Nghiên cứu thành phần hóa học phân đoạn n-hexan từ lá cây khế (Averrhoa carambola L.)

Nghiên cứu thành phần hóa học từ lá cây khế Averrhoa carambola bằng phương pháp phân đoạn n-hexan trong khóa luận tốt nghiệp dược sĩ.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

2022

68
7
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về cây khế (Averrhoa carambola L. Vị trí phân loại

1.2. Đặc điểm thực vật

1.3. Bộ phận dùng, tính vị, công năng

1.4. Công dụng liều dùng

1.5. Một số bài thuốc có khế

1.6. Các nghiên cứu về lá khế

1.6.1. Các nghiên cứu về thành phần hóa học của lá khế

1.6.2. Các nghiên cứu về tác dụng sinh học của lá khế

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Trang thiết bị nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Định tính các nhóm chất thường gặp trong phân đoạn n-hexan của mẫu dược liệu

2.4.2. Phương pháp chiết xuất

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Chiết xuất dịch chiết ethanol toàn phần và các dịch chiết phân đoạn

3.2. Định tính các thành phần trong dịch chiết n – hexan của mẫu dược liệu

3.2.1. Định tính chất béo

3.2.2. Định tính phytosterol

3.2.3. Phân lập các hợp chất từ phân đoạn n–hexan của lá khế

3.2.3.1. Sắc ký cột phân đoạn H7
3.2.3.2. Sắc ký cột phân đoạn AC2–3
3.2.3.3. Sắc ký cột phân đoạn AC4
3.2.3.4. Dữ liệu phổ và xác định cấu trúc các hợp chất phân lập được
3.2.3.4.1. Hợp chất NH02
3.2.3.4.2. Hợp chất NH04

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Về kết quả định tính các hợp chất hữu cơ có trong phân đoạn n–hexan của dược liệu

4.2. Về kết quả phân lập các chất

4.2.1. Về hợp chất NH02 (1 – O – linolenoyl – 2 – O – linoleoyl – 3 – O – β – D – galactopyranosyl – rac – glycerol)

4.2.2. Về hợp chất NH04 (6ʺ – O – (icosa – 9ʺ,12ʺ– dienoyl) – β – D – glucosyl – β – sitosterol)

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thành phần hóa học từ lá cây khế Averrhoa carambola L

Cây khế (Averrhoa carambola L.) không chỉ là một loại cây ăn quả phổ biến mà còn là một nguồn dược liệu quý giá. Nghiên cứu về thành phần hóa học từ lá cây khế đã chỉ ra rằng lá khế chứa nhiều hợp chất có giá trị dược lý. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng lá khế có chứa các nhóm hợp chất như flavonoid, phenolic và sterol, với nhiều tác dụng sinh học đáng chú ý. Tuy nhiên, việc nghiên cứu này vẫn còn hạn chế và cần được mở rộng để khai thác tiềm năng của cây khế trong y học.

1.1. Giới thiệu về cây khế và giá trị dược liệu

Cây khế (Averrhoa carambola L.) thuộc họ Chua me đất, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới. Lá khế được sử dụng trong nhiều bài thuốc dân gian để chữa trị các bệnh như mề đay, cảm nắng và viêm tiết niệu. Nghiên cứu cho thấy lá khế có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu và tiêu viêm.

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tại về lá khế

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của lá khế, nhưng các nghiên cứu trong nước vẫn còn hạn chế. Các hợp chất như flavonoid và phenolic đã được phân lập, nhưng cần thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về cấu trúc và tác dụng của chúng.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu thành phần hóa học của lá khế

Một trong những thách thức lớn trong nghiên cứu thành phần hóa học của lá khế là thiếu dữ liệu hệ thống và các phương pháp nghiên cứu hiện đại. Nhiều hợp chất có giá trị vẫn chưa được xác định rõ ràng, và việc phân lập các hợp chất này đòi hỏi kỹ thuật cao và thời gian nghiên cứu dài. Hơn nữa, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu thông tin về liều lượng và cách sử dụng.

2.1. Thiếu dữ liệu và nghiên cứu hệ thống

Nhiều nghiên cứu về thành phần hóa học của lá khế chưa được công bố rộng rãi, dẫn đến việc thiếu thông tin cho các nhà nghiên cứu khác. Điều này làm giảm khả năng ứng dụng của các hợp chất trong y học.

