Đặc điểm lâm sàng và kết quả xử trí thai dưới 12 tuần chửa ở sẹo mổ lấy thai cũ

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả xử trí thai dưới 12 tuần chửa ở sẹo mổ lấy, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Sự thụ thai, làm tổ của trứng và tình hình sinh mổ

1.1.1. Sinh lý thụ tinh và làm tổ của trứng

1.2. Mổ lấy thai

1.3. Chửa ngoài tử cung tại sẹo mổ lấy thai

1.4. Các yếu tố nguy cơ của chửa sẹo mổ lấy thai

1.5. Sinh bệnh học

1.6. Chẩn đoán chửa sẹo mổ lấy thai

1.7. Triệu chứng lâm sàng

1.8. Triệu chứng cận lâm sàng

1.9. Thái độ xử trí chửa sẹo mổ lấy thai

1.9.1. Xử trí nội khoa

1.9.2. Phương pháp ngoại sản

1.9.3. Phương pháp nút mạch

1.10. Tiến triển và biến chứng

1.10.1. Theo dõi sau điều trị

1.11. Một số nghiên cứu của thế giới và Việt Nam về chửa sẹo mổ lấy thai

1.11.1. Trên thế giới

1.11.2. Tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5.3. Các biến số nghiên cứu

2.5.4. Cách thức tiến hành

2.5.5. Các bước nghiên cứu

2.5.6. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

2.5.7. Sai số và khống chế sai số mắc phải

2.5.8. Xử lý và phân tích số liệu

2.5.9. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ CỦA NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm về tuổi

3.3. Đặc điểm về nơi cư trú

3.4. Tiền sử sản khoa

3.5. Tiền sử mổ lấy thai

3.6. Mối liên quan giữa các triệu chứng lâm sàng hay gặp

3.7. Hoạt động của tim thai

3.8. Vị trí túi thai trên siêu âm

3.9. Mối liên quan giữa các triệu chứng cận lâm sàng

3.10. Phương pháp hút thai dưới siêu âm

3.11. Mối liên quan với đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.12. Mối liên quan giữa đặc điểm cận lâm sàng với kết quả điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Tuổi của đối tượng nghiên cứu

4.3. Tiền sử sản khoa

4.4. Số lần mổ lấy thai

4.5. Khoảng cách từ lần mổ lấy thai gần nhất đến nay

4.6. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của đối tượng nghiên cứu

4.6.1. Đặc điểm lâm sàng

4.6.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.7. Kết quả điều trị hút thai dưới 12 tuần chửa ở sẹo mổ lấy thai cũ

4.8. Kết quả điều trị chung

4.9. Mối liên quan giữa tuổi thai và kết quả hút thai

4.10. Mối liên quan giữa vị trí túi thai với kết quả hút thai

4.11. Mối liên quan giữa tăng sinh mạch máu với kết quả hút thai

4.12. Mối liên quan giữa β-hCG trước xử trí và kết quả hút thai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Chửa sẹo mổ lấy thai là hiện tượng rau thai làm tổ tại vị trí sẹo mổ, một thể hiếm gặp của chửa ngoài tử cung. Tình trạng này có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời. Tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, việc xử trí thai chửa sẹo mổ lấy thai dưới 12 tuần đã cho thấy những kết quả khả quan. Nghiên cứu này nhằm mục đích mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả xử trí thai dưới 12 tuần chửa ở sẹo mổ lấy thai cũ, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho việc chẩn đoán và điều trị.

II. Tổng Quan Tài Liệu

Nghiên cứu về chửa sẹo mổ lấy thai đã chỉ ra rằng tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng tăng, dẫn đến sự gia tăng các trường hợp chửa sẹo mổ. Các yếu tố nguy cơ bao gồm số lần mổ lấy thai và các tình huống như rau bám chặt. Việc chẩn đoán chửa sẹo mổ lấy thai thường gặp khó khăn, đặc biệt là khi thai dưới 12 tuần. Các phương pháp chẩn đoán như siêu âm đường âm đạo đã được chứng minh là hiệu quả trong việc xác định vị trí túi thai và tình trạng của cơ tử cung.

