phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung luận án đƣợc trình bày theo 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của luận án Chƣơng 2: Đặc điểm của ẩn dụ ý niệm quan hệ xã hội trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh Chƣơng 3: Cơ sở tri nhận và đặc trƣng văn hóa của ẩn dụ ý niệm quan hệ xã hội trong thành ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU V CƠ SỞ LÝ THUY T CỦA LU N ÁN 1. Dẫn nhập NNH tri nhận hình thành và phát triển vào những năm 1980, gắn liền với tên tuổi của Wallace Chafe, Charles Fillmore, George Lakoff, Ronald Langacker, Leonard Talmy và một số học giả quan tâm đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và trí não. Đƣợc hiểu là một trƣờng phái nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên của con ngƣời với tƣ cách là một bộ phận cấu thành của nhận thức, vấn đề đƣợc coi trọng nhất trong hƣớng tiếp cận mới này chính là quan điểm “mọi cấu trúc hình thức của ngôn ngữ không đƣợc nghiên cứu nhƣ một khả năng tri nhận tự trị mà là sự phản ánh cách tổ chức mang tính ý niệm tổng quát, các nguyên tắc phạm trù hóa, các cơ chế xử lý thông tin, ảnh hƣởng của kinh nghiệm và môi trƣờng.
Vì ngôn ngữ đƣợc xem là một phần khả năng tri nhận của con ngƣời nên các nghiên cứu trong NNH tri nhận tập trung vào các đặc điểm cấu trúc của phạm trù hóa ngôn ngữ tự nhiên (tính điển hình, điển dạng, mô hình tri nhận, hình ảnh tinh thần, ẩn dụ, v.) và nguyên tắc tổ chức ngôn ngữ (tính phỏng hình, tính tự nhiên, v.), mối liên hệ ý niệm giữa cú pháp và ngữ nghĩa, cơ sở kinh nghiệm và ngữ dụng của ngôn ngữ đời sống. Mặc dù đƣợc xem là một trƣờng phái khá non trẻ và vẫn còn những quan niệm và hƣớng nghiên cứu chƣa thống nhất, nhƣng hiện nay, NNH tri nhận là một trong những khuynh hƣớng thu hút đƣợc sự quan tâm nhiều của giới ngôn ngữ học. Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ vựng của mỗi một dân tộc. Cùng với sự phát triển của ngành ngôn ngữ học, thành ngữ ngày càng nhận đƣợc sự quan tâm không chỉ của các nhà nghiên cứu mà còn của nhiều giáo viên, học viên.
Tuy hiện nay vẫn còn tồn tại những quan niệm chƣa thống nhất về định nghĩa cũng nhƣ bản chất của thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh, nhƣng những nghiên cứu về thành ngữ cho đến nay đã góp phần làm phong phú và rõ nét hơn đặc điểm của lớp từ vựng này. Trong chƣơng 1 của luận án, chúng tôi trình bày tổng 10 quan tình hình nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt và tiếng Anh, đặc biệt nhấn mạnh đến các nghiên cứu từ góc độ NNH tri nhận, từ đó cung cấp một cái nhìn toàn cảnh hơn về hiện tƣợng ngôn ngữ này. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Lị sử n ên ứu t àn n ữ tron t ến An Cách tiếp cận nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Anh đã thay đổi đáng kể theo thời gian.
Thành ngữ đƣợc khảo sát dựa trên các quan điểm ngôn ngữ học mang tính chi phối ở từng giai đoạn cụ thể. Có thể chia các cách tiếp cận thành ngữ trong tiếng Anh thành năm phạm trù phản ánh những cách tƣ duy khác nhau trong ngôn ngữ học ở các thời điểm khác nhau. (i) Cấu trúc và sự đa dạng của cấu trúc thành ngữ (những năm 1960 đến đầu những năm 1970) Thành ngữ bắt đầu nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học vào những năm 1960. Trong thực tế, các nghiên cứu cũng đã hƣớng đến thành ngữ và các biểu đạt cú pháp, nhƣng chỉ đến giai đoạn này, thành ngữ mới bắt đầu đƣợc xem xét đầy đủ hơn, toàn diện hơn.
