Nghiên cứu mối liên quan giữa đột biến gen il36rn và card14 với một số biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng trên bệnh nhân vảy nến thể mủ

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu mối liên quan giữa đột biến gen il36rn và card14 với một số biểu hiện lâm sàng và cận, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng 108

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

179
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về bệnh vảy nến thể mủ toàn thân

1.2. Vai trò của IL-36, IL-36Ra và các đột biến gen IL36RN và CARD14 trong bệnh vảy nến thể mủ toàn thân

1.3. Một số nghiên cứu về đột biến gen IL36RN và CARD14 trong vảy nến thể mủ toàn thân trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.4. Kỹ thuật xác định các đột biến của gen IL36RN và của gen CARD14

2.5. Xử lý số liệu

2.6. Địa điểm nghiên cứu

2.7. Thời gian nghiên cứu

2.8. Đạo đức nghiên cứu

2.9. Hạn chế của đề tài

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

3.2. Tỷ lệ và các kiểu đột biến gen IL36RN và CARD14

3.3. Mối liên quan giữa đột biến gen IL36RN và CARD14 với một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh VNTMTT

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

4.2. Tỷ lệ và các kiểu đột biến gen IL36RN và CARD14

4.3. Mối liên quan giữa đột biến gen IL36RN và CARD14 với một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh VNTMTT

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh vảy nến thể mủ

Bệnh vảy nến thể mủ toàn thân là một dạng bệnh lý da liễu nghiêm trọng, với biểu hiện lâm sàng đa dạng và có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng. Các triệu chứng thường gặp bao gồm phát ban mụn mủ, sốt cao, và các dấu hiệu viêm da khác. Theo nghiên cứu, cơ chế bệnh sinh của bệnh này vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Một số trường hợp bệnh nhân có tiền sử vảy nến thể mảng, trong khi những trường hợp khác xuất hiện mụn mủ ngay từ đầu. Điều này cho thấy sự khác biệt trong cơ chế sinh bệnh giữa các thể bệnh. Các cytokine như IL-1 và IL-36 có vai trò nổi bật trong bệnh vảy nến thể mủ, trong khi IL-17A và IFN-γ lại có mức độ thấp hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố di truyền và đột biến gen liên quan đến bệnh.

1.1. Đặc điểm lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng của bệnh vảy nến thể mủ rất đa dạng, từ các tổn thương da đến các triệu chứng toàn thân. Bệnh nhân thường gặp phải các triệu chứng như sốt, phù nề, và giảm albumin máu. Các tổn thương da có thể bao gồm hồng ban, mụn mủ, và các dấu hiệu viêm khác. Việc hiểu rõ các triệu chứng này là rất quan trọng để chẩn đoán và điều trị hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến mức độ nặng của bệnh và các triệu chứng lâm sàng. Do đó, việc xác định mối liên quan giữa các đột biến gen và biểu hiện lâm sàng là cần thiết.

II. Vai trò của IL36RN và CARD14 trong bệnh vảy nến thể mủ

Đột biến gen IL36RNCARD14 đã được xác định là có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến thể mủ. IL36RN là một chất đối vận thụ thể interleukin-36, có tác dụng điều hòa phản ứng viêm. Nghiên cứu cho thấy rằng đột biến trong gen này có thể dẫn đến sự gia tăng hoạt động của các cytokine gây viêm, từ đó làm nặng thêm tình trạng bệnh. Trong khi đó, CARD14 là một gen có liên quan đến việc kích hoạt con đường tín hiệu NF-κB, một con đường quan trọng trong phản ứng viêm. Đột biến trong gen này cũng đã được chứng minh là có liên quan đến sự phát triển của bệnh vảy nến thể mủ. Việc hiểu rõ vai trò của các đột biến gen này có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị mới cho bệnh nhân.

