Tổng quan luận án
Vảy nến đỏ da toàn thân (VNĐDTT) là một trong những thể lâm sàng nặng và nghiêm trọng nhất của bệnh vảy nến, chiếm tỷ lệ khoảng 1% đến 2,25% trong tổng số các thể bệnh vảy nến. Bệnh tiến triển với tổn thương ban đỏ kèm tróc vảy bao phủ trên 90% diện tích bề mặt cơ thể (một số phân loại lấy mốc trên 75%), tác động đa cơ quan, làm rối loạn hàng rào bảo vệ da, rối loạn điều hòa thân nhiệt, mất nước, rối loạn điện giải và tiềm ẩn các biến chứng đe dọa tính mạng. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc VNĐDTT có xu hướng tăng cao, ghi nhận chiếm 6,8% số bệnh nhân vảy nến điều trị nội trú, với nguyên nhân thường gặp là do lạm dụng thuốc corticoid đường toàn thân hoặc sử dụng các loại thuốc nam không rõ nguồn gốc.
Về mặt sinh bệnh học, nếu như bệnh vảy nến thông thường (VNTT) được xác định rõ là do sự kích hoạt bất thường của trục miễn dịch Th1/Th17 thì cơ chế bệnh sinh của VNĐDTT phức tạp hơn và chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có sự dịch chuyển và chiếm ưu thế của đáp ứng miễn dịch tế bào lympho T hỗ trợ type 2 (Th2) thông qua sự gia tăng các cytokine như IL-4, IL-6, IL-10, IL-13 cùng sự đảo ngược tỷ lệ Th1/Th2 và IFN-γ/IL-4. Về mặt điều trị, mặc dù các liệu pháp sinh học mới đã ra đời, methotrexate (MTX) vẫn giữ vai trò là thuốc điều trị toàn thân kinh điển được các hiệp hội da liễu quốc tế khuyến cáo. Tuy nhiên, các y văn thế giới chủ yếu tập trung khảo sát nồng độ cytokine tại thời điểm trước điều trị mà chưa đánh giá sự biến đổi của hệ thống cytokine sau can thiệp điều trị. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào khảo sát đồng bộ mối liên quan giữa 8 cytokine huyết thanh (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ) trước và sau điều trị bằng methotrexate trên bệnh nhân VNĐDTT. Do đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Phạm Thị Nga tại Viện Nghiên cứu Khoa học Y Dược Lâm sàng 108 được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể gồm ba nội dung:
- Khảo sát một số yếu tố liên quan và đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến đỏ da toàn thân điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương.
- Xác định nồng độ một số cytokine (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ) huyết thanh của bệnh vảy nến đỏ da toàn thân trước và sau điều trị bằng methotrexate.
- Đánh giá kết quả điều trị bệnh vảy nến đỏ da toàn thân bằng methotrexate.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Gồm bệnh nhân được chẩn đoán xác định VNĐDTT và nhóm người khỏe mạnh đối chứng.
- Nhóm nghiên cứu lâm sàng (Mục tiêu 1): 112 bệnh nhân VNĐDTT điều trị nội trú và ngoại trú.
- Nhóm nghiên cứu miễn dịch và điều trị (Mục tiêu 2 và Mục tiêu 3): 30 bệnh nhân VNĐDTT đủ tiêu chuẩn sử dụng MTX và 30 người khỏe mạnh làm nhóm đối chứng (tương đồng về tuổi và giới tính, không mắc bệnh tự miễn hay nhiễm trùng).
- Không gian nghiên cứu: Bệnh viện Da liễu Trung ương (thu thập lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa, huyết học và điều trị) phối hợp với Bộ môn Miễn dịch - Học viện Quân y (thực hiện định lượng cytokine bằng hệ thống Bio-Plex).
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 30/06/2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan y văn trong luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về dịch tễ, sinh bệnh học miễn dịch, biểu hiện lâm sàng và các phương pháp can thiệp đối với bệnh VNĐDTT:
Về dịch tễ học và các yếu tố khởi phát:
- Dịch tễ học quốc tế ghi nhận tỷ lệ mắc VNĐDTT dao động: Rasnik và cộng sự (2016) ghi nhận tỷ lệ 1 - 2,25%; Goeckerman ghi nhận 1%; Huriez ghi nhận 6,3%. Tại Việt Nam, Đặng Văn Em và cộng sự ghi nhận tỷ lệ 6,8% trên tổng số bệnh nhân vảy nến nội trú.
