Luận án nghiên cứu xây dựng mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ bằng natri valproat và tác dụng cải thiện hành vi của môi trường phong phú trên chuột nhắt trắng

Nghiên cứu mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ trên chuột nhắt trắng với natri valproat và tác động của môi trường phong phú đến hành vi.

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Sinh lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
165
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Khái niệm và sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh tự kỷ

2.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tự kỷ

2.3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

2.3.1. Yếu tố di truyền

2.3.2. Yếu tố môi trường

2.3.3. Sự tương tác giữa yếu tố di truyền và yếu tố môi trường

2.3.4. Thay đổi sinh học thần kinh

2.4. Các phương pháp gây mô hình bệnh tự kỷ

2.4.1. Mô hình gây tổn thương não

2.4.2. Mô hình di truyền bệnh tự kỷ

2.4.3. Mô hình các yếu tố môi trường trong bệnh tự kỷ

2.5. Các bài tập đánh giá hành vi động vật gây mô hình bệnh tự kỷ

2.5.1. Bài tập đánh giá tương tác xã hội

2.5.2. Bài tập đánh giá sự giao tiếp, thông tin liên lạc

2.5.3. Bài tập đánh giá hành vi lặp lại

2.5.4. Bài tập đánh giá các triệu chứng liên quan

2.6. Phương pháp điều trị bệnh tự kỷ

2.6.1. Nguyên tắc điều trị

2.6.2. Can thiệp về hành vi

2.6.3. Trị liệu ngôn ngữ

2.6.4. Thuốc điều trị tự kỷ

2.7. Tác dụng của môi trường phong phú lên hành vi động vật gây mô hình bệnh tự kỷ

2.8. Nghiên cứu về bệnh tự kỷ tại Việt Nam

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.3. Thiết kế nghiên cứu

3.4. Phương tiện và hóa chất

3.5. Quy trình nghiên cứu

3.6. Xử lý số liệu

3.7. Địa điểm nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Xây dựng mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ trên chuột nhắt trắng chủng Swiss bằng tiêm natri valproat trước sinh

4.2. Ảnh hưởng của phơi nhiễm natri valproat trước sinh đến các hành vi

4.2.1. Ảnh hưởng đến sự phát triển phối hợp vận động, thăng bằng trong bài tập trên mặt phẳng nghiêng

4.2.2. Ảnh hưởng đến giao tiếp bằng phát âm siêu âm

4.2.3. Ảnh hưởng đến hoạt động vận động há phá trong môi trường mở

4.2.4. Ảnh hưởng đến hoạt động tương tác xã hội trong mê lộ ba buồng

4.2.5. Ảnh hưởng đến hành vi liên quan đến lo lắng trong bài tập mê lộ chữ thập

4.2.6. Ảnh hưởng đến khả năng phối hợp vận động, thăng bằng trong bài tập trên rotarod

4.2.7. Ảnh hưởng đến khả năng học tập và trí nhớ không gian trong mê lộ nước

4.3. Tác dụng của môi trường phong phú lên hành vi trên chuột nhắt đã gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ

4.3.1. Ảnh hưởng của natri valproat liều 500 mg/kg cân nặng lên hành vi trên chuột nhắt trước khi nuôi trong môi trường phong phú

4.3.2. Tác dụng của môi trường phong phú lên hành vi trên chuột nhắt được gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ bằng phơi nhiễm natri valproat trước sinh liều 500 mg/kg cân nặng

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Bệnh tự kỷ là một rối loạn phát triển phức tạp, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp và tương tác xã hội. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động của natri valproatmôi trường phong phú lên hành vi của chuột nhắt trắng mắc bệnh tự kỷ. Natri valproat được biết đến như một tác nhân gây ra các bất thường phát triển, trong khi môi trường phong phú có thể cải thiện hành vi và chức năng não bộ. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xây dựng mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ và đánh giá tác động của môi trường phong phú lên hành vi của chuột nhắt trắng.

