, bàn tay, bàn chân, móng, thân mình và các chi, được chẩn đoán khi tổn thương chiếm trên 90% diện tích bề mặt của cơ thể, kèm theo các rối loạn về sinh hóa, nước, điện giải và thương tổn các cơ quan bộ phận, làm ảnh hưởng đến chức năng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân [2], [3], [4]. Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh vảy nến đỏ da toàn thân có xu hướng tăng do lạm dụng corticioid khi điều trị bệnh vảy nến, theo Đặng Văn Em và cộng sự gặp 6,8% [5]. Sinh bệnh học bệnh VNĐDTT vẫn chưa được hiểu đầy đủ so với bệnh vảy nến thông thường (VNTT).

Cơ chế bênh sinh bệnh VNTT được biết bắt nguồn từ sự tương tác bất thường giữa các tế bào lympho T, tế bào đuôi gai, tế bào sừng, bạch cầu trung tính và các cytokine tiền viêm, dẫn đến kích hoạt trục miễn dịch Th17/Th1 [6]. Các nghiên cứu gần đây cho thấy vai trò của Th2 trong bệnh VNĐDTT với ba khám phá: (1) tỷ lệ Th1/Th2 thấp hơn so với VNTT; (2) nồng độ IL-4 và IL-10 cao hơn VNTT và người khỏe, (3) tỷ lệ IFN-γ/IL4 giảm dưới 1 [7] và tập hợp con tế bào T chiếm ưu thế sau Th2 trong các tổn thương VNĐDTT [8]. Như vậy, Th2 chiếm ưu thế trong VNĐDTT và các cytokine của Th2 (IL-4, IL-6, IL-10, IL-13) trong bệnh VNĐDTT tăng hơn các cytokine khác [8],[9],[10]. Điều trị bệnh VNĐDTT đã được Hội đồng y tế bệnh vảy nến Hoa Kỳ công bố các hướng dẫn đồng thuận điều trị và quản lý bệnh VNĐDTT.

Họ ủng hộ sử dụng cyclosporine hoặc infliximab như một liệu pháp đầu tay trong khi bệnh VNĐDTT cấp tính và không ổn định còn những trường hợp ổn định hơn thì methotrexate và acitretine là thuốc được ưu tiên [1]. Với một chiến lược điều trị bao gồm giai đoạn tấn công và giai đoạn duy trì, cùng với một chiến lược 2 dùng thuốc đơn độc-kết hợp luân chuyển và kế tiếp đã giúp cho người bệnh cải thiện được chất lượng cuộc sống ngày một tốt hơn [5]. Thực tế lâm sàng thì MTX rất hiệu quả, an toàn nếu sử dụng đúng phương pháp, đúng liều. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về bệnh VNĐDTT, về các cytokine trước điều trị nhưng chưa có nghiên cứu nào về cytokine sau điều trị.

Tại Việt Nam chưa có đề tài nào nghiên cứu về mối liên quan của các cytokine (IL-2, IL- 4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, INF- γ) trong bệnh VNĐDTT trước điều trị và sau điều trị bẳng methotrexate. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thay đổi một số cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate” với các mục tiêu sau: 1. Khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương. Xác định một số nồng độ IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, INF- γ huyết thanh của bệnh vảy nến đỏ da toàn thân trước và sau điều trị bằng methotrexate.

Đánh giá kết quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cƣơng về bệnh vảy nến đỏ da toàn thân 1. Tình hình bệnh vảy nến đỏ da toàn thân Bệnh vảy nến là bệnh viêm da mạn tính ảnh hưởng đến khoảng 2-3% dân số thế giới [11].

Bệnh vảy nến đỏ da toàn thân là một thể nặng của bệnh vảy nến. Vảy nến đỏ da toàn thân được chẩn đoán xác định ở những bệnh nhân vảy nến có tổn thương da trên 90% (có tác giả 75%) diện tích cơ thể [1]. Tại Việt Nam, hiện nay có rất ít nghiên cứu về bệnh VNĐDTT 1.Tỷ lệ mắc bệnh Theo Rasnik và cộng sự [1], vảy nến đỏ da toàn thân chiếm 1-2,25% tổng số bệnh nhân vảy nến. Tỷ lệ hàng năm thay đổi theo từng quốc gia.