2.2. Khó khăn trong việc phân lập và xác định cấu trúc

Việc phân lập các hợp chất từ lá khế đòi hỏi kỹ thuật sắc ký hiện đại và phân tích phổ. Nhiều hợp chất có cấu trúc phức tạp, gây khó khăn trong việc xác định chính xác cấu trúc của chúng.

III. Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học từ lá khế

Nghiên cứu thành phần hóa học từ lá khế thường sử dụng các phương pháp chiết xuất như chiết xuất bằng dung môi và sắc ký. Các phương pháp này giúp phân lập các hợp chất có giá trị từ lá khế, từ đó xác định cấu trúc và tính chất sinh học của chúng. Việc áp dụng các công nghệ hiện đại như sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) và khối phổ (MS) cũng đã được thực hiện để nâng cao độ chính xác trong nghiên cứu.

3.1. Phương pháp chiết xuất và phân lập hợp chất

Chiết xuất lá khế thường sử dụng dung môi như ethanol, n-hexan để thu được các hợp chất khác nhau. Các hợp chất này sau đó được phân lập bằng phương pháp sắc ký cột, giúp xác định rõ hơn về thành phần hóa học của lá khế.

3.2. Phân tích cấu trúc hóa học của các hợp chất

Sau khi phân lập, các hợp chất sẽ được phân tích bằng các phương pháp như NMR và MS để xác định cấu trúc hóa học. Điều này giúp hiểu rõ hơn về tính chất và tác dụng sinh học của các hợp chất từ lá khế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu từ lá khế

Các nghiên cứu về thành phần hóa học từ lá khế đã chỉ ra rằng lá khế có nhiều tác dụng sinh học, bao gồm tác dụng hạ đường huyết, chống viêm và chống oxy hóa. Những kết quả này mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các sản phẩm từ thiên nhiên, giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng. Việc ứng dụng các hợp chất từ lá khế vào thực tiễn y học có thể giúp điều trị nhiều bệnh lý khác nhau.

4.1. Tác dụng hạ đường huyết và chống viêm

Nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ lá khế có khả năng hạ đường huyết hiệu quả ở chuột thí nghiệm. Ngoài ra, các hợp chất trong lá khế cũng thể hiện tác dụng chống viêm mạnh mẽ, giúp điều trị các bệnh lý liên quan đến viêm nhiễm.

4.2. Tiềm năng phát triển sản phẩm từ lá khế

Với những tác dụng sinh học đáng chú ý, lá khế có thể được phát triển thành các sản phẩm chức năng hoặc thuốc điều trị. Việc nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học sẽ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao hiệu quả điều trị.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu về lá khế

Nghiên cứu về thành phần hóa học từ lá khế (Averrhoa carambola L.) đã mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực dược liệu. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để khai thác triệt để tiềm năng của cây khế. Việc phát triển các sản phẩm từ lá khế không chỉ giúp nâng cao sức khỏe cộng đồng mà còn góp phần bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý giá này.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Việc tiếp tục nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng sinh học của lá khế là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp mở rộng kiến thức mà còn tạo ra các sản phẩm mới có giá trị.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu dược liệu

Nghiên cứu về lá khế có thể là một mô hình cho các nghiên cứu khác về dược liệu. Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong nghiên cứu sẽ giúp nâng cao hiệu quả và độ chính xác trong việc phát hiện các hợp chất có giá trị.

14/08/2025
Trương thị hương bước đầu nghiên cứu thành phần hóa học phân đoạn n hexan từ lá cây khế averrhoa carambola l khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về cây khế (Averrhoa carambola L. Vị trí phân loại [4] Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa hồng (Rosida) Bộ: Chua me đất (Oxalidales) Họ : Chua me đất (Oxalidaceae) Chi: Averrhoa Loài: A.2 Đặc điểm thực vật [2] Khế là cây gỗ cao 4–6 m. Lá mọc so le, kép lông chim, dìa lẻ, dài 11–17cm, lá chét gồm 3–5 đôi, nguyên, mềm, hình trứng nhọn, những lá chét phía trên lớn hơn đạt tới 8.5cm chiều dài, trên 3.5cm chiều rộng.

