Nghiên cứu về cytokine và hiệu quả của acitretin trong điều trị bệnh vảy nến mụn mủ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu thay đổi một số cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến mụn mủ bằng acitretin, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Da Liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Y Học

2022

156
19
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh vảy nến mụn mủ

Bệnh vảy nến mụn mủ, một thể nặng của bệnh vảy nến, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng nếu không được điều trị kịp thời. Tỷ lệ mắc bệnh khác nhau giữa các quốc gia, với Việt Nam ghi nhận khoảng 1,66% tổng số bệnh nhân vảy nến. Các yếu tố như di truyền, môi trường và các yếu tố kích hoạt như nhiễm trùng, thuốc và stress đều có thể ảnh hưởng đến sự bùng phát của bệnh. Nghiên cứu cho thấy các cytokine như IL-2, IL-6, và TNF-α có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh vảy nến mụn mủ, với sự gia tăng nồng độ cytokine này ở bệnh nhân nặng hơn.

1.1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

Bệnh vảy nến mụn mủ thường biểu hiện bằng các tổn thương da đặc trưng, bao gồm mụn mủ và vảy. Đặc điểm lâm sàng của bệnh có thể thay đổi theo từng bệnh nhân, nhưng thường thấy ở người trưởng thành từ 20 đến 70 tuổi. Các xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy sự gia tăng nồng độ của các cytokine và bạch cầu, cho thấy tình trạng viêm trong cơ thể. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới về mối liên quan giữa các cytokine và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân vảy nến mụn mủ.

II. Vai trò của cytokine trong bệnh vảy nến mụn mủ

Cytokine đóng vai trò trung tâm trong sinh bệnh học của bệnh vảy nến mụn mủ. Các cytokine như IL-17, TNF-α và INF-γ đã được xác định có sự gia tăng nồng độ ở bệnh nhân vảy nến mụn mủ so với người khỏe mạnh. Nghiên cứu cho thấy rằng các cytokine này không chỉ tham gia vào quá trình viêm mà còn có thể là những marker hữu ích trong việc theo dõi tình trạng bệnh. Việc hiểu rõ hơn về các cytokine này có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị mới và hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

2.1 Mối liên quan giữa cytokine và triệu chứng lâm sàng

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ của các cytokine như IL-6 và TNF-α có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ nghiêm trọng của triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân. Sự gia tăng nồng độ cytokine này có thể tương ứng với sự bùng phát của các triệu chứng, do đó việc theo dõi nồng độ cytokine có thể giúp bác sĩ đánh giá tình trạng bệnh và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

III. Hiệu quả của acitretin trong điều trị bệnh vảy nến mụn mủ

Acitretin, một loại retinoid tổng hợp, đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị bệnh vảy nến mụn mủ. Thuốc này giúp làm giảm nhanh chóng các triệu chứng của bệnh, bao gồm giảm mụn mủ và cải thiện tình trạng da. Nghiên cứu cho thấy rằng acitretin có tác dụng tích cực trong việc giảm nồng độ cytokine, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Tuy nhiên, cần lưu ý đến các tác dụng phụ có thể xảy ra khi sử dụng thuốc này.

3.1 Tác dụng không mong muốn của acitretin

Mặc dù acitretin có hiệu quả cao trong điều trị bệnh vảy nến mụn mủ, nhưng cũng có một số tác dụng không mong muốn như khô da, viêm niêm mạc, và rối loạn lipid máu. Việc theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ trong quá trình điều trị là cần thiết để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và tối ưu hóa hiệu quả điều trị. Các bác sĩ cần cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro khi chỉ định acitretin cho bệnh nhân.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh vảy nến mụn mủ 1. Tình hình bệnh vảy nến mụn mủ Bệnh vảy nến được mô tả đầu tiên trong y văn từ thời Hypocrate. Mặc dù trải qua thời gian có rất nhiều tên gọi khác nhau nhưng ngay từ đầu các tác giả đã mô tả các tổn thương giống như bệnh vảy nến hiện nay.

Năm 1801, Robert Willan là người đầu tiên mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh và đặt tên là Psoriasis [1]. Năm 1910, Von Zumbusch là người đầu tiên mô tả về vảy nến mụn mủ toàn thân [2]. Ở việt Nam, giáo sư Đặng Vũ Hỷ là người đầu tiên đặt tên cho bệnh là “vảy nến” [1]. Tỷ lệ bệnh vảy nến khác nhau tùy theo các nước.