III. Đối Tượng và Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội với đối tượng là các thai phụ được chẩn đoán chửa sẹo mổ lấy thai dưới 12 tuần. Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu được xác định rõ ràng. Phương pháp nghiên cứu bao gồm thu thập dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng, phân tích kết quả điều trị và theo dõi sau điều trị. Việc tuân thủ các quy định đạo đức trong nghiên cứu cũng được đảm bảo.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm lâm sàng của thai phụ có chửa sẹo mổ lấy thai dưới 12 tuần thường gặp các triệu chứng như ra máu âm đạo và đau bụng. Siêu âm cho thấy vị trí túi thai thường nằm ở đoạn eo tử cung. Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ thành công cao khi áp dụng phương pháp hút thai dưới siêu âm. Mối liên quan giữa tuổi thai và kết quả điều trị cũng được phân tích, cho thấy tuổi thai càng nhỏ thì tỷ lệ thành công càng cao.

V. Bàn Luận

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc xử trí thai dưới 12 tuần chửa ở sẹo mổ lấy thai cũ có thể đạt được kết quả khả quan nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Các yếu tố như tuổi thai, vị trí túi thai và nồng độ β-hCG trước xử trí có ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị. Việc áp dụng các phương pháp chẩn đoán hiện đại như siêu âm Doppler giúp nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn lâm sàng, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho thai phụ.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sự thụ thai, làm tổ của trứng và tình hình sinh mổ 1. Sinh lý thụ tinh và làm tổ của trứng Thụ tinh là sự kết hợp giữa một tế bào đực là tinh trùng với một tế bào cái là noãn bào để tạo thành một tê bào có khả năng phát triển rất nhanh gọi là trứng [1,10]. Sau khi thụ tinh ở 1/3 ngoài của vòi tử cung, trứng di chuyển vào buồng tử cung mất 4 - 6 ngày.

Ở phần eo, trứng di chuyển chậm hơn phần bóng vòi trứng. Khi vào đến buồng tử cung, trứng ở trạng thái tự do từ 2 - 3 ngày để đạt mức phát triển cần thiết và cũng để niêm mạc tử cung chuẩn bị thích hợp cho trứng làm tổ. Trứng bắt đầu làm tổ vào ngày thứ 6 - 8 sau khi thụ tinh. Các bước làm tổ bao gồm: dính, bám rễ, qua lớp biểu mô và nằm sâu trong lớp đệm.

Quá trình diễn biến như sau [11]: Ngày 6 - 8: phôi nang dính vào niêm mạc tử cung. Các chân giả xuất phát từ các tế bào nuôi bám vào biểu mô gọi là hiện tượng bám rễ. Một số liên bào bị tiêu hủy, phôi nang chui sâu qua lớp biểu mô. Ngày 9 - 10 phôi thai đã qua lớp biểu mô trụ nhưng chưa nằm sâu trong lớp đệm, bề mặt chưa được biểu mô phủ kín.

Ngày 11 - 12 phôi nằm hoàn toàn trong lớp đệm nhưng chỗ nó chui qua biểu mô cũng chưa được che kín. Ngày 13 - 14 phôi nằm sâu trong niêm mạc và thường đã được biểu mô phủ kín, trung sản mạc được biệt hóa thành hai lớp tế bào và hình thành những gai rau đầu tiên. Nơi làm tổ của trứng hay của phôi thường là vùng đáy tử cung, mặt sau nhiều hơn mặt trước. Một vài trường hợp, sự làm tổ xảy ra tại vùng cơ tử cung có sẹo mổ lấy thai trước đây, lớn lên, dẫn đến hiện tượng “Chửa sẹo mổ lấy thai”.