Hoa mọc thành chùm xim dài 3–7 cm, ở kẽ lá, màu hồng hay tím nhạt 5 nhị hữu thụ xem kẽ với 5 nhị thoái hóa. Lá noãn 5 hợp thành một bầu thượng 5 ô, mỗi ô chứa 4 noãn. Quả mọng có 5 cạnh, vị chua.3 Phân bố [4] Cây khế có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ (Brazin) hay ở vùng Ấn Độ – Malaysia, được trồng phổ biến ở khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, khế là cây quen thuộc lâu đời ở khắp địa phương từ đồng bằng đến vùng núi thấp hơn 1000m.

Khế là loại cây thích nghi với vùng khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Cây sinh trưởng tốt trong nhiệt độ trung bình năm từ 20 độ đến 33 độ. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc, về mùa đông có thể chịu được nhiệt độ 5 – 10 độ. Cây tái sinh chủ yếu bằng hạt hoặc cây chồi gốc sau khi bị chặt.4 Bộ phận dùng, tính vị, công năng [4] a) Bộ phận dùng: Lá vỏ cây thu hái quanh năm.

Lá dùng tươi, vỏ cây sao vàng. Hoa quả thu hái vào mùa hạ, thu dùng tươi. b) Tính vị, công năng: Lá khế vị chua chát, tính bình có tác dụng thanh nhiệt, mát huyết, tiêu viêm, lợi tiểu. Hoa khế vị chua, chát, hơi ngọt, tính bình, có tác dụng bổ thận sinh tinh, nhuận phế, trừ ho, chỉ khải.

2 Quả khế vị chua ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, trừ phong, tiêu viêm. Vỏ thân và vỏ rễ cây khế vị chua chát, hơi ngọt, tính bình có tác dụng thanh hỏa nhiệt, tiêu đờm trệ, trừ nhiệt tích, trừ ho.5 Công dụng liều dùng [4] Lá khế chữa lở sơn, dị ứng, mề đay, cảm nắng, sổ mũi, sốt, ho, sốt xuất huyết, đái buốt, đái ra máu, mụn nhọt, viêm tiết niệu, âm đạo, ngộ độc. Ngày 20 – 40g sắc uống. Hoa khế chữa trẻ em kinh giản, ho gà, thận hư, kém tinh khí.

Ngày 8 – 16g hãm với nước sôi, uống. Vỏ thân, vỏ rễ cây khế chữa đau khớp, đau đầu mạn tính, viêm dạ dày, ruột, đái ít, trẻ lên sởi, ho, viêm họng.6 Một số bài thuốc có khế: Chữa sơn lở, dị ứng: Lá khế cả cành non và hoa 100 – 150g. Nấu sôi 15 phút với 5 – 6 lít nước, dùng xông và tắm. Lá đã nấu rồi dùng xát lên nơi lở loét [2].

Chữa cảm nắng: Lá khế tươi 20g, lá chanh 10g, giã nát, vắt lấy nước uống [4]. Chữa sốt cao lên kinh giật ở trẻ em: Hoa khế 8g, lá dành dành 8g, cỏ nhọ nồi 8g, cam thảo 4g, bạc hà 4g. Sắc đặc chia nhiều lần uống trong ngày [4]. Chữa đái buốt, đái ra máu, viêm bàng quang, âm đạo: Lá khế 80g, rễ cỏ tranh 40g sắc uống [4].

Phòng sốt xuất huyết trong thời gian có dịch: Lá khế 16g, lá dâu 12g, sắn dây 12g, lá tre 12g, mã đề 12g, sinh địa 12g, sắc uống thay nước hằng ngày [4].2 Các nghiên cứu về lá khế: 1.1 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của lá khế Theo các nghiên cứu trong và ngoài nước, các nhóm hợp chất đã phân lập được từ lá khế (Averrhoa carambola L.) gồm flavonoid, phenolic, sterol. Các hợp chất flavonoid Hợp chất Isovitexin (11) đã được phân lập từ lá khế bởi Araho và các cộng sự vào năm 2005 [19]. Năm 2010, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Ngân và cộng sự đã phân lập được 2 flavonoid là quercetin 3 – O – β – D – glucopyranoside (8) và myricitrin (9). Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam phân lập 2 hợp chất này từ lá khế [5].