Theo Goeckerman bệnh vảy nến đỏ da toàn thân chiếm 1% {trích dẫn theo [5]} Theo Huriez chiếm 6,3% tổng số bệnh vảy nến{trích dẫn theo [12]}. Theo Đăng Văn Em và công sự gặp 6,8% tổng số bệnh nhân vảy nến điều trị nội trú [5] 1.Tuổi và giới mắc bệnh Bệnh vảy nến đỏ da toàn thân được quan sát ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu là nam giới. Theo Hawilo và công sự -2011, với 60 bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân thì có 46 nam (76,7%), nữ 14 (23,3%), tuổi trung bình 53,7 [13], theo Boy và cộng sự cho thấy tỷ lệ nam nữ là 3/1 [14]. Theo Viguier và cộng sự-2012, trong 28 bệnh nhân bệnh vảy nến đỏ da toàn thân có 20 nam, 8 nữ trong đó bệnh nhân da trắng có 13, Bắc phi có 6, châu Á có 4, da đen có 2.

Tuổi trung bình bị vảy nến là 23, tuổi trung bình bị vảy nến đỏ da toàn thân là 40 [2].Tiền sử gia đình Tiền sử gia đình gặp trong bệnh vảy nến có khác nhau ở các nghiên của các tác giả chiếm từ 15-45% [1], [15]. Theo Viguier và cộng sự, tiền sử gia đình có người bị bệnh vảy nến có 9 trường, hợp chiếm 32% [2] Theo Boyd và cộng sự -1989, tiền sử gia đình chiếm 50% [14], theo Nguyễn Hữu Sáu, tiền sử gia đình chiếm 15% [16]. Bệnh kết hợp Các bệnh phối hợp trong bệnh vảy nến đỏ da toàn thân cũng giống như bệnh vảy nến thể thông thường, thường kèm theo các bệnh lupus ban đỏ hệ thống, pemphigus, bạch biến. Ngoài ra, đặc biệt bệnh vảy nến đỏ da toàn thân thường kèm theo các bệnh tăng huyết áp, xơ gan, đái tháo đường và có rối loạn chuyển hóa.

Hội chứng chuyển hóa là tập hợp một số yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, bệnh tim mạch. Theo Bhakrao và cộng sự, tỷ lệ bị bệnh suy nhược thần kinh trong những bệnh nhân vảy nến cao hơn người bình thường, thực tế phần lớn bệnh nhân vảy nến thuộc type thần kinh dễ bị kích thích, dễ cáu gắt và hay lo lắng [17]. Theo Stinco và cộng sự-2015, bệnh mày đay gặp 12%, bệnh viêm mũi dị ứng, hen phế quản gặp 14% trong tổng số bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân [18]. Bệnh vảy nến kết hợp với cao huyết áp có thể được giải thích bởi những yếu tố do dùng thuốc, ngoài ra tác động của lối sống cũng có thể được coi như liên quan đến tính chất mạn tính của bệnh.

Những yếu tố nguy cơ chính của hội chứng chuyển hóa là béo phì, kháng insulin, tăng đường huyết lúc đói, rối loạn lipid máu và tăng huyết áp. Trong đó nhiều nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới đều cho thấy rằng rối loạn lipid ở bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân nói riêng và vảy nến nói chung chiếm tỷ lệ rất cao. Rối loạn lipid là tình trạng tăng cholesterol, triglycerid máu hoặc cả hai, hoặc giảm nồng độ lipoprotein trọng lượng phân tử cao, tăng nồng độ lipoprotein trọng lượng phân tử thấp làm tăng quá trình xơ vữa động mạch. Việc 5 rối loạn lipid máu phổ biến ở các bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân cũng làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch, đặc biệt là xơ vữa động mạch.

Nghiên cứu của Viguier và cộng sự, có một bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân bị chết đột ngột nguyên nhân nghĩ nhiều đến là nhồi máu cơ tim [15]. Sinh bệnh học bệnh vảy nến đỏ da toàn thân 1. Yếu tố khởi động bệnh vảy nến đỏ da toàn thân Bệnh vảy nến thể thông thường đã có những thông tin về sinh bệnh học khá phong phú và đầy đủ còn sinh bệnh học bệnh vảy nến đỏ da toàn thân đến nay còn rất ít thông tin được công bố. Nhiều nghiên cứu lâm sàng đã chỉ ra rằng với các bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân có nhiều yếu tố kích hoạt làm phát bệnh:nhiễm khuẩn, ánh nắng, chấn thương tâm lý, nghiện rượu, bệnh hệ thống, tiếp xúc với thuốc, tiếp xúc với hóa học, đặc biệt tiền sử sử dụng cortioid đường toàn thân có thể kích hoạt nhanh chóng vảy nến thông thường thành vảy nến đỏ da toàn thân [19], [20], [21].