- Đặc điểm giới tính và tuổi: Hawilo và cộng sự (2011) khảo sát 60 bệnh nhân VNĐDTT cho thấy 76,7% là nam giới (46 bệnh nhân) và 23,3% là nữ giới (14 bệnh nhân), tuổi trung bình là 53,7. Boyd và cộng sự (1989) ghi nhận tỷ lệ nam/nữ là 3/1 và tiền sử gia đình chiếm 50%. Viguier và cộng sự (2012) nghiên cứu 28 bệnh nhân VNĐDTT (20 nam, 8 nữ; tuổi trung bình khởi phát vảy nến là 23, tuổi bị VNĐDTT là 40; 32% có tiền sử gia đình).
- Các yếu tố kích hoạt và bệnh kèm theo: Rasnik và cộng sự (2016) chia các yếu tố khởi phát thành 4 nhóm: môi trường (cháy nắng, căng thẳng, nghiện rượu, nhiễm trùng), hóa chất (hắc ín, thuốc lá, bupropion), bệnh toàn thân (HIV, ung thư, gout) và thuốc (chống sốt rét, trimethoprim/sulfamethoxazole, corticoid toàn thân). Nguyễn Hữu Sáu ghi nhận 13,2% bệnh nhân bị VNĐDTT sau khi dùng corticoid toàn thân và 48,5% sau dùng thuốc nam; tiền sử gia đình chiếm 15% (hoặc 6% tùy nhóm thống kê), tăng huyết áp chiếm 25%. Stinco và cộng sự (2015) ghi nhận tỷ lệ mắc kèm mày đay là 12%, viêm mũi dị ứng và hen phế quản là 14%.
Về vai trò của mạng lưới cytokine:
- Li và cộng sự (2005) nghiên cứu trên 16 bệnh nhân VNĐDTT nhận thấy sự gia tăng có ý nghĩa thống kê của IgE huyết thanh so với nhóm chứng (p < 0,001), chứng minh vai trò của các cytokine Th2 (IL-4, IL-13) kích thích tế bào lympho B chuyển lớp tổng hợp IgE.
- Deeva và cộng sự (2010) chứng minh nồng độ IL-4, IL-10, IL-2 và IFN-γ ở bệnh nhân VNĐDTT tăng cao hơn nhóm chứng khỏe mạnh và nhóm VNTT (p < 0,01), đồng thời ghi nhận sự đảo ngược tỷ lệ IFN-γ/IL-4 dưới 1,0.
- Zhang P và cộng sự (2014) khảo sát 16 bệnh nhân VNĐDTT, 20 bệnh nhân VNTT và 15 người khỏe mạnh; kết quả khẳng định nồng độ IL-4 và IL-10 ở nhóm VNĐDTT cao hơn có ý nghĩa (p < 0,05), tỷ lệ Th1/Th2 thấp hơn (p < 0,01), các tỷ số IFN-γ/IL-4 và T-bet/GATA-3 đều nhỏ hơn 1,0.
- Moy và cộng sự phát hiện tiểu quần thể Th17 chiếm ưu thế thứ hai sau Th2 trong tổn thương mô của bệnh nhân VNĐDTT. Groves và cộng sự (1995) ghi nhận nồng độ các phân tử kết dính ICAM-1, VCAM-1 và E-selectin trong huyết tương bệnh nhân VNĐDTT tăng cao hơn người khỏe mạnh.
Về hiệu quả điều trị bằng methotrexate:
- Collins và Rogers (1992) điều trị 7 bệnh nhân VNĐDTT bằng MTX liều 10 mg/tuần, đạt kết quả 4 ca rất tốt, 2 ca tốt và 1 ca không đáp ứng.
- Haustein và Rytter (2000) điều trị 36 bệnh nhân với liều tấn công 7,5 - 40 mg/tuần và liều duy trì 7,5 - 15 mg/tuần, ghi nhận 28 bệnh nhân đạt kết quả tốt và 6 bệnh nhân đạt mức trung bình.
- Van Dooren-Greebe ghi nhận 9/10 bệnh nhân đạt kết quả tốt với liều MTX 7,5 - 15 mg/tuần. Khaled và cộng sự (2012) điều trị 21 bệnh nhân với liều 5 - 7,5 mg/tuần trong 14 tháng, đạt 62% thuyên giảm hoàn toàn và 28,5% thuyên giảm một phần.
Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án:
Luận án định vị trọng tâm vào việc phân tích biến thiên đồng thời của một tổ hợp đa dạng gồm 8 cytokine huyết thanh đại diện cho các trục miễn dịch Th1 (IFN-γ, IL-2, TNF-α), Th2 (IL-4, IL-6, IL-10), Th17 (IL-17) và hóa ứng động (IL-8) trước và sau can thiệp điều trị chuẩn bằng methotrexate trong thời gian 12 tuần, qua đó làm sáng tỏ cơ chế điều hòa miễn dịch của MTX trên bệnh nhân VNĐDTT tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên lý thuyết miễn dịch bệnh học da liễu hiện đại về bệnh vảy nến:
- Thuyết miễn dịch qua trung gian tế bào lympho T: Cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến xuất phát từ sự tương tác phức tạp giữa các tế bào trình diện kháng nguyên (APC), tế bào đuôi gai, tế bào lympho T (Th1, Th2, Th17, Th22), đại thực bào, bạch cầu trung tính và tế bào sừng (keratinocyte).
- Thuyết chuyển dịch kiểu hình Th1 sang Th2: Trong thể VNĐDTT, phản ứng miễn dịch có sự ưu thế vượt trội của các cytokine Th2 (IL-4, IL-6, IL-10, IL-13), ức chế một phần đáp ứng Th1 nhưng làm tăng mẫn cảm với nhiễm khuẩn (đặc biệt là Staphylococcus aureus) và thúc đẩy phản ứng viêm toàn thân lan tỏa.
- Dược lý học methotrexate: MTX là chất đối kháng acid folic có tên khoa học là 4-amino-N10 methyl pteroylglutamic acid. Thuốc ức chế men dihydrofolate reductase, ngăn chặn sự tổng hợp acid tetrahydrofolic dẫn đến ức chế tổng hợp acid thymidylic và deoxyribonucleic acid (ADN) ở pha S của chu kỳ tế bào. Bên cạnh tác dụng ức chế phân bào của tế bào sừng, MTX có hoạt tính chống viêm thông qua việc ức chế giải phóng các cytokine tiền viêm.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu y học thực chứng, kết hợp giữa dịch tễ học lâm sàng, miễn dịch học phân tử và thử nghiệm lâm sàng can thiệp:
| Nội dung |
Mục tiêu 1 |
Mục tiêu 2 |
Mục tiêu 3 |
| Thiết kế nghiên cứu |
Tiến cứu, mô tả cắt ngang |
Tiến cứu, mô tả cắt ngang có đối chứng so sánh |
Tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng tự so sánh trước - sau |
| Quy mô mẫu |
112 bệnh nhân VNĐDTT |
30 bệnh nhân VNĐDTT (NNC) và 30 người khỏe mạnh (NĐC) |
30 bệnh nhân VNĐDTT (nhóm can thiệp MTX từ MT2) |
| Phương pháp chọn mẫu |
Chọn mẫu thuận tiện tất cả ca bệnh đủ tiêu chuẩn |
Chọn mẫu thuận tiện theo tiêu chuẩn chọn và loại trừ |
Theo dõi dọc toàn bộ 30 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu |
| Công cụ thu thập |
Bệnh án nghiên cứu in sẵn, phỏng vấn, khám lâm sàng |
Lấy máu tĩnh mạch (3ml), tách huyết thanh, bảo quản -80°C |
Thang điểm PASI (PASI-50, 75, 90), xét nghiệm công thức máu, gan, thận |
Tiêu chuẩn chẩn đoán, lựa chọn và loại trừ
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Dựa theo hướng dẫn lâm sàng của Gudjonsson và cộng sự (2008). Lâm sàng có tổn thương đỏ da tróc vảy chiếm ≥ 90% diện tích bề mặt cơ thể, phần lớn có tiền sử VNTT chuyển sang. Mô bệnh học áp dụng cho các ca khó (thâm nhiễm lympho và bạch cầu ái toan quanh mạch, giãn mao mạch chân bì, tăng sừng, á sừng, vi áp xe Munro).
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân được chẩn đoán xác định VNĐDTT, tuổi > 12, đồng ý tham gia nghiên cứu. Đối với nhóm dùng MTX (Mục tiêu 2 và 3), bệnh nhân không có chống chỉ định sử dụng MTX.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân dưới 12 tuổi; các thể vảy nến khác; có chống chỉ định dùng MTX (suy gan, suy thận, bệnh lý cơ quan tạo máu, nghiện rượu, nhiễm trùng cấp hoặc mạn tính, HIV, ung thư, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, tiền sử dị ứng với MTX); bệnh nhân không tuân thủ phác đồ điều trị 12 tuần.