Moresco và cộng sự đã công bố kết quả phân lập từ lá khế (Averrhoa carambola L.) được 3 hợp chất flavone C – glycosides thuộc nhóm này cụ thể là apigenin – 6 – C – β – L – fucopyranoside (1); apigenin – 6 – C – (2ʺ – O – α 3 – L – rhamnopyranosyl) – β – L – fucopyranoside (2) và apigenin – 6 – C – ( 2ʺ – O – α – L – rhamnopyranosyl) – β – D – glucopyranoside (3) [13]. Theo báo cáo của Yang Y. và cộng sự năm 2019, 4 hợp chất flavonoid được phát hiện bằng phương pháp quang phổ và phương pháp hóa học, cụ thể là epicatechin – (5,6 – bc) – 4β – (p – hydroxyphenyl) – dihydro – 2 (3H) – pyranone (4); epicatechin – (5,6 – bc) – 4β – (p – hydroxyphenyl) – dihydro – 2 (3H) – pyranone (5); 6 – (S – 2 – pyrrolidinone – 5 – yl)epicatechin (6); 6 – (R – 2 – pyrrolidinone – 5 – yl)epicatechin và epicatechin – (7,8 – bc) – 4β – (p – hydroxyphenyl) – dihydro – 2 (3H) – pyranone (7) [31]. T và cộng sự đã phân lập được từ lá cây khế hợp chất pinocembrin–7–neohesperidoside (10) [15].

Các hợp chất phenolic Năm 2020, nhóm nghiên cứu của Yang Y. và cộng sự bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), đã phân tích nhóm hợp chất phenolic có trong lá Khế (Averrhoa carambola L. Kết quả cho thấy các hợp chất phenolic được phân lập được từ lá khế chủ yếu là các dihydrochalcone C–glycosides như carambolaside R1 (12), carambolaside R2 (13), carambolaside R3 (14), carambolaside S1 (15), carambolaside S2 (16) carambolaside T1 (17), carambolaside T2 (18), carambolaside T3 (19), 3 – hydroxycarambolaside T1 (20), 3–hydroxycarambolaside P (21), carambolaside I (22), carambolaside P (23). Trong đó carambolaside P, T1, T2 và I có hàm lượng cao, tương ứng 22.87 mg/g trọng lượng khô [30].

Năm 2020, Elya và cộng sự đã công bố kết quả phân lập từ lá khế (Averrhoa carambola L.) được 2 hợp chất thuộc nhóm này cụ thể là proanthocyanidin (25) acid gallic (24) [10]. Các hợp chất steroid Hợp chất spinasterol (26) đã được Irianti, M. và cộng sự phát hiện bằng phương pháp sắc ký lỏng khối phổ LC–MS vào năm 2022 [15]. Cấu trúc hóa học của các hợp chất chiết xuất từ lá khế được thể hiện bảng 1.1: Một số hợp chất được phân lập từ lá khế.