Theo phân loại thì đây là thể thứ 9 trong chửa ngoài tử cung [12]. Mổ lấy thai 1. Tỷ lệ mổ lấy thai Tỷ lệ mổ lấy thai ngày càng tăng. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ mổ lấy thai tăng từ 5 - 7% trong những năm 1970 lên 25 - 30% vào năm 2003.

Theo thống kê của Việt Nam năm 2002, tỷ lệ MLT là 9,9%, chủ yếu tập trung ở thành thị. Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội ghi nhận tỷ lệ MLT năm 2002 là 34,3%, năm 2006 là 43,2%, năm 2011 là 49,2%, năm 2012 là 51,1%, năm 2020 là 57,3% [13]. Bệnh viện Phụ Sản Trung ương ghi nhận tỷ lệ MLT tăng dần từ năm 1960 là 9%, ở những năm 90 là 23%, năm 2006 là 40. Trong năm 2021, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội ghi nhận 19598 trường hợp mổ lấy thai, chiếm 57,9% tổng số ca đẻ của viện.

Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ mổ lấy thai cũng tăng dần, năm 1970 là 5,5%, năm 1996 là 20,7%, năm 2006 là 30,5%, năm 2007 là 31,7% [3]. Trong cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2007 - 2008 tại 122 bệnh viện công và tư nhân, chọn ngẫu nhiên tại các nước Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nepal, Philippines, Srilanca và Việt Nam thì đứng đầu tỉ lệ MLT là Trung Quốc với tỉ lệ 46%, kế đến là Việt Nam (36%), Thái Lan (34%), Ấn Độ (18%), thấp nhất là Campuchia (15%) [3]. Các phương pháp mổ lấy thai Lịch sử phát triển của mổ lấy thai ghi nhận nhiều thay đổi trong kỹ thuật là từ rạch dọc thân tử cung chuyển sang rạch ngang đoạn dưới tử cung. Rạch dọc thân tử cung lấy thai với mong muốn lợi dụng vùng vô mạch của tử cung, lấy thai ra khỏi buồng tử cung, lấy rau, lau sạch buồng tử cung.

Khâu phục hồi cơ tử cung hai lớp mũi rời, lớp trong khẩu nửa bề dày cơ tử cung, lớp ngoài khâu kín lớp cơ còn lại. Tuy nhiên, kỹ thuật này không thể phủ được phục mạc tử cung do phúc mạc thân tử cung không tách ra được khỏi tử cung nên dính ổ phúc mạc là khó tránh. Hơn nữa, tỷ lệ vỡ tử cung ở những lần mang thai sau là khá cao. 3 Mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai, lợi dụng vùng cơ tử cung có hai lớp, mỏng hơn, lại có phúc mạc di động bao bọc.

Sau khi lấy thai ra khỏi buồng tử cung, lấy rau, lau sạch buồng tử cung, việc khâu cơ tử cung có thể thực hiện hai lớp hoặc một lớp bằng chỉ tiêu, kết thúc là phủ phúc mạc đoạn dưới tử cung. Hiện nay thường áp dụng kỹ thuật khâu vắt một lớp, không khâu vào niêm mạc tử cung và cũng không phủ phúc mạc đoạn dưới tử cung. Chửa ngoài tử cung tại sẹo mổ lấy thai Chửa SMLT là hiện tượng túi thai làm tổ tại vị trí SMLT của tử cung. Đây là hình thái khá hiếm gặp của CNTC [1][6].

Hình ảnh chửa ở sẹo mổ lấy thai [1] 1. Các yếu tố nguy cơ của chửa sẹo mổ lấy thai Yếu tố nguy cơ lớn nhất là khi MLT càng nhiều lần thì tỷ lệ gặp chửa SMLT càng tăng. Theo nghiên cứu của Maymon và cộng sự trong 8 trường hợp chửa SMLT thì 63% trường hợp có tiền sử MLT trên hai lần [15]. Theo Jurkovic và cộng sự, tỷ lệ này là 72% chửa SMLT ở trường hợp MLT trên hai lần [16].