Quy trình kỹ thuật và can thiệp
- Phác đồ can thiệp MTX: Sử dụng methotrexate dạng viên nén 2,5 mg.
- Tuần đầu tiên: Dùng liều thử 7,5 mg/tuần (uống 1 lần hoặc chia 3 lần trong 36 giờ). Thực hiện xét nghiệm kiểm tra công thức máu, chức năng gan (AST, ALT), chức năng thận (ure, creatinin) sau 3 ngày.
- Từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 12: Nếu không có độc tính, điều chỉnh liều theo thể trọng: bệnh nhân < 50 kg dùng liều 10 mg/tuần; bệnh nhân ≥ 50 kg dùng liều 15 mg/tuần.
- Kỹ thuật xét nghiệm cytokine:
- Sử dụng hệ thống Bio-Plex (Bio-Rad, Mỹ) với nguyên lý hạt huỳnh quang gắn kháng thể đơn dòng đặc hiệu (Luminex xMAP technology), phát hiện đồng thời nhiều cytokine trong cùng một mẫu huyết thanh.
- Bộ kit Bio-Rad định lượng 7 cytokine: IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, TNF-α, IFN-γ.
- Bộ kit Sigma (Mỹ) định lượng IL-17 và IL-23.
- Xử lý số liệu: Sử dụng các thuật toán thống kê y học chuyên ngành, so sánh các biến định lượng bằng kiểm định tham số hoặc phi tham số phù hợp, đánh giá mối tương quan giữa nồng độ cytokine với chỉ số diện tích và độ nặng vảy nến (PASI).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 1 trình bày toàn diện cơ sở lý luận về bệnh vảy nến đỏ da toàn thân và thuốc điều trị methotrexate qua các khía cạnh:
- Đại cương và dịch tễ học: Khái quát tỷ lệ hiện mắc VNĐDTT trên thế giới và tại Việt Nam. Phân tích các yếu tố thúc đẩy bệnh khởi phát như stress, nhiễm khuẩn, bỏng nắng, hiện tượng bùng phát dữ dội (rebound) do ngừng đột ngột thuốc ức chế miễn dịch hoặc do lạm dụng corticoid đường toàn thân và thuốc đông y không rõ nguồn gốc.
- Đặc điểm lâm sàng và thể bệnh: Mô tả hai thể lâm sàng kinh điển:
- Thể khô (Psoriasis universalis): Da đỏ tróc vảy khô toàn thân, bong vảy lá sau khi ngủ dậy, toàn trạng ít bị ảnh hưởng nặng nề, còn các đảo da lành hoặc dấu hiệu cạo vảy Brocq dương tính, đáp ứng điều trị thuận lợi sau 2 - 3 tuần.
- Thể phù nề, ẩm ướt: Nền da đỏ tươi, phù nề, căng bóng, rớm dịch, trợt loét tại các nếp gấp kẽ, đau rát dữ dội, thường kèm bội nhiễm tụ cầu khuẩn, triệu chứng toàn thân nặng nề (sốt cao, rét run, rối loạn nước điện giải, hạ protein máu, nguy cơ suy tim cung lượng cao), tiên lượng dè dặt.
- Mô bệnh học và chẩn đoán phân biệt: Phân tích tổn thương mô học (dày sừng, á sừng, mất lớp hạt, tăng gai, thâm nhiễm tế bào viêm quanh mạch máu chân bì). Hướng dẫn chẩn đoán phân biệt với đỏ da toàn thân do dị ứng thuốc, đỏ da toàn thân trong hội chứng Sézary/Mycosis fungoides và đỏ da bong vảy do vi khuẩn.