T Tên hợp chất TL Công thức hóa học T TK Flavonoid 1 Apigenin – 6 – C – β – L – [13] fucopyranoside (1) 2 Apigenin – 6 – C – (2ʺ– O – [13] α – L – rhamnopyranosyl) – β – L – fucopyranoside (2) (1) R=H (2) R=Rham 3 Apigenin – 6 – C – (–2ʺ – O [13] – α – L – rhamnopyranosyl) – β – D – glucopyranoside (3) 4 Epicatechin – (5,6 – bc) – 4β [31] – (p – hydroxyphenyl) – dihydro – 2 (3H) – pyranone (4) 5 6 – (S – 2 – pyrrolidinone –5 [31] – yl)epicatechin (5) 5 6 6 – (R – 2 – pyrrolidinone – [31] 5 – yl)epicatechin (6) 7 Epicatechin – (7,8 – bc) – 4β [31] – (p–hydroxyphenyl) – dihydro – 2(3H) – pyranone (7) 8 Quercetin 3 – O – β – D – [5] glucopyranoside (8) 9 Myricitrin (9) [5] 6 10 Pinocembrin – 7 – [15] neohesperidoside (10) 11 Isovitexin (11) [19] Các hợp chất phenolic 12 Carambolaside R1 [30] (phloretin 3′ – C – [(2 – O – cis – cinnamoyl) – β – D fucopyranosyl] – 6′ – O –α – L – arabifuranoside) (12) 7 13 Carambolaside R2 (13) [30] 14 Carambolaside R3 (14) [30] 15 Carambolaside S1 [30] (phloretin 3′ – C – [(2 – O – trans – cinnamoyl) – β – D – fucopyranosyl] – 6′ – O – β – D – fucopyranosyl – (1→2) – α – L – arabifuranoside) (15) 8 16 Carambolaside S2 (16) [30] 17 Carambolaside T1 (17) [30] 18 Carambolaside T2 (18) [30] 9 19 Carambolaside T3 (19) [30] 20 3 – hydroxycarambolaside [30] T1 (3 – hydroxyphloretin 3′ – C – [(2 – O – trans – cinnamoyl – 3 – O – β – D – fucopyranosyl) – β – D – fucopyranosyl] – 6′ – O – α – L – arabifuranoside) (20) 21 3 – hydroxycarambolaside P [30] (3 – hydroxyphloretin 3′–C – [(2 – O – trans – p – coumaroyl – 3 – O – β – D – fucopyranosyl) – β – D – fucopyranosyl] – 6′ – O – β – D – fucopyranosyl – (1→2) – α – L – arabifuranoside) (21) 10 22 Carambolaside I (22) [30] 23 Carambolaside P (23) [30] 24 Acid gallic (24) [10] 25 Proanthocyanidin (25) [10] 11 Steroid 26 Spinasterol (26) [15] Hợp chất khác 27 Benzyl 2 – β – D – [31] apiofuranosyl – (1→6) – β – D– glucopyranosyloxybenzoate (27) 28 Methyl 2 – β – D – [19] apiofuranosyl – (1→6) – β – D– glucopyranosyloxybenzoate (28) 1.2 Các nghiên cứu về tác dụng sinh học của lá khế: a. Tác dụng hạ đường huyết: Tại Việt Nam, năm 2010, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Ngân và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng chống tăng đường huyết của cắn chiết lá khế ở chuột thực nghiệm đái tháo đường do STZ gây ra. Kết quả cho thấy các cắn phân đoạn dịch chiết lá khế đều có tác dụng chống tăng đường huyết ở chuột đái tháo đường thực nghiệm. Cụ thể với liều 500 mg/kg đường huyết nhóm chuột xử lý bằng cho uống phân đoạn dịch chiết ethyl acetat giảm mạnh nhất tới 63.73%, cloroform và phân 12 đoạn nước lần lượt là 46.99% còn đường huyết nhóm chuột tiêm Insullin giảm 75.

Tác dụng chống viêm Cắn chiết lá khế thể hiện tác dụng chống viêm tiềm năng thông qua việc ức chế hoạt động của lypoxygenase – là chất trung gian gây viêm. Kết quả cho thấy cắn chiết etyl acetat có hoạt tính ức chế lipoxygenase cao nhất với giá trị IC50 là 10.83 μg/mL, trong đó kết quả xét nghiệm ức chế lipoxygenase dựa trên apigenin cho thấy giá trị IC50 là 2. Tại Việt Nam, năm 2018, Nguyễn Thị Tuyết Nhi và cộng sự đã đánh giá tác dụng kháng viêm in vitro của các cao chiết phân đoạn từ lá khế trên mô hình ức chế biến tính albumin do nhiệt. Kết quả cho thấy, cao phân đoạn chiết ethyl acetat (IC50 = 79.89 μg /mL) của lá khế có tác dụng kháng viêm mạnh [3].

Năm 2011, Daniela Almeida Cabrini và cộng sự đã đánh giá tác dụng chống viêm thông qua sử dụng mô hình phù nề tai do dầu khổ sâm (croton) gây viêm ở chuột. Chiết xuất ethanol bôi tại chỗ cho thấy tác dụng làm giảm phù nề phụ thuộc liều lượng với % ức chế: là 73 ± 3% và giá trị ID50 là 0.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