Nhiều bằng chứng nhận thấy có sự liên quan rất chặt chẽ giữa chửa SMLT và số lần MLT. Nghiên cứu của Rotas 2006 thấy rằng 52% chửa trên SMLT xảy ra ở trường hợp MLT một lần, 36% trên trường hợp MLT hai lần và 12% ở trường hợp MLT trên hai lần [17]. Theo Diêm Thị Thanh Thủy năm 2009, 62,5% chửa SMLT gặp ở trường hợp có tiền sử MLT trên hai lần [18]. 4 Theo tác giả Trần Thị Ngọc Hà năm 2021, 51,1% chửa SMLT gặp ở trường hợp có tiền sử 2 lần MLT [19].

Cũng có những ghi nhận chửa SMLT có liên quan đến một số tình huống như tiền sử rau bám chặt, rau cài răng lược một phần hoặc hoàn toàn được xử trí bảo tồn ở lần sinh trước, tiền sử CNTC, chửa tại ống CTC, hỗ trợ sinh sản (IVF), tiền sử nạo phá thai nhiều lần. Vial nhận thấy chửa SMLT gặp trong trường hợp MLT do ngôi mông là 63% và cho rằng trong MLT ngôi mông thường hay được mổ chủ động, thành lập đoạn dưới tử cung chưa tốt nên vị trí rạch cơ tử cung cao và khi lành sẹo dễ gây hiện tượng sẹo lõm, tạo điều kiện cho phôi bám vào [20]. Sinh bệnh học Cơ chế xuất hiện chửa SMLT chưa được giải thích rõ ràng. Có giả thuyết giải thích cơ chế bệnh sinh được chấp nhận nhiều nhất là giai đoạn phôi thoát màng, thâm nhập vào cơ tử cung qua khe hở vi thể tại SMLT hay sẹo mổ ở tử cung [21].

Theo Krishna, khoảng 60% sẹo có các khe hở sau phẫu thuật mổ lấy thai. Hiện nay với tiến bộ trong ứng dụng siêu âm đầu dò âm đạo, siêu âm bơm dịch buồng tử cung có thể xác định được sự toàn vẹn của tử cung khi không mang thai [22]. Nguyên nhân Nguyên nhân đưa đến chửa SMLT chưa rõ. Đa số các tác giả chấp nhận nguyên nhân là do khiếm khuyết của SMLT, tạo khe hở vi thể, tạo điều kiện cho phoi thai bám vào [3,21].

Hiện tại chưa rõ nguyên nhân này có liên quan đến số lần MLT hay không, có liên quan đến kỹ thuật khâu cơ tử cung 1 lớp hay 2 lớp hay không [15,16]. Chẩn đoán chửa sẹo mổ lấy thai 1. Phân loại Vial và cộng sự đề xuất chia chửa SMLT thành 2 hình thái [20]: - Hình thái thứ nhất: gai rau xâm nhập vào phía trước sẹo mổ, có xu hướng phát triển về phía eo - CTC hoặc hướng lên trên BTC. Dạng này thai có 5 thể phát triển được nhưng nguy cơ trở thành rau cài răng lược hoặc gây chảy máu ồ ạt nơi rau bám đe dọa tính mạng thai phụ.

- Hình thái thứ hai: gai rau thâm nhập sâu vào trong SMLT và có xu hướng phát triển vào bàng quang, ổ bụng và tiến triển dẫn tới vỡ tử cung. Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, hơn 50% trường hợp được phát hiện tình cờ khi thăm khám mà không có triệu chứng bất thường, 1/3 có ra máu âm đạo ít một, 1/4 có đau bụng hạ vị [1,6]. Ra máu âm đạo thường xuất hiện sớm trong 44% các trường hợp. Ra máu âm đạo tính chất ít một, máu sẫm màu [6].