2.1. Mối liên quan giữa đột biến gen và biểu hiện lâm sàng

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối liên quan giữa đột biến gen IL36RNCARD14 với các biểu hiện lâm sàng của bệnh vảy nến thể mủ. Cụ thể, bệnh nhân có đột biến gen IL36RN thường có triệu chứng nặng hơn, bao gồm sốt cao và tổn thương da nghiêm trọng. Ngược lại, đột biến gen CARD14 có thể dẫn đến các triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào kiểu đột biến. Việc xác định mối liên quan này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh mà còn có thể hỗ trợ trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân.

III. Tính ứng dụng của nghiên cứu

Nghiên cứu về mối liên quan giữa đột biến gen IL36RNCARD14 với biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân vảy nến thể mủ có giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thông tin quan trọng cho các bác sĩ trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Việc hiểu rõ các yếu tố di truyền có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị mới, bao gồm các liệu pháp sinh học nhắm vào các cytokine và con đường tín hiệu liên quan. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến thể mủ, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Hướng nghiên cứu tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào việc xác định các marker sinh học liên quan đến đột biến gen IL36RNCARD14. Điều này có thể giúp phát triển các phương pháp chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân vảy nến thể mủ. Ngoài ra, việc nghiên cứu sâu hơn về cơ chế hoạt động của các cytokine trong bệnh cũng là một hướng đi quan trọng, nhằm tìm ra các phương pháp điều trị mới có thể cải thiện tình trạng bệnh nhân.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về bệnh vảy nến thể mủ toàn thân 1.1 Dịch tễ Trong một số nghiên cứu tiến hành tại bệnh viện Da Liễu TP.HCM ghi nhận tỷ lệ bệnh vảy nến thể mủ toàn thân (VNTMTT) so với tổng số bệnh nhân vảy nến chiếm khoảng 7% [15]. Tỷ lệ bệnh VNTMTT trên thế giới thì chưa có thống kê rõ ràng, tuy nhiên một số nghiên cứu ở châu Âu cho thấy tỷ lệ bệnh ước tính khoảng 9,1/100. Bệnh xuất hiện ở tất cả các chủng tộc và không có sự khác biệt nhiều về tỷ lệ bệnh giữa 2 giới nam và nữ [17]. Nhiều trường hợp bệnh nhân biểu hiện vảy nến thể mủ toàn thân nguyên phát, nhưng cũng có những trường hợp vảy nến thể mủ được ghi nhận có tiền sử mắc một dạng bệnh vẩy nến khác trước đó, mặc dù tỷ lệ này trong các nghiên cứu còn khá khác nhau.

Trong một nghiên cứu ở Malaysia, 78% bệnh nhân vảy nến thể mủ toàn thân có tiền sử vảy nến trước đó, với hầu hết trong số đó là vảy nến thể mảng [18]. Một nghiên cứu khác trên 208 bệnh nhân vảy nến thể mủ toàn thân ở Nhật Bản thì chỉ ghi nhận có 31% là có tiền sử vảy nến thể mảng [19]. Đỉnh tuổi khởi phát của bệnh thường là khoảng từ 40-59 tuổi, tuy nhiên nhiều trường hợp cũng được ghi nhận xuất hiện ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Tuổi khởi phát bệnh có khuynh hướng thấp hơn ở nhóm bệnh nhân chỉ có VNTMTT nguyên phát[18].2 Sinh bệnh học Mặc dù cơ chế bệnh sinh của vảy nến thể mủ toàn thân chưa được hiểu rõ hoàn toàn, nhưng những phát hiện về vai trò của các yếu tố khởi phát, interleukin-36 (IL- 36), interleukin-36 receptor antagonist (IL-36Ra), cùng các đột biến gen IL36RN và CARD14 đã phần nào cho thấy rõ hơn con đường sinh bệnh học của vảy nến thể mủ 4 1.1 Các yếu tố khởi phát Những yếu tố thúc đẩy VNTMTT vào đợt cấp thường gặp là: sử dụng corticosteroid đường toàn thân (thường gặp nhất), nhiễm trùng đường hô hấp, thai kỳ, stress tâm lý, hạ Ca máu [18].