II. Tác động của natri valproat

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng natri valproat có tác động tiêu cực đến sự phát triển hành vi của chuột nhắt trắng. Các thí nghiệm cho thấy chuột phơi nhiễm với natri valproat trước sinh có biểu hiện hành vi tương tự như trẻ mắc bệnh tự kỷ, bao gồm sự giảm khả năng giao tiếp và tương tác xã hội. Cụ thể, chuột trong nhóm phơi nhiễm cho thấy sự giảm sút trong các bài tập đánh giá hành vi xã hội và khả năng phối hợp vận động. Điều này cho thấy tác động của natri valproat không chỉ ảnh hưởng đến hành vi mà còn đến sự phát triển thần kinh của động vật.

2.1. Hành vi xã hội

Hành vi xã hội của chuột nhắt trắng bị ảnh hưởng rõ rệt khi phơi nhiễm với natri valproat. Các thí nghiệm trong mê lộ ba buồng cho thấy chuột phơi nhiễm có thời gian và số lần tương tác xã hội thấp hơn so với nhóm chứng. Điều này cho thấy tác động của natri valproat có thể dẫn đến sự giảm khả năng giao tiếp và tương tác xã hội, một trong những đặc điểm chính của bệnh tự kỷ.

2.2. Hành vi lặp lại

Chuột nhắt trắng phơi nhiễm với natri valproat cũng thể hiện hành vi lặp lại nhiều hơn. Các bài tập đánh giá hành vi lặp lại cho thấy sự gia tăng trong các hành vi không thích hợp, điều này tương đồng với các triệu chứng của bệnh tự kỷ. Sự gia tăng này có thể liên quan đến sự thay đổi trong cấu trúc não bộ do natri valproat gây ra.

III. Tác động của môi trường phong phú

Môi trường phong phú đã được chứng minh là có tác dụng tích cực lên hành vi của chuột nhắt trắng mắc bệnh tự kỷ. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc nuôi dưỡng trong môi trường phong phú giúp cải thiện khả năng giao tiếp và tương tác xã hội của chuột. Sự đa dạng trong môi trường sống kích thích hoạt động não bộ, từ đó cải thiện hành vi. Kết quả cho thấy chuột được nuôi trong môi trường phong phú có sự cải thiện rõ rệt trong các bài tập đánh giá hành vi xã hội và khả năng học tập.

3.1. Cải thiện hành vi xã hội

Chuột nhắt trắng được nuôi trong môi trường phong phú cho thấy sự gia tăng trong các hành vi xã hội. Các thí nghiệm cho thấy thời gian tương tác xã hội của chuột trong môi trường này cao hơn so với nhóm chuột nuôi trong môi trường chuẩn. Điều này cho thấy tác động của môi trường phong phú có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh tự kỷ.

3.2. Tăng cường khả năng học tập

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng môi trường phong phú có tác dụng tích cực đến khả năng học tập của chuột. Các bài kiểm tra trí nhớ không gian cho thấy chuột trong môi trường phong phú có khả năng tìm kiếm bến đỗ tốt hơn. Điều này cho thấy rằng việc cải thiện môi trường sống có thể là một phương pháp can thiệp hiệu quả cho những cá thể mắc bệnh tự kỷ.

IV. Kết luận

Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng natri valproat có tác động tiêu cực đến hành vi của chuột nhắt trắng, trong khi môi trường phong phú có thể cải thiện các hành vi này. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng đi mới trong việc tìm kiếm các phương pháp can thiệp cho bệnh tự kỷ, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường sống trong việc phát triển hành vi và chức năng não bộ. Việc áp dụng các biện pháp can thiệp dựa trên môi trường có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người mắc bệnh tự kỷ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển tâm thần lan tỏa, xuất hiện sớm trong ba năm đầu đời, kéo dài trong cuộc sống, đặc trưng ởi sự suy giảm khả năng hòa nhập xã hội, suy giảm khả năng giao tiếp, có những hành vi rập khuôn, lặp lại và những quan tâm mang tính hạn hẹp [1],[2]. Bệnh xuất hiện liên quan đến các yếu tố di truyền, sinh học, môi trường và sự tương tác giữa gen và môi trường [3]. Tuy nhiên, nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh tự kỷ vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ. Hiện nay, tự kỷ được coi là căn ệnh của xã hội hiện đại với tỷ lệ mắc tăng lên nhanh chóng ở tất cả các quốc gia [1].

Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa bệnh tật (CDC), tỷ lệ tự kỷ chung trên thế giới trước năm 1985 là 0,5/1000 trẻ, đến năm 2012 đã là 12/1000 trẻ [1]. Do chưa c phương pháp điều trị khỏi, các biện pháp can thiệp chỉ có tác dụng hỗ trợ, nên bệnh trở thành gánh nặng đối với trẻ tự kỷ và gia đình của trẻ, cũng như mối quan tâm của toàn xã hội. Nhiều nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học cho thấy những trẻ phơi nhiễm với valproat (VPA) trong bụng mẹ biểu hiện các bất thường phát triển gọi chung là “hội chứng valproat thai nhi” và c liên quan đến làm tăng nguy cơ ị rối loạn phổ tự kỷ [4],[5],[6]. Trên động vật thực nghiệm, phơi nhiễm trong thai kỳ với valproat cũng dẫn đến những thay đổi hành vi và bệnh học ở con non tương tự như quan sát được trên bệnh nhân tự kỷ.

Do đ valproat là một chất được dùng gây mô hình bệnh tự kỷ trên động vật thực nghiệm để tìm hiểu cơ chế của những thay đổi sinh học liên quan đến rối loạn phổ tự kỷ cũng như đánh giá hiệu quả của các phương pháp can thiệp đối với chứng bệnh này [7],[8],[9]. Môi trường phong phú (MTPP) d ng cho nghiên cứu trong phòng thí nghiệm là môi trường nuôi với nhiều vật thể đa dạng về hình dáng, cấu trúc và công dụng, tạo sự phức tạp hơn so với các điều kiện nuôi thông dụng của phòng thí nghiệm, c thể kích thích nhiều hoạt động của động vật. MTPP 2 được cho là có ảnh hưởng đến nhiều chức năng của não bộ, tăng cường tính dẻo của synap, phát triển nhận thức, hành vi và cải thiện mô bệnh học sau các tổn thương não, do đ được gợi là cơ sở cho các liệu pháp điều trị các bệnh rối loạn phát triển tâm - thần kinh, trong đ c rối loạn phổ tự kỷ [10],[11],[12]. Ở Việt Nam, cho đến nay, các nghiên cứu về bệnh tự kỷ thường quan tâm về khía cạnh dịch tễ học và đặc điểm lâm sàng.

Những nghiên cứu về mô hình bệnh tự kỷ trên động vật thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp trên mô hình vẫn còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện đề tài này với hai mục tiêu: 1. Xây dựng mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ trên chuột nhắt trắng chủng Swiss bằng tiêm natri valproat trước sinh. Đánh giá tác dụng của môi trường phong phú lên hành vi trên chuột nhắt được gây mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu bệnh tự kỷ Bệnh tự kỷ lần đầu tiên được đề cập đến từ những năm 1900, nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Autos” – “tự thân”, mô tả những bệnh nhân có biểu hiện cô lập, rút lui khỏi xã hội. Năm 1943, ác sĩ tâm thần nhi khoa eo Kanner đã mô tả một nhóm trẻ có những biểu hiện phát triển không ình thường như: c những khiếm khuyết về tương tác xã hội, khiếm khuyết trong quá trình phát triển ngôn ngữ, có những hành vi kỳ lạ lặp đi lặp lại nhiều lần, khởi phát sớm trước 3 tuổi, và khái niệm “tự kỷ” được ra đời từ đ [2],[13]. Năm 1944 Hans Asperger đã mô tả một dạng tự kỷ nhẹ hơn của Kanner mô tả và sau này người ta lấy tên ông đặt cho rối loạn này là “hội chứng Asperger” [2],[14].