- Vai trò của mạng lưới cytokine: Tổng quan chi tiết chức năng từng cytokine trong sinh bệnh học vảy nến:
| Tên Cytokine |
Nguồn gốc tế bào chính |
Vai trò sinh học trong bệnh vảy nến |
| IFN-γ |
Th1, NK, tế bào tua |
Tăng di chuyển tế bào miễn dịch đến da, ức chế chết theo chương trình của tế bào sừng, kích thích sản sinh IL-1, IL-6, IL-8, TNF-α. |
| TNF-α |
Th1, Th17, đại thực bào, keratinocyte |
Tăng sinh tế bào lympho tại chỗ, kích thích APCs tiết IL-23, tăng biểu hiện phân tử kết dính ICAM-1, thu hút bạch cầu. |
| IL-2 |
Th1, tế bào NK |
Biệt hóa và tăng sinh tế bào T hiệu ứng, tăng cường hóa ứng động bạch cầu, liên quan đến cơ chế gây ngứa. |
| IL-4 & IL-13 |
Th2, tế bào mast, bạch cầu ái toan |
Cytokine chủ đạo của Th2, kích hoạt tế bào B chuyển lớp tổng hợp kháng thể IgE, điều hòa miễn dịch dịch thể. |
| IL-6 |
Đại thực bào, tế bào nội mô, Th2 |
Cytokine tiền viêm pha cấp, tham gia kích hoạt dòng tế bào Th17, ức chế tế bào T điều hòa (Treg). |
| IL-8 |
Tế bào sừng, đại thực bào |
Hóa ứng động và hoạt hóa bạch cầu trung tính, thúc đẩy tăng sinh keratinocyte và tân tạo mạch máu. |
| IL-10 |
Th2, tế bào T điều hòa |
Kích thích tăng sinh tế bào B, thúc đẩy miễn dịch dịch thể, đóng vai trò điều hòa phản ứng viêm. |
| IL-17 (IL-17A) |
Tế bào Th17 |
Gây thâm nhiễm tế bào viêm, phối hợp với IL-22 gây viêm thượng bì, trung bì và kích thích hóa ứng động bạch cầu. |
| IL-23 |
Tế bào tua, đại thực bào |
Duy trì sự sống và hoạt hóa dòng Th17, kích thích sản xuất IL-17 và IL-22 tạo trục bệnh sinh then chốt IL-23/Th17. |
- Dược lý lâm sàng của methotrexate: Trình bày cấu trúc hóa học, dược động học (hấp thu tối đa sau 1 - 2 giờ, thời gian bán hủy 6 - 8 giờ, 65 - 80% đào thải nguyên vẹn qua nước tiểu trong 12 giờ đầu), liều dùng, chỉ định, chống chỉ định, các tác dụng không mong muốn (trên hệ huyết học, tiêu hóa, gan, thận) và phác đồ xử trí ngộ độc cấp bằng Leucovorin (acid folinic).
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận khoa học, phương thức thực hiện và quản lý chất lượng nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu: Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn 112 bệnh nhân cho Mục tiêu 1, cách ghép cặp tương đồng tuổi và giới tính cho 30 người đối chứng khỏe mạnh và 30 bệnh nhân VNĐDTT cho Mục tiêu 2 và Mục tiêu 3.
- Vật liệu nghiên cứu: Nêu rõ xuất xứ của thuốc Methotrexate viên nén 2,5 mg (Công ty Dược phẩm Trung ương I nhập khẩu), bộ sinh phẩm hóa chất Bio-Plex Pro Human Cytokine 7-plex Assay của hãng Bio-Rad (Mỹ) và bộ kit xét nghiệm IL-17, IL-23 của hãng Sigma (Mỹ).
- Kỹ thuật thu thập và đánh giá:
- Thang điểm PASI: Đánh giá độ nặng tổn thương da dựa trên 4 vùng cơ thể (đầu mặt cổ 10%, chi trên 20%, thân mình 30%, chi dưới 40%) với 3 tiêu chí (đỏ da, dày sừng, tróc vảy) theo thang điểm từ 0 đến 4.
- Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị: PASI-50 (giảm ≥ 50% điểm PASI), PASI-75 (giảm ≥ 75% điểm PASI), PASI-90 (giảm ≥ 90% điểm PASI so với trước điều trị).
- Thu thập và lưu trữ mẫu máu: Máu tĩnh mạch được lấy vào buổi sáng lúc đói, ly tâm tách huyết thanh trong vòng 2 giờ, chia ống cryotube và bảo quản liên tục ở nhiệt độ -80°C tại Bộ môn Miễn dịch - Học viện Quân y cho đến khi chạy máy đồng loạt.
- Đạo đức nghiên cứu: Đề tài thông qua hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, bệnh nhân được giải thích đầy đủ quyền lợi, rủi ro và tự nguyện ký biên bản đồng thuận tham gia.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 trình bày các số liệu phát hiện lâm sàng, miễn dịch và hiệu quả điều trị qua 35 bảng số liệu thống kê:
- Đặc điểm lâm sàng và dịch tễ của 112 bệnh nhân VNĐDTT:
- Phân bố theo tuổi đời, tuổi khởi phát vảy nến, thời gian chuyển từ VNTT sang thể VNĐDTT.