Theo Habif- 2010 và các tác giả ở các quốc gia khác nhau cho thấy bệnh vảy nến chiếm từ 1% đến 3% dân số thế giới [1]. Tỷ lệ bệnh vảy nến thay đổi đáng kể theo các vùng địa dư như Đan Mạch 2,9%, Ai-xơ-len 2,8%, trung bình ở Bắc Âu là 2%, tại Mỹ từ 2,2% đến 2,6% và hàng năm có xấp xỉ 150.000 bệnh nhân vảy nến mới được phát hiện, tại Đông Phi và Tây Phi thấp hơn so với Mỹ, chỉ chiếm 1,3% và châu Á theo nghiên cứu của một số tác giả tỷ lệ thấp chỉ 0,4%. Bệnh vảy nến có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi, nhưng ít gặp dưới 10 tuổi, tuổi hay gặp nhất là từ 15 đến 30 tuổi. Theo Heseler và Christophers dựa trên cơ sở tuổi khởi phát, lịch sử gia đình và sự có mặt của các kháng nguyên HLA đã phân ra làm hai tuýp vảy nến có đặc điểm khác nhau.

Tuổi khởi phát trước 40 tuổi được gọi là khởi phát sớm có cơ địa di truyền và nếu khởi phát sau 40 tuổi gọi là khởi phát muộn, không có cơ chế di truyền. Khởi phát sau 40 tuổi là do trong quá trình sống bị tác động của nhiều yếu tố môi trường gây đột biến gen nên không có di truyền [1]. Vảy nến mụn mủ là một thể nặng của bệnh vảy nến, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến giảm protein máu và giảm can xi huyết, và ít gặp 4 trường hợp tử vong [20]. Tỷ lệ mắc bệnh vảy nến mụn mủ khác nhau tùy theo các nước và có thể thay đổi theo từng thời kỳ.

Tỷ lệ lưu hành bệnh vảy nến mụn mủ ước tính là khoảng 0,64 đến 1,8 trên một triệu người [5]. Ở Nhật Bản, tỷ lệ vảy nến mụn mủ khoảng 7,46/ 1. Bệnh thường xuất hiện ở người lớn, từ 20- 70 tuổi, ở cả nam và nữ, ít gặp ở trẻ em. Tỷ lệ nam /nữ xấp xỉ 2/3 [5].

Umezawa có khoảng 1000 bệnh nhân vảy nến mụn mủ ở Nhật Bản và có khoảng 16,5 bệnh nhân vảy nến mụn mủ toàn thân (GPP- Generalized Pustular Psoriasis) mới mỗi năm từ khắp nơi trên cả nước. Tỷ lệ này tương đối cao ở nam giới trong độ tuổi từ 60 đến 65, nhưng không có xu hướng rõ ràng về tuổi tác hay giới tính đã được ghi nhận [21]. Takahashi và cộng sự, phân tích dữ liệu bệnh nhân vảy nến ở Nhật Bản đăng ký từ 2002- 2008, có 11631 bệnh nhân vảy nến từ 152 viện da liễu. Vảy nến mụn mủ toàn thân chiếm 1,3%, vảy nến mụn mủ khu trú chiếm 0,9% trên tổng số bệnh nhân vảy nến [6].

Ở trẻ em, bệnh vảy nến mụn mủ hiếm gặp, theo Morris A và cộng sự, nghiên cứu trên 1262 ca vảy nến, vảy nến mụn mủ chiếm 0,6% của tất cả các trường hợp bệnh vảy nến ở trẻ em [18]. Ở Việt Nam, vảy nến mụn mủ chiếm 1,66% tổng số bệnh nhân vảy nến tại khoa khám bệnh và 14,63% bệnh nhân vảy nến điều trị nội trú tại Bệnh viện Da liễu Trung ương [7]. Cơ chế bệnh sinh bệnh vảy nến mụn mủ Cho đến nay đa số các tác giả đều cho rằng sinh bệnh học vảy nến nói chung và vảy nến mụn mủ rất phức tạp và còn nhiều vấn đề chưa được rõ. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng vảy nến mụn mủ có yếu tố di truyền [22], [23].

