Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế về nghiên cứu y sinh học, Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (TNLS) thuốc đa trung tâm, đa quốc gia. Nguyên tắc cốt lõi của Thực hành tốt thử thuốc trên lâm sàng (Good Clinical Practice – GCP) và Hướng dẫn Quốc gia về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học là đặt sự an toàn, quyền lợi và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu lên trên các mối quan tâm về khoa học và thương mại. Việc theo dõi, ghi nhận, xử trí và báo cáo các biến cố bất lợi (Adverse Event – AE), đặc biệt là biến cố bất lợi nghiêm trọng (Serious Adverse Event – SAE) là yêu cầu pháp lý bắt buộc nhằm hoàn thiện hồ sơ an toàn của thuốc trước khi cấp phép lưu hành.

Mặc dù giữ vai trò then chốt, hoạt động báo cáo SAE trên thực tế vẫn tồn tại nhiều hạn chế về số lượng, chất lượng, sự chậm trễ thời gian và đặc biệt là tình trạng báo cáo thiếu (under-reporting) hoặc che giấu thông tin. Tại Việt Nam, trước năm 2014, mới chỉ có duy nhất một nghiên cứu sơ bộ hồi cứu 168 báo cáo SAE giai đoạn 2011–2013, chưa tiếp cận được dữ liệu nguồn tại các cơ sở nhận thử, chưa đánh giá thực trạng báo cáo thiếu, chưa phân tích các yếu tố ảnh hưởng mang tính hệ thống và chưa có nghiên cứu can thiệp cải thiện. Luận án "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết toàn diện khoảng trống nghiên cứu này.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược năm 2014.
  2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược.
  3. Bước đầu đánh giá hiệu quả của một số giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc hóa dược giai đoạn năm 2015 – 2017.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Thực trạng hoạt động báo cáo SAE tại Việt Nam về số lượng, chất lượng, thời hạn và tỷ lệ báo cáo thiếu diễn ra ở mức độ nào?
  • Hệ thống quản lý và cơ sở vật chất, quy trình tại các bệnh viện triển khai TNLS đã đáp ứng các tiêu chuẩn quản lý an toàn hay chưa?
  • Những yếu tố nào từ phía cơ quan quản lý, tổ chức nhận thử, nghiên cứu viên và người bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động báo cáo SAE?
  • Các can thiệp quản lý kỹ thuật và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật có tác động như thế nào đến việc cải thiện hoạt động báo cáo SAE trong thực tế?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Toàn bộ hồ sơ báo cáo SAE trong TNLS thuốc hóa dược tại Việt Nam có ngày nghiên cứu viên (NCV) ký từ 01/01/2014 đến 31/12/2017 lưu trữ tại Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo (KHCN&ĐT) – Bộ Y tế và Văn phòng Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Quốc gia (dữ liệu năm 2014 phục vụ mục tiêu 1; dữ liệu 2015–2017 phục vụ mục tiêu 3).
    • Cán bộ quản lý, NCV chính, NCV, điều dưỡng nghiên cứu, dược sĩ nghiên cứu, giám sát viên (CRA) có ít nhất 02 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực TNLS tại 15 bệnh viện mẫu.
    • Toàn bộ hồ sơ bệnh án, tài liệu nguồn và tài liệu quản lý liên quan của các TNLS thuốc hóa dược tại 15 bệnh viện.
  • Phạm vi không gian: 15 bệnh viện triển khai TNLS thuốc hóa dược trọng điểm trên toàn quốc gồm: BV Bạch Mai (Trung tâm Hô hấp, Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu), BV K Trung ương, BV Phổi Trung ương, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương, BV Chợ Rẫy, BV Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, BV Phạm Ngọc Thạch, BV Ung bướu TP. Hồ Chí Minh, BV Nhân dân 115, BV Nhân dân Gia Định, BV Tim TP. Hồ Chí Minh, BV Tim Tâm Đức, BV Nguyễn Tri Phương, BV Bệnh Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh và Cục KHCN&ĐT – Bộ Y tế (loại trừ các bệnh viện triển khai dưới 5 TNLS thuốc hóa dược và thu dung dưới 30 bệnh nhân giai đoạn 2013–2014).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tổng thể thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 10/2018; thời gian thu thập dữ liệu thực địa từ tháng 10/2014 đến tháng 03/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế và trong nước

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam theo 4 hướng chính:

  1. Thực trạng báo cáo thiếu và không minh bạch thông tin SAE:

    • Nghiên cứu của Ioannidis và Mhaskar (2001, 2006) chỉ ra các thiết kế TNLS thường bỏ qua theo dõi an toàn, hoặc cố tình che giấu chứng cứ nguy hại của thuốc. Vụ việc rofecoxib (Vioxx) của Merck Sharp & Dohme trong nghiên cứu VIGOR là ví dụ điển hình về che giấu nguy cơ tim mạch.
    • Seruga và cộng sự (2016) trên Lancet Oncology và Maillet và cộng sự (2016) chứng minh NCV trong các thử nghiệm ung thư thường xem nhẹ mức độ nghiêm trọng, dẫn đến báo cáo thiếu các AE mức độ 3, 4 và 5 theo thang CTCAE.
    • Di Maio và cộng sự (2015) khảo sát 1.090 bệnh nhân ung thư tại Ý cho thấy tỷ lệ NCV bỏ sót 6 loại độc tính lâm sàng chủ quan dao động từ 40,7% đến 74,4%.
    • Các khảo sát so sánh dữ liệu ClinicalTrials.gov với bài báo công bố của Pitrou (2009), Loke (2007), Tang (2015), Hartung (2015), Riveros (2013) và Deborah (2014) đều khẳng định từ 