- Tỷ lệ các yếu tố thúc đẩy: Tiền sử dùng corticoid đường toàn thân, sử dụng thuốc đông y gia truyền, nhiễm trùng, stress tâm lý.
- Triệu chứng lâm sàng: Tỷ lệ thể khô chiếm ưu thế tuyệt đối so với thể phù nề ẩm ướt; tỷ lệ tổn thương móng (dày móng, ly móng, xuất huyết dưới móng, rỗ móng); các triệu chứng cơ năng (ngứa, đau rát da, cảm giác ớn lạnh); tổn thương dày sừng lòng bàn tay, bàn chân.
- Nồng độ các cytokine huyết thanh trước điều trị:
- So sánh nồng độ 8 cytokine (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ) giữa nhóm bệnh nhân VNĐDTT (30 ca) và nhóm đối chứng người khỏe mạnh (30 ca). Kết quả ghi nhận nồng độ các cytokine Th2 (IL-4, IL-10), Th1 (IFN-γ, TNF-α, IL-2) và Th17 (IL-17, IL-6, IL-8) ở nhóm bệnh đều tăng cao rõ rệt so với người bình thường.
- Mối liên quan giữa nồng độ từng cytokine với điểm số PASI, thời gian mắc bệnh, tuổi đời và giới tính của bệnh nhân.
- Biến đổi nồng độ cytokine sau 12 tuần điều trị bằng methotrexate:
- So sánh nồng độ các cytokine của nhóm bệnh trước và sau điều trị: Ghi nhận sự sụt giảm nồng độ của hầu hết các cytokine tiền viêm và cytokine miễn dịch sau liệu trình MTX.
- So sánh nồng độ cytokine của bệnh nhân sau điều trị với nhóm đối chứng người khỏe mạnh để đánh giá mức độ phục hồi miễn dịch.
- Kết quả điều trị và tính an toàn của methotrexate:
- Sự cải thiện điểm số PASI qua các mốc thời gian: Sau 1 tháng, sau 2 tháng và sau 3 tháng điều trị.
- Tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng PASI-50, PASI-75 và PASI-90 tại tuần thứ 12.
- Đánh giá các tác dụng không mong muốn: Tác dụng phụ lâm sàng (buồn nôn, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa, rụng tóc, ngứa) và biến đổi cận lâm sàng (tăng men gan AST/ALT, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thay đổi chức năng thận ure/creatinin).
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích, biện giải và đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với các công trình y văn trong và ngoài nước:
- Biện giải về lâm sàng và yếu tố liên quan: Phân tích cơ chế bệnh sinh dẫn đến sự bùng phát VNĐDTT từ VNTT do lạm dụng corticoid đường tiêm/uống và thuốc đông y chứa hoạt chất ức chế miễn dịch không kiểm soát. Biện giải về tỷ lệ tổn thương móng cao và sự chiếm ưu thế của thể khô trong điều kiện khí hậu và thể tạng bệnh nhân Việt Nam.
- Biện giải về vai trò và sự biến đổi mạng lưới cytokine:
- Phân tích hiện tượng tăng đồng thời cả cytokine Th1, Th2 và Th17, nhưng nhấn mạnh sự vượt trội của đáp ứng Th2 (IL-4, IL-10) giải thích cho tình trạng suy giảm đề kháng bề mặt, tăng nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn và tăng nồng độ IgE huyết thanh.
- Đối chiếu kết quả nồng độ cytokine trước điều trị với nghiên cứu của Zhang P và cộng sự (2014), Deeva và cộng sự (2010), Li và cộng sự (2005).
- Phân tích cơ chế tác động của methotrexate: MTX không chỉ ức chế phân bào của tế bào biểu bì sừng mà còn điều hòa giảm biểu hiện của các cytokine Th1, Th2, Th17, giúp tái lập cân bằng nội môi miễn dịch.
- Đánh giá hiệu quả lâm sàng và độ an toàn của MTX:
- So sánh tỷ lệ đáp ứng PASI với các nghiên cứu của Haustein và Rytter (2000), Collins và Rogers (1992), Khaled và cộng sự (2012).
- Bàn luận về tính tương thích của phác đồ MTX liều 10 - 15 mg/tuần: Đạt hiệu quả kiểm soát tổn thương da tốt, tỷ lệ đáp ứng PASI-75 cao sau 12 tuần trong khi các biến cố bất lợi về gan, thận và tủy xương ở mức độ nhẹ, kiểm soát được và có thể hồi phục.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án cung cấp các số liệu định lượng về nồng độ của 8 cytokine huyết thanh (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ) trên bệnh nhân VNĐDTT tại Việt Nam bằng kỹ thuật multiplex Bio-Plex.