Mặc dù nghĩa và các kết hợp thành ngữ đã đƣợc chú ý nhƣng vấn đề trung tâm của các nghiên cứu trong giai đoạn này vẫn là dạng thức của thành ngữ. Là ngƣời tiên phong nghiên cứu dạng thức của thành ngữ, Uriel Weinreich [154] định nghĩa thành ngữ “là một biểu đạt phức hợp mà nghĩa của nó không thể đƣợc suy ra từ nghĩa của các thành tố”. Thành ngữ đƣợc xem là một bộ phận tách rời khỏi từ vựng. Tuy nhiên, tác giả chỉ nhấn mạnh đến hình thức chứ không chú ý đến nghĩa của thành ngữ.
Vào những năm 1970, thành ngữ đƣợc xem xét dƣới ánh sáng của ngữ pháp biến đổi. Bruce Fraser [82] lấy nghĩa làm xuất phát điểm. Fraser chia thành ngữ thành hai loại: thành ngữ từ vựng (lexical idioms) và thành ngữ cụm (phrasal idioms). Thành ngữ từ vựng bao gồm một vài hình vị nhƣng bị chi phối bởi một thành tố cú pháp cụ thể nào đó, ví dụ turncoat (danh từ), overturn (động từ).
Thành ngữ cụm phải đƣợc phân tích thành câu nhƣ Has the cat got your tongue? Rõ ràng là định nghĩa và cách xem xét của Fraser tồn tại một số vấn đề. Theo quan điểm này, gần nhƣ bất kỳ một từ hay biểu đạt ngôn ngữ nào cũng đƣợc xem là một thành 11 ngữ. Đƣa ra định nghĩa về nghĩa cơ bản của một từ là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và nhiều từ có nhiều hơn một nghĩa đen, chƣa kể đến nghĩa ẩn dụ. Do vậy, cách nhìn nhận về thành ngữ của tác giả là quá rộng.
Mô hình thứ bậc đóng băng (frozenness hierachies) đối với thành ngữ của ông bị phê phán và bị chính những ngƣời bản xứ phản đối vì mang tính chủ quan. Fraser không tiến hành điều tra, khảo sát thành ngữ mà chỉ sử dụng Ngữ pháp Biến đổi làm công cụ. Thực tế này phản ánh hiện trạng nghiên cứu thành ngữ cũng nhƣ ngôn ngữ nói chung tại thời điểm đó: việc định nghĩa, hiểu và lý giải các hiện tƣợng ngôn ngữ còn quá rộng và mang tính chủ quan. Tuy nhiên, Makkai [121] đã nỗ lực tạo ra một phân loại mang tính tầng bậc đối với thành ngữ.
Định nghĩa của Makkai có khác so với quan điểm về thành ngữ đƣợc sử dụng trong luận án của chúng tôi, nhƣng về cơ bản là giống nhau, theo đó, thành ngữ là một cụm từ cố định, bao gồm hai hoặc hơn hai từ. Tác giả cũng cho rằng thành ngữ có thể dẫn đến việc “giải mã sai” và do vậy gây ra sự hiểu nhầm. Theo phân loại của Makkai, thành ngữ đƣợc chia thành hai loại: thành ngữ tạo mã (idioms of encoding) và thành ngữ giải mã (idioms of decoding). Những kết hợp từ đi liền với nhau, ví dụ nhƣ động từ có đi kèm với giới từ “at” trong drive at 70mph đƣợc xem là thành ngữ tạo mã, trong đó at không thể đƣợc thay thế bởi một từ khác.
Sở dĩ chúng đƣợc xem là thành ngữ vì tính chất kết hợp cố định của thành tố trong đó. Trong các nghiên cứu của mình, tác giả quan tâm nhiều hơn đến thành ngữ giải mã, theo đó, chúng đƣợc chia thành hai lĩnh vực căn cứ vào tầng nghĩa từ vựng (lexemic stratum) và tầng ngữ nghĩa (sememic stratum). Thành ngữ giải mã là những ngữ cố định mang nghĩa bóng và luôn tiềm ẩn hai cách hiểu theo nghĩa đen và nghĩa bóng. Bản thân Makkai [122, tr.59] cũng thừa nhận có sự chồng chéo giữa các phạm trù vì không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận diện đƣợc biên giới phân chia các phạm trù đó.