Cho đến những năm 1960 - 1970, nhiều nghiên cứu cho rằng nguyên nhân của tự kỷ là do những thay đổi về cấu trúc lưới trong bán cầu não trái, hoặc do thay đổi về sinh hóa, chuyển hóa dẫn đến trẻ tự kỷ không có khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân, không giao tiếp được vì thiếu khả năng khái quát h a những điều cụ thể. Quan niệm này được dùng cho tới tận năm 1999 tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ ở Mỹ. Sau Hội nghị này, tự kỷ được cho rằng nên xếp vào nhóm các rối loạn phát triển lan tỏa. Theo đ , tự kỷ là một hội chứng thần kinh - hành vi gây nên các rối loạn phát triển, nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội [2].

Theo chuyên trang tự kỷ của Liên hợp quốc, tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc đời, thường xuất hiện trong a năm đầu đời. Tự kỷ là do rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ. Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội. Đặc điểm của tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ; có hành vi, sở thích và hoạt động mang tính hạn hẹp và lặp đi lặp lại [15].

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tự kỷ Hiện nay có hai hệ thống tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỷ, là “Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần” (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, DSM) của Hội Tâm thần Mỹ và “Bảng phân loại bệnh tật quốc tế” (The International Classification of Diseases, ICD) của Tổ chức Y tế Thế giới [15], [16], trong đ các tiêu chuẩn của DSM được sử dụng khá phổ biến. Trong DSM-I (1952), DSM-II (1968) chỉ đề cập đến tự kỷ như là một dạng “Tâm thần phân liệt”. Tiếp đ , trong ản DSM-III (1980), DSM-III-TR (1987) rối loạn tự kỷ bắt đầu được phân loại và có tiêu chuẩn chẩn đoán: DSM-III đề cập đến Tự kỷ trẻ em (Infantile Autism) với 6 tiêu chuẩn chẩn đoán, DSM-III-TR phát triển thành 16 tiêu chuẩn chia 3 nhóm và dùng thuật ngữ Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder, AD). Phân loại “Rối loạn phát triển lan tỏa” theo DSM-IV như sau [16]: 299.00: Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder) 299.80: Rối loạn Asperger (Asperger’s Disorder) 299.80: Rối loạn Rett (Rett’s Disorder) 299.10: Rối loạn tan rã ở trẻ em (Childhood Disintegrative Disorder, CDD) 299.80: Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu khác (Pervasive Developmental Disorders – Not Otherwise Specified, PDD-NOS).

* Tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn phổ tự kỷ theo DSM-IV-TR [17],[18]: A. Có ít nhất sáu ti u chuẩn từ ục (1) (2) và (3) trong đó có ít nhất hai tiêu chuẩn từ ục (1) và ột ti u chuẩn từ ục (2) và (3): 5 1) Khiếm khuyết về chất lượng tương tác xã hội, iểu hiện ằng ít nhất hai trong các triệu chứng sau đây: a) Khiếm khuyết rõ rệt trong việc sử dụng các hành vi giao tiếp không lời như giao tiếp mắt, thể hiện nét mặt, tư thế cơ thể và các cử chỉ nhằm điều chỉnh tương tác xã hội. b) Kém phát triển các mối quan hệ ạn è tương ứng với tuổi của trẻ. c) Thiếu tìm kiếm sự chia sẻ niềm vui, các quan tâm và kết quả đạt được với người khác (không iết khoe hoặc mang cho người khác xem những thứ mình thích).

d) Thiếu sự trao đổi qua lại về xã hội hoặc cảm xúc. 2) Khiếm khuyết về chất lượng giao tiếp, iểu hiện ằng ít nhất một trong những triệu chứng sau đây: a) Chậm hoặc hoàn toàn không phát triển ngôn ngữ n i (không cố gắng thay thế ằng các phương thức giao tiếp khác như cử chỉ, điệu ộ, nét mặt). b) Những trẻ có thể n i được thì c khiếm khuyết rõ rệt về khả năng khởi đầu và duy trì hội thoại với người khác. c) Sử dụng ngôn ngữ theo cách định hình lặp lại hoặc ngôn ngữ kỳ lạ.