- Chứng minh trên thực nghiệm lâm sàng rằng bệnh sinh của VNĐDTT có sự tham gia đồng thời của nhiều trục miễn dịch, trong đó đáp ứng Th2 (đại diện là IL-4, IL-10) đóng vai trò then chốt cùng với sự tham gia của các cytokine tiền viêm Th1 và Th17.
- Là công trình đầu tiên tại Việt Nam đánh giá sự thay đổi động học của 8 cytokine trước và sau điều trị bằng methotrexate, chứng minh MTX có tác dụng ức chế và điều hòa mạng lưới cytokine huyết thanh song hành với sự cải thiện triệu chứng lâm sàng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng
- Cung cấp bức tranh toàn diện về đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và các yếu tố nguy cơ của bệnh nhân VNĐDTT điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, cảnh báo nguy cơ chuyển thể nặng do lạm dụng corticoid và thuốc đông y.
- Khẳng định tính hiệu quả, độ an toàn và tính khả thi của phác đồ điều trị methotrexate đường uống (liều thử 7,5 mg/tuần, duy trì 10 - 15 mg/tuần trong 12 tuần) đối với bệnh nhân VNĐDTT. Phác đồ này phù hợp với điều kiện kinh tế và hệ thống y tế thực tế tại Việt Nam.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh vảy nến về sự nguy hiểm của việc tự ý sử dụng thuốc corticoid đường toàn thân và thuốc đông y không rõ nguồn gốc.
- Đưa xét nghiệm định lượng cytokine vào hỗ trợ đánh giá mức độ hoạt động miễn dịch trong các thể vảy nến nặng khi có điều kiện.
- Khuyến cáo áp dụng phác đồ methotrexate theo dõi chặt chẽ lâm sàng và xét nghiệm chức năng gan, thận, công thức máu định kỳ để điều trị thể vảy nến đỏ da toàn thân ổn định.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Quy mô mẫu nghiên cứu đánh giá cytokine và can thiệp điều trị còn ở mức 30 bệnh nhân do VNĐDTT là thể bệnh hiếm gặp và tiêu chuẩn lựa chọn/loại trừ của phác đồ MTX chặt chẽ.
- Thời gian theo dõi dọc can thiệp dừng lại ở mốc 12 tuần (3 tháng), chưa đánh giá được tỷ lệ tái phát và hiệu quả duy trì sau khi ngừng thuốc hoặc giảm liều MTX kéo dài.
- Luận án chỉ định lượng cytokine trong huyết thanh ngoại vi, chưa tiến hành định lượng đồng thời nồng độ cytokine và nhuộm hóa mô miễn dịch trực tiếp trên mảnh sinh thiết mô da tổn thương.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để theo dõi hiệu quả dài hạn và tỷ lệ duy trì lui bệnh sau 6 tháng đến 1 năm.
- Nghiên cứu kết hợp định lượng cytokine trong mô da và dịch kẽ tổn thương để so sánh tương quan với nồng độ huyết thanh.
- Khảo sát mở rộng thêm các cytokine mới thuộc trục IL-23/IL-17 (như IL-22, IL-23, IL-36) và đánh giá so sánh hiệu quả điều hòa miễn dịch giữa methotrexate với các thuốc sinh học kháng IL-17, kháng IL-23.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong lĩnh vực Da liễu và Miễn dịch học lâm sàng:
- Đối với bác sĩ chuyên khoa Da liễu và học viên sau đại học: Cung cấp tài liệu tra cứu về phác đồ sử dụng methotrexate, cách theo dõi độc tính, các bước xử trí tác dụng phụ và thang điểm PASI ứng dụng trên thể đỏ da toàn thân.
- Đối với các nhà nghiên cứu Miễn dịch học: Cung cấp số liệu tham chiếu về nồng độ các cytokine (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, IL-17, TNF-α, IFN-γ) ở người Việt Nam khỏe mạnh và bệnh nhân mắc bệnh viêm da mạn tính.
- Đối với các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Là cơ sở dữ liệu thực tiễn để tăng cường quản lý việc kê đơn corticoid và cảnh báo hiểm họa của các sản phẩm thuốc không rõ nguồn gốc lưu hành tự do.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định bệnh vảy nến đỏ da toàn thân được luận án áp dụng là gì?