Tƣơng tự nhƣ các nhà nghiên cứu trƣớc đó, các nghiên cứu của Makkai cũng không đi sâu vào ứng dụng thực tiễn của thành ngữ mà chủ yếu mang tính lý thuyết. Newmeyer [124] tiếp cận thành ngữ từ một quan điểm khác. Mặc dù vẫn xem xét đến dạng thức của thành ngữ, nhƣng đối với tác giả, tính hình ảnh là một đặc trƣng nổi bật của thành ngữ. Do đó, cần xem xét cả nghĩa đen và nghĩa bóng 12 của thành ngữ.
Sử dụng cấu trúc chuyển đổi của ngữ pháp biến đổi - tạo sinh có thể giúp phân biệt thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác. Thành ngữ pull someone‟s leg (nghĩa đen: kéo chân ai; nghĩa bóng: trêu chọc ai) có thể đƣợc chuyển sang dạng bị động bởi sự kết hợp nghĩa đen và nghĩa bóng. Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, đây không thể xem là tiêu chí để xem xét cú pháp của một biểu đạt ngôn ngữ, cũng nhƣ không phản ánh đƣợc bản chất và nghĩa của thành ngữ mặc dù đối với Newmeyer, nghĩa bóng (tính hình tƣợng) là tiêu chí quan trọng nhất của thành ngữ. Vào năm 1982, Barbara Greim [96] kết hợp cú pháp và ngữ nghĩa trong việc nỗ lực tạo ra ngữ pháp của thành ngữ.
Kế thừa các phân tích của Newmeyer [124] về sự biến đổi thành ngữ, Greim đã đƣa ra cú pháp của thành ngữ, làm cơ sở cho việc phạm trù hóa các biểu đạt ngôn ngữ này. Tác giả xem xét cú pháp của thành ngữ và thành tố nghĩa đen. Bằng cách so sánh hai yếu tố này, bà cho rằng việc biến đổi của thành ngữ có thể đƣợc giải thích đơn giản bằng sự tƣơng ứng cú pháp giữa chúng. Không giống nhƣ các tác giả trƣớc, Fernando [79] lại cho rằng thành ngữ là tất cả các ngữ cố định không biến đổi hoặc biến đổi rất ít về cấu trúc và không nhất thiết phải mang nghĩa bóng.
Tuy nhiên, theo cách phân loại của tác giả, thành ngữ đƣợc chia thành thành ngữ thuần nhất (pure idioms), thành ngữ bán nghĩa đen (semi-literal idioms) và thành ngữ mang nghĩa đen (literal idioms). Thành ngữ thuần nhất (pure idioms) là những thành ngữ hoàn toàn đƣợc hiểu theo nghĩa bóng nhƣ spill the beans (để lọt tin tức ra ngoài một cách vô tình hay cố ý, tiết lộ một bí mật quá sớm). Thành ngữ bán nghĩa đen chứa một từ mang nghĩa đen ví dụ nhƣ foot a bill (tính tiền hóa đơn) trong đó từ bill (hóa đơn) mang nghĩa đen. Thành ngữ mang nghĩa đen là một cụm từ, ví dụ nhƣ Happy birthday (Chúc mừng sinh nhật).
Cách xác định thành ngữ nhƣ thế này là quá rộng, chủ quan, chồng chéo và không dựa trên đặc điểm của thành ngữ. Bên cạnh đó, Fernando [79, tr.36] còn chú ý đến cấu trúc của thành ngữ, theo đó, tính bất biến (invariance) và biến đổi hạn chế (restricted variation) đƣợc xem là các đặc trƣng nổi trội của thành ngữ. Tuy nhiên, theo cách hiểu của chúng tôi, tính ẩn dụ mới là đặc trƣng nổi trội nhất của thành 13 ngữ, bên cạnh đặc điểm cấu trúc bất biến hoặc biến đổi hạn chế nhƣ Fernando đã trình bày. Tóm lại, lịch sử nghiên cứu cấu trúc thành ngữ song hành với các quan điểm nổi trội trong nghiên cứu ngôn ngữ ở thời điểm đó.