Corticosteroid đường toàn thân là thuốc gây khởi phát VNTMTT thường gặp nhất. Việc sử dụng corticosteroid không kiểm soát hoặc ngưng corticosteroid đột ngột là một trong những yếu tố gây phát ban VNTMTT đã được đề cập trong nhiều y văn [20],[21],[22]. Nhiễm trùng đường hô hấp trên hoặc nhiễm vi trùng, siêu vi cũng là một yếu tố nguy cơ thường gặp, bệnh nhân mắc bệnh lí tuyến cận giáp gây hạ Canxi máu cũng là một yếu tố khởi phát bệnh có thể gặp[23].2 Vai trò của các cytokine IL-36 là cytokine thuộc họ IL-1, có khả năng hoạt hóa con đường gây viêm như MAPK và NF-κB khi gắn vào thụ thể IL-36R của nó trên bề mặt tế bào, từ đó kích thích sản xuất ra các yếu tố tiền viêm và gây ra bệnh vảy nến thể mủ [5]. Còn IL- 36Ra là chất đối vận thụ thể của IL-36.

Khi IL36-Ra gắn vào thụ thể IL-36R sẽ khóa thụ thể này lại, khiến cho IL-36 không thể gắn vào thụ thể này để kích hoạt con đường phản ứng viêm được nữa [24],[25],[26]. Do đó mà ở những đột biến của gen IL36RN làm giảm số lượng và/hoặc chức năng của IL-36Ra, các IL-36 không còn chất đối vận nữa và sẽ hoạt động mạnh hơn rất nhiều, từ đó dẫn đến khuếch đại phản ứng viêm ở da và sinh ra sang thương của vảy nến thể mủ [27]. Nếu như ở vảy nến thể mảng thông thường, các yếu tố đóng vai trò quan trọng và có nồng độ cao gồm: IL-17[4], IL-23[28], IFN-γ[29], TNF-α [30]. thì ở vảy nến thể mủ, các cytokine và chemokine này lại có nồng độ thấp hơn [5].

Trong khi đó, IL-36 ở bệnh nhân vảy nến thể mủ lại có nồng độ cao hơn vảy nến thể mảng thông thường, điều đó cho thấy IL-36 có vai trò quan trọng hơn trong sinh bệnh học của vảy nến thể mủ, và đây là điểm khác biệt rất lớn so với vảy nến thể mảng thông thường [5]. Nếu như trước đây nhiều ý kiến vẫn cho rằng vảy nến thể mủ là một thể đặc biệt của vảy nến thể mảng thông thường, thì hiện nay nhiều tác giả thông qua các bằng chứng về 5 IL-36, IL-36Ra, môt số tác giả cho rằng vảy nến thể mủ là một thể bệnh riêng, với con đường sinh bệnh học khác biệt so với vảy nến thể mảng thông thường [5] 1.3 Vai trò của các yếu tố di truyền Các gen IL36RN và CARD14 thuộc nhóm gen phiên mã cho ra các RNA thông tin (mRNA), từ các mRNA trải qua quá trình dịch mã tạo ra các acid amin và tổng hợp nên các protein tương ứng. Gen IL36RN là gen mã hóa tạo ra chất đối kháng thụ thể của IL-36 hay còn gọi là IL-36Ra (IL-36 receptor antagonist). Gen này ban đầu được đặt tên là IL1HY1 khi nghiên cứu trên loài chuột, vị trí nằm trên nhánh dài của nhiễm sắc thể số 2, tại vùng 2q14, rất gần với vị trí locus của gen mã hóa IL-1Ra [31].