d) Thiếu các trò chơi đa dạng, giả vờ hoặc ắt chước mang tính xã hội ph hợp với mức độ phát triển của trẻ. 3) Các kiểu hành vi, các ham thích, các hoạt động lặp đi lặp lại giới hạn và định hình, iểu hiện ằng ít nhất một trong những triệu chứng sau đây: a) Mối ận tâm ao tr m với một hoặc nhiều kiểu thích thú mang tính định hình ất thường cả về cường độ và mức độ tập trung. b) Bị cuốn hút rõ rệt đối với các th i quen hoặc các nghi thức hằng ngày đặc iệt, không c chức năng. c) C những cử chỉ, cử động mang tính lặp lại hoặc rập khuôn (vê hoặc xoắn vặn tay, vẫy tay hoặc ng n tay, nhảy hoặc vận động toàn cơ thể).

d) Bận tâm dai dẳng với các chi tiết của vật thể. Chậ phát triển hoặc hoạt động chức năng bất thường ở ít nhất ột trong các lĩnh vực sau đây hởi phát trước 3 tuổi: 1) Tương tác xã hội. 2) Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp xã hội. 3) Trò chơi iểu tượng hoặc tưởng tượng.

Rối oạn hông thể quy cho hội chứng Rett hay Rối oạn tan rã ở trẻ e. Trong phiên bản mới nhất hiện nay là DSM-V (2013) có một số thay đổi so với phiên bản trước đ như thay thuật ngữ ”Rối loạn phát triển lan tỏa” (PDD) bằng thuật ngữ “Rối loạn phổ tự kỷ” (ASD). Thuật ngữ ASD cũng được sử dụng chung cho tất cả các rối loạn thuộc phổ tự kỷ thay vì các tên gọi với từng loại rối loạn như trong phiên ản trước, gộp nhóm khiếm khuyết về giao tiếp và tương tác xã hội làm một, theo đ sẽ có hai nhóm tiêu chuẩn chẩn đoán thay vì a như trong DSM-IV, bổ sung triệu chứng thiếu hoặc cường cảm giác [19]. Hiện nay, có nhiều công cụ sàng lọc tự kỷ được áp dụng ở Việt Nam cho trẻ dưới 24 tháng tuổi như M-CHAT, hoặc cho trẻ lớn hơn và phân loại mức độ nặng nhẹ của bệnh như CARS, GARS [2],[17].

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Cơ chế đáng tin cậy dẫn đến tự kỷ cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ. Một số giả thuyết cho rằng các yếu tố nguyên nhân tác động trong giai đoạn phát triển nhất định dẫn đến bất thường phát triển của não bộ và sau đ là các thay đổi chức năng [20],[21].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu mô hình thực nghiệm bệnh tự kỷ trên chuột nhắt trắng với natri valproat và môi trường phong phú" của tác giả Đào Thu Hồng, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trần Hải Anh, PGS. Cấn Văn Mão và TS. Nguyễn Lê Chiến tại Học viện Quân y, tập trung vào việc nghiên cứu tác động của natri valproat và môi trường phong phú lên hành vi của chuột nhắt trắng mắc bệnh tự kỷ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế bệnh lý của tự kỷ mà còn mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và can thiệp cho những bệnh nhân mắc chứng này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị và nghiên cứu liên quan đến y học, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu chỉ số tương hợp tâm thất động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát, nơi nghiên cứu về các chỉ số y học có thể liên quan đến các bệnh lý thần kinh. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ về đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018 cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các phương pháp điều trị trong y học. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh u não tế bào thần kinh đệm ác tính sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các bệnh lý liên quan đến hệ thần kinh, từ đó có thể liên hệ với các nghiên cứu về tự kỷ.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về các vấn đề y học hiện nay.