Các yếu tố liên quan như thuốc (thuốc corticoid, thuốc đông y,…), tress, nhiễm trùng, thuốc lá, … có thể gây kích hoạt hoặc bùng phát đợt vảy nến mụn mủ toàn thân [1]. Các yếu tố liên quan Các yếu tố liên quan đã được báo cáo có thể gây kích hoạt hoặc bùng phát đợt vảy nến mụn mủ toàn thân bao gồm: sử dụng corticoid và dừng corticoid đột ngột, mang thai (Impetigo Herpestiformis), nhiễm trùng, nhất là nhiễm trùng đường hô hấp trên, stress, thuốc lá, chấn thương, nhạy cảm với kim loại, các thuốc chống viêm không steroid, các thuốc khác như terbinafin [24], ustekinumab, TNFα và methotrexat [1], [4], [10], [14], [25]. - Sử dụng corticoid toàn thân trong điều trị vảy nến là nguyên nhân quan trọng của việc bùng phát đợt mụn mủ toàn thân cấp tính. Khi sử dụng corticoid toàn thân dẫn đến ức chế hệ thống viêm.

Dừng đột ngột corticoid toàn thân có thể dẫn đến một quá trình viêm cấp tính như là một kích hoạt cho vảy nến mụn mủ toàn thân. Nghiên cứu hồi cứu 102 bệnh nhân vảy nến mụn mủ toàn thân, Choon và cộng sự thấy yếu tố liên quan thường gặp nhất là sử dụng corticoid toàn thân là 44% (45/102) [4], theo Borges- Costa là 50% bệnh nhân có sử dụng corticoid tại chỗ trong tuần trước khi nhập viện [8]. - Nhiễm trùng đường hô hấp trên và các nhiễm trùng khác có thể dẫn đến tăng sinh bạch cầu trung tính, nó có thể khởi phát vảy nến mụn mủ toàn thân cấp tính. Zelickson và Muller thấy 17,5% bệnh nhân vảy nến mụn mủ có yếu tố liên quan là mắc bệnh nhiễm trùng [25].

Theo Choon và cộng sự, nhiễm trùng cấp tính là yếu tố khởi phát hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh ở 16% bệnh nhân vảy nến mụn mủ toàn thân cấp tính, với 38,5% có kết quả dương tính với kháng thể kháng liên cầu [4]. Theo Takahara, cắt amiđan có kết quả chủ quan cải thiện tình trạng bệnh ở 94% bệnh nhân và cải thiện khách quan tình trạng bệnh ở 88% bệnh nhân vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân [26]. Các nhiễm trùng khác kết hợp với vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân bao gồm nhiễm trùng răng miệng như áp xe quanh cuống, viêm nha chu và sâu răng, cũng như viêm xoang [27]. Giả thuyết nhiễm trùng đóng vai trò trung tâm làm nặng thêm tình trạng bệnh vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân 6 được củng cố bởi bằng chứng về sự cải thiện tình trạng bệnh hoặc mức độ tổn thương da với mức độ nhiễm trùng của bệnh nhân [27].

Một số nghiên cứu ở Nhật Bản đề xuất chia vảy nến mụn mủ thành hai nhóm, một nhóm bệnh nhân có tiền sử mắc vảy nến thể thông thường (Generalized Pustular Psoriasis with a history of psoriasis: Pso+GPP) và nhóm thứ hai không có tiền sử của bệnh vảy nến (Generalized Pustular Psoriasis without a history of psoriasis: Pso-GPP). Vảy nến mụn mủ toàn thân thường khởi phát sớm hơn ở nhóm bệnh nhân không có tiền sử vảy nến trước đó. Yếu tố liên quan cũng khác nhau, khởi phát của đợt mụn mủ trong nhóm Pso-GPP xảy ra thường xuyên hơn sau nhiễm trùng. Trong khi nhóm Pso+GPP xảy ra thường xuyên hơn sau điều trị corticosteroid [5].

- Stress có phải là yếu tố thuận lợi gây bệnh vảy nến, hay vảy nến góp phần gây nên stress? Nhiều công bố sử dụng các tiêu chuẩn được chuẩn hóa và phương pháp phân tích thống kê, đã cho thấy có mối tương quan chặt chẽ giữa bệnh vảy nến và stress và đã phát hiện một mối liên quan thuận chiều giữa độ nặng của các triệu chứng vảy nến và các stress tâm lý. Stress là một yếu tố làm khởi phát bệnh hoặc làm trầm trọng bệnh vảy nến đã có. Theo Choon, stress tinh thần cũng có thể gây vảy nến mụn mủ là 5% [4]. Kết quả từ bảng câu hỏi EPQ-A được cung cấp cho bệnh nhân vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân cho thấy 43% bệnh nhân thể hiện hành vi lo lắng và tâm lý rối loạn, so với chỉ 19% đối tượng nhóm chứng [28].