IL-36Ra có vai trò ngăn chặn không cho IL-36 gắn vào thụ thể của nó, do đó ngăn chặn sự hoạt hóa con đường viêm quá mức ở tế bào thượng bì, ngăn sự xuất hiện của vảy nến thể mủ [27]. Các đột biến ở gen IL36RN làm giảm số lượng, chức năng và hoạt động của IL-36Ra khiến cho IL-36 tăng hoạt động quá mức và dẫn đến quá trình viêm và sự xuất hiện của vảy nến thể mủ [27],[32] Còn CARD14 là gen nằm trên nhiễm sắc thể số 17 có nhiệm vụ mã hóa tạo ra thành phần số 14 thuộc họ caspase recruitment domain (CARD). CARD là một loại phân tử gắn vào protein và điều hòa các protein gắn CARD này đi vào con đường chết tế bào theo chu trình (apoptosis) hoặc kích hoạt con đường tín hiệu NF-κB. Các đột biến gen CARD14 làm tăng hoạt động của protein CARD, khiến cho các tế bào thượng bì kích hoạt con đường tín hiệu NF-κB, từ đó gây ra các bệnh lý da viêm, trong đó có vảy nến thể mủ [14] Trong 1 nghiên cứu trên 102 người châu Á bị VNTMTT, tỷ lệ có tiền sử gia đình bị vảy nến thể mảng là 29% và vảy nến thể mủ là 11%, từ đó cho thấy rằng bệnh lí này có thể liên quan yếu tố di truyền lặn trên nhiễm sắc thể (NST) thường [18].

Những nghiên cứu sau đó đã củng cố thêm cho luận điểm này khi đột biến gen IL36RN được tìm thấy ở các thành viên trong gia đình có tiền sử VNTMTT, các nghiên cứu được thực hiện rải rác ở các nước Anh, Đức, Tunisia, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản… 6 điều đó cho thấy đột biến gen này không chỉ giới hạn ở một dân số nhất định nào đó [33]. Sự hiểu biết về các gen khác đóng góp vai trò vào bệnh lí VNTMTT ngày càng nhiều hơn. Gần đây, một số báo cáo tìm thấy đột biến gen CARD14 trên các bệnh nhân VNTMTT, đặc biệt là những bệnh nhân có kèm theo vảy nến thể mảng [2]. Do đó, việc xác định các đột biến gen đặc hiệu cho các thể bệnh có thể giúp ích rất nhiều cho liệu pháp điều trị nhắm trúng đích [34],[35] 1.3 Lâm sàng Có nhiều dạng lâm sàng của VNTMTT được mô tả trong các y văn thế giới.

Theo Rook’s textbook of Dermatology 2016, VNTMTT có các dạng lâm sàng chính sau: 1.1 VNTMTT thể Von Zumbusch Đây là dạng lâm sàng cấp tính, nặng nề nhất. Được đặt tên theo bác sĩ Leo von Zumbusch, người đầu tiên mô tả hình ảnh lâm sàng hồng ban mụn mủ cấp tính của 2 anh em, tái phát trong nhiều năm, đôi lúc khởi phát sau ngưng điều trị thuốc thoa. Có thể có tiền triệu trước phát ban bằng cảm giác nóng rát ở da, da trở nên khô, rát và nhạy cảm. Tiếp đó bệnh nhân sẽ có triệu chứng sốt cao từng cơn và cảm giác mệt mỏi, kiệt sức.

Trên da bắt đầu xuất hiện các mụn mủ li ti như đầu đinh ghim trên nền hồng ban. Các hồng ban và mụn mủ này nhanh chóng lan tỏa đến các vị trí khác của cơ thể. Khi đã lan tỏa, hình thái của các hồng ban mụn mủ có thể thay đổi và rất đa dạng: mụn mủ đơn độc, các mụn mủ hợp lưu thành “hồ mủ”, các mụn mủ phân bố dạng viền quanh mảng hồng ban, phân bố dạng lá dương xỉ…và nặng nhất có thể diễn tiến thành đỏ da toàn thân. Các mụn mủ có thể diễn tiến thành những đợt nối tiếp nhau, khi xuất hiện mụn mủ mới, các mụn mủ cũ khô dần để lại các mảng đỏ da và vảy mài khô dễ tróc trên diện rộng.