Luận án áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán theo hướng dẫn của Gudjonsson và cs (2008). Bệnh nhân được chẩn đoán xác định VNĐDTT khi có tổn thương dát đỏ viêm kèm bong vảy bao phủ từ 90% diện tích bề mặt cơ thể trở lên (một số tác giả tính từ 75%), thường có tiền sử mắc bệnh vảy nến thông thường trước đó chuyển thành. Đối với các ca khó, chẩn đoán dựa trên kết quả mô bệnh học với hình ảnh thâm nhiễm lympho quanh mạch, giãn mao mạch chân bì, tăng sừng, á sừng và vi áp xe Munro.
2. Phác đồ sử dụng methotrexate điều trị cho bệnh nhân trong nghiên cứu được tiến hành cụ thể như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng thuốc methotrexate viên nén 2,5 mg với quy trình can thiệp 12 tuần:
- Tuần 1: Dùng liều thử 7,5 mg/tuần. Sau 3 ngày, tiến hành xét nghiệm kiểm tra công thức máu, men gan (AST, ALT) và chức năng thận (ure, creatinin).
- Tuần 2 đến tuần 12: Nếu không phát hiện độc tính bất thường, điều chỉnh liều theo cân nặng: bệnh nhân dưới 50 kg dùng liều 10 mg/tuần; bệnh nhân từ 50 kg trở lên dùng liều 15 mg/tuần, uống vào một ngày cố định trong tuần hoặc chia liều trong 36 giờ.
3. Tại sao nghiên cứu lại tập trung vào các cytokine của dòng tế bào Th2 thay vì chỉ nghiên cứu Th1/Th17 như trong vảy nến thông thường?
Trong khi vảy nến thông thường chủ yếu do trục miễn dịch Th1/Th17 chi phối, các bằng chứng khoa học gần đây chỉ ra rằng trong thể VNĐDTT có sự dịch chuyển miễn dịch rõ rệt sang kiểu hình Th2. Nồng độ các cytokine Th2 (đặc biệt là IL-4 và IL-10) tăng cao hơn hẳn so với người khỏe mạnh và bệnh nhân VNTT, tỷ lệ IFN-γ/IL-4 đảo ngược dưới 1,0, dẫn đến tăng tổng hợp IgE và làm suy yếu hàng rào bảo vệ chống vi khuẩn của da.
4. Kỹ thuật xét nghiệm nào được tác giả sử dụng để định lượng đồng thời 8 cytokine trong huyết thanh?
Tác giả sử dụng hệ thống Bio-Plex (Bio-Rad, Mỹ) dựa trên công nghệ hạt huỳnh quang gắn kháng thể đơn dòng (Luminex xMAP technology). Kỹ thuật này cho phép phát hiện và định lượng đồng thời 7 cytokine (IL-2, IL-4, IL-6, IL-8, IL-10, TNF-α, IFN-γ) trong cùng một thể tích mẫu huyết thanh nhỏ bằng bộ sinh phẩm Bio-Plex Pro Human Cytokine 7-plex Assay, kết hợp với bộ kit xét nghiệm IL-17 và IL-23 của hãng Sigma.
5. Các tác dụng không mong muốn chính của methotrexate được luận án ghi nhận và theo dõi là gì?
Nghiên cứu theo dõi chặt chẽ cả triệu chứng lâm sàng và các chỉ số cận lâm sàng:
- Lâm sàng: Buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn, rối loạn tiêu hóa, rụng tóc, ngứa và đau đầu.
- Cận lâm sàng: Độc tính trên hệ tạo máu (giảm số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu), độc tính trên gan (tăng men gan SGOT/AST, SGPT/ALT) và thay đổi chức năng bài tiết của thận (tăng ure, creatinin huyết thanh).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Phạm Thị Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu, giải quyết trọn vẹn ba mục tiêu về đặc điểm lâm sàng, sự biến đổi nồng độ 8 cytokine huyết thanh và hiệu quả điều trị của methotrexate trên bệnh nhân vảy nến đỏ da toàn thân tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ vai trò quan trọng của mạng lưới cytokine trong cơ chế bệnh sinh của thể bệnh nặng này, khẳng định sự tham gia nổi bật của đáp ứng miễn dịch Th2 bên cạnh trục Th1 và Th17. Đồng thời, công trình chứng minh tính hiệu quả và độ an toàn của phác đồ điều trị methotrexate đường uống trong 12 tuần, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc chuẩn hóa phác đồ điều trị vảy nến đỏ da toàn thân tại các cơ sở chuyên khoa da liễu.