Những người khác đã chỉ ra rằng có tới 46% bệnh nhân báo cáo tình trạng bệnh diễn biến xấu đi trong thời kỳ căng thẳng [29]. Hiện tượng Koebner cũng có thể được liên kết với các tổn thương mới trong vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân [30]. Trong vảy nến mụn mủ lòng bàn chân tay, kích thích cơ học là thường do giày gây ra, tổn thương lòng bàn chân bệnh nhân có khuynh hướng dẫn tới khởi phát bệnh. 7 Ustekinumab, một kháng thể đơn dòng chống lại tiểu thể P40 với hai interleukin phổ biến là IL-12 và IL-23, thuốc thường được dùng để điều trị vảy nến thể mảng.

Ustekinumab có thể dẫn tới thay đổi hình thái bệnh vảy nến của bệnh nhân từ vảy nến thể mảng sang vảy nến thể mủ ngay sau tiêm mũi đầu tiên hoặc làm nặng thêm tình trạng bệnh [31]. Các loại thuốc khác như terbinafine và methotrexate cũng có thể làm khởi phát bệnh vảy nến mụn mủ toàn thân cấp tính như một dạng phản ứng dị ứng thuốc [10]. Hạ canxi huyết có thể làm khởi phát vảy nến mụn mủ, mặc dù vitamin D3 làm cải thiện bệnh vảy nến, nhưng nồng độ vitamin D3 thất thường cũng gây khởi phát bệnh [10]. Thời kỳ thai nghén có thể giúp cải thiện vảy nến thể thông thường, nhưng cũng có thể gây bùng phát hoặc làm nặng thêm vảy nến mụn mủ [9].

Hiện nay người ta đã công nhận chốc dạng herpes là một nhóm nhỏ của vảy nến mụn mủ xảy ra trong thời kỳ có thai [10]. Tỷ lệ thực sự của bệnh vảy nến mụn mủ mang thai là không rõ do hầu hết là báo cáo ca bệnh. Bệnh vảy nến mụn mủ ở thời kỳ có thai có thể ảnh hưởng đến thai nhi bao gồm suy thai, thai chết lưu, dị tật thai nhi và tử vong sơ sinh sớm. Sau sinh, bệnh giảm nhanh, tuy nhiên sự tái phát của bệnh trong thai kỳ tiếp theo là phổ biến.

Ảnh hưởng theo mùa cũng đã được chỉ ra làm khởi phát hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh vảy nến mụn mủ, ánh sáng mặt trời cường độ mạnh, bỏng nắng [1], [4], [14], điều kiện ẩm và nóng [27], [28]. Thuốc lá, dị ứng với kim loại, nhiễm trùng, chấn thương, stress, và thuốc cũng là những yếu tố liên quan đến khởi phát hoặc làm nặng tình trạng bệnh vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân [27], [10]. Thuốc lá được biết đến là một trong những yếu tố liên quan quan trọng nhất cho sự phát triển của vảy nến mụn mủ lòng bàn tay chân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về cytokine và hiệu quả của acitretin trong điều trị bệnh vảy nến mụn mủ" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hoài, dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Vân và PGS. Lê Hữu Doanh, được thực hiện tại Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108, Hà Nội vào năm 2022. Nghiên cứu tập trung vào vai trò của cytokine trong bệnh vảy nến mụn mủ và hiệu quả điều trị của acitretin, một loại thuốc phổ biến trong điều trị bệnh da liễu. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến mà còn đánh giá hiệu quả lâm sàng của acitretin, từ đó giúp các bác sĩ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho bệnh nhân.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan trong lĩnh vực y tế và da liễu, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Thực trạng thực hành chăm sóc vết thương sau mổ của điều dưỡng khoa Ngoại tổng hợp Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ năm 2020, nơi phân tích các phương pháp chăm sóc sau phẫu thuật, hay Kết quả chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng và một số yếu tố liên quan tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2020 - 2021, nghiên cứu về chăm sóc bệnh nhân ung thư. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị và chăm sóc trong lĩnh vực y tế hiện nay.