Ở móng hình thành các mụn mủ hay hồ mủ dưới nền móng gây nên hiện tượng ly tách móng, dày móng và có thể phá hủy toàn bộ bề mặt móng. Niêm mạc miệng bị tổn thương tạo nên dạng lưỡi bản đồ hoặc lưỡi dạng bìu [36],[37],[38] 7 Hình 1.1: Hồng ban lan rộng, mụn mủ, hồ mủ trên da bệnh nhân VNTMTT [39]  VNTMTT dạng vành khuyên (hay dạng vòng) Sang thương mụn mủ ban đầu rời rạc, sau đó nhô lên và tiến triển ly tâm tạo thành dạng vòng quanh rìa tổn thương như hồng ban vòng ly tâm. Các mụn mủ ở rìa sang thương khô dần, bong vảy tạo hình ảnh khăn choàng cổ. Bệnh đôi khi đi kèm triệu chứng toàn thân như sốt, mệt mỏi… Dạng sang thương này cũng có thể gặp ở thể von Zumbusch, nhưng có vẻ đặc hiệu hơn cho thể bán cấp và mạn tính của vảy nến thể mủ [18],[40] Hình 1.2: Vảy nến thể mủ dạng vành khuyên (hay dạng vòng) [39] 8 Sang thương là những mảng viêm đỏ với bờ hoạt động gồm nhiều mụn mủ mọc ở rìa sang thương, mụn mủ vỡ đóng mài hoặc tróc vảy.

Khi các tổn thương lớn dần, ở vùng trung tâm sẽ sạch các mụn mủ chỉ còn lại hồng ban 1.2 VNTMTT thai kỳ (Impetigo herpetiformis) Những nghiên cứu về di truyền học và sinh học phân tử gần đây cho thấy VNM thai kỳ là biểu hiện lâm sàng của VNTMTT có yếu tố thúc đẩy hoặc xảy ra trong thai kỳ [41],[42]. Bệnh thường khởi phát vào 3 tháng cuối của thai kỳ, thường kéo dài cho đến sau khi sinh, ảnh hưởng nhiều đến tổng trạng của thai phụ và đôi khi gây ra những biến chứng có thể đe dọa tính mạng bệnh nhân [43],[44],[45],[46] 1.3 VNTMTT ở trẻ nhũ nhi và thiếu niên Các dạng lâm sàng VNM đều hiếm gặp ở trẻ em và thiếu niên. VNTMTT có thể xảy ra ở bất kì độ tuổi nào, đỉnh khởi phát được ghi nhận trong khoảng 2-10 tuổi, nhưng khoảng 25% các trường hợp khởi phát trong năm đầu tiên. Bệnh có thể bắt đầu vài tuần sau sinh, thậm chí đã có báo cáo 2 trường hợp VNTMTT bẩm sinh được ghi nhận [47].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Mối liên quan giữa đột biến gen IL36RN và CARD14 với biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân vảy nến thể mủ" khám phá mối liên hệ giữa các đột biến gen và sự phát triển của bệnh vảy nến thể mủ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cơ chế di truyền của bệnh mà còn giúp các bác sĩ và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân. Điều này có thể dẫn đến những phương pháp điều trị hiệu quả hơn trong tương lai.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến bệnh lý và các yếu tố sinh học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và hs crp procalcitonin interleukin 6 trong viêm phổi nặng do vi rút ở trẻ em dưới 5 tuổi, nơi nghiên cứu các yếu tố sinh học trong bệnh viêm phổi ở trẻ em. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu biến đổi lâm sàng thông khí phổi mức độ kiểm soát và nồng độ một số cytokine huyết thanh ở bệnh nhân hen phế quản điều trị bằng ics và laba cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về vai trò của cytokine trong các bệnh lý hô hấp. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của alen cyp2c19 2 cyp2c19 3 và một số yếu tố liên quan tới tính đáp ứng của clopidogrel ở bệnh nhân nhồi máu não, giúp bạn mở rộng kiến thức về di truyền và đáp ứng điều trị trong các bệnh lý tim mạch. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố sinh học và di truyền trong y học.