Các nguyên nhân kích hoạt vảy nến đỏ da toàn thân đôi khi rất khó để phân biệt kích hoạt từ các bệnh kèm theo sau vảy nến đỏ da toàn thân hay nguyên phát ban đầu. Theo Nguyễn Hữu Sáu, số lượng bệnh nhân sau dùng corticoid đường toàn thân dẫn đến vảy nến đỏ da toàn thân là 13,2%, sau dùng thuốc nam là 48,5% [16]. Một nguyên nhân quan trọng nữa là hiện tượng bật bóng sau khi dừng đột ngột thuốc ức chế miễn dịch hoặc thuốc sinh học, trong đó việc sử dụng corticoid là một trong những yếu tố thúc đẩy vảy nến thành vảy nến đỏ da toàn thân và gây nên hiện tượng nhiễm trùng nặng [22]. Các yếu tố kích hoạt bệnh vảy nến đỏ da toàn thân, được Rasnik và cộng sự-2016 xác định gồm: -Yếu tố kích hoạt môi trường được ghi nhận cháy nắng, chấn thương da, căng thẳng cảm xúc, nghiện rượu và nhiễm trùng.

-Yếu tố kích hoạt là các hóa chất: chất sử dụng chụp cắt lớp vi tính, hắc ín bôi ngoài, thuốc lá, sử dụng Bupropion. 6 -Yếu tố kích hoạt do bệnh toàn thân kết hợp: HIV, bệnh bạch cầu, u lympho tế bào T, bệnh goutte, bệnh tiền ung thư. -Yếu tố kích hoạt là thuốc: thuốc chống sốt rét, trimethoprim/sulfamethoxazole, lạm dụng cortiocoid đường toàn thân. Vai trò của miễn dịch trong bệnh vảy nến đỏ da toàn thân Sinh bệnh học bệnh đỏ da toàn thân vảy nến cho đến nay chưa được làm sáng tỏ.

Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy bệnh có liên quan tới chủ yếu là T helper 2 (Th2). Mặc dù lớp I của kháng nguyên HLA-CW6, HLA-B57, HLA- B13, và HLA-B17 có liên quan đến đột biến bệnh vảy nến thông thường và đột biến IL36RN đã được chứng minh gắn liền với bệnh vẩy nến mụn mủ nhưng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân rất ít được biết đến liên quan đến yếu tố di truyền. Li và cộng sự-2005, nghiên cứu trên 16 bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân cho thấy sự gia tăng Immunoglobulin E trong huyết thanh bệnh nhân vảy nến so với nhóm chứng với p<0,001 [36]. Sự chênh lệch này được được giải thích do sự mất cân bằng Th1/Th2.

IgE là một kháng thể do tế bào lympho B tiết ra sau tác động của Th2, cụ thể tế bào tương tác với những tế bào B và tiết IL-4 kết hợp với thụ thể bề mặt của tế bàolympho B.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Hiệu Quả Điều Trị Bệnh Vảy Nến Đỏ Da Toàn Thân Bằng Methotrexate" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của Methotrexate trong việc điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các kết quả lâm sàng mà còn nhấn mạnh những lợi ích mà phương pháp điều trị này mang lại cho bệnh nhân, từ việc giảm triệu chứng đến cải thiện chất lượng cuộc sống. Đặc biệt, tài liệu giúp người đọc hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của Methotrexate và cách thức nó tương tác với các yếu tố sinh học trong cơ thể.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị bệnh vảy nến, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả điều trị bệnh vảy nến thông thường có hội chứng chuyển hóa bằng methotrexate kết hợp với metformin, nơi nghiên cứu sự kết hợp của Methotrexate với Metformin trong điều trị bệnh vảy nến. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu thay đổi một số cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến mụn mủ bằng acitretin cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về một phương pháp điều trị khác, giúp bạn so sánh và đánh giá các lựa chọn điều trị. Cuối cùng, tài liệu Luận án nghiên cứu thay đổi một số cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến mụn mủ bằng acitretin sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của acitretin đối với các cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá để bạn có thể tìm hiểu sâu hơn về các phương pháp điều trị bệnh vảy nến.