Theo Nguyễn Huy Bạo ra máu âm đạo ít một chiếm trên 50% [18]. Khoảng 16% đau âm ỉ vùng bụng dưới, triệu chứng đau này không khác so với những trường hợp dọa sẩy thai hay CNTC, cảm giác tức nặng, buồn đi ngoài [1,6]. Băng huyết với hiện tượng ra máu âm đạo ồ ạt trên 500ml. Có thể băng huyết tự nhiên.

Khoảng 10% các trường hợp chảy máu cấp tính có nguy cơ vỡ tử cung, nhầm với sẩy thai băng huyết hoặc chửa ống cổ tử cung [1,2,6]. Sốc mất máu là triệu chứng của vỡ tử cung. Lúc này khi thăm khám trên lâm sàng người bệnh có triệu chứng của bụng ngoại khoa. Triệu chứng cận lâm sàng 1.

Siêu âm Siêu âm đường âm đạo được xem là phương tiện tốt và sớm để chẩn đoán chửa SMLT [22-24]. Trên mặt cắt dọc qua tử cung có thể xác định vị trí túi ối ở đoạn eo tử cung ngang SMLT với độ nhạy 86,4 - 95%. Ngày nay, việc chẩn đoán chửa SMLT qua siêu âm đã trở nên dễ dàng hơn do có những tiêu chuẩn rõ ràng của các hiệp hội uy tín trên thế giới như Hiệp hội Siêu âm Sản Phụ khoa thế giới ISUOG, Hội Sản Phụ khoa Mỹ ACOG, Hội Sản Phụ khoa Hoàng gia Anh RCOG. Tiêu chuẩn chẩn đoán chửa SMLT qua siêu âm theo RCOG 2014 gồm các triệu chứng chính là: 6 (1) BTC rỗng, không có túi thai trong khoang nội mạc tử cung; (2) Túi thai hoặc khối tế bào nuôi bám vào vùng VMC ở đoạn eo tử cung; (3) Lớp cơ tử cung giữa bàng quang và túi thai biến mất hoặc rất mỏng; (4) Tăng sinh mạch máu quanh khối thai qua siêu âm Doppler; (5) Kênh ống cổ tử cung trống.

Hình ảnh túi ối ở SMLT qua siêu âm đường âm đạo [20] Hình 1. Hình ảnh BTC và ống CTC rỗng, túi thai làm tổ tại cơ tử cung 3 mặt trước [20] Siêu âm đường âm đạo chẩn đoán chửa SMLT có độ nhạy 84,6% [23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu thai dưới 12 tuần ở sẹo mổ lấy thai cũ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc theo dõi và quản lý thai kỳ ở những phụ nữ có tiền sử mổ lấy thai. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố nguy cơ liên quan đến thai kỳ mà còn đưa ra những khuyến nghị quan trọng cho việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ về tình trạng sẹo mổ có thể giúp giảm thiểu các biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mẹ và bé.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các vấn đề liên quan đến sức khỏe trẻ em, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và hs crp procalcitonin interleukin 6 trong viêm phổi nặng do vi rút ở trẻ em dưới 5 tuổi. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về các triệu chứng và phương pháp điều trị viêm phổi ở trẻ nhỏ.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án tiến sĩ nghiên cứu biến đổi lâm sàng thông khí phổi mức độ kiểm soát và nồng độ một số cytokine huyết thanh ở bệnh nhân hen phế quản điều trị bằng ics và laba, nơi khám phá mối liên hệ giữa hen phế quản và các yếu tố sinh học trong cơ thể.

Cuối cùng, bài viết Luận án nghiên cứu thực trạng và giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình báo cáo và quản lý các biến cố trong nghiên cứu lâm sàng, một khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

Những liên kết này sẽ mở ra cho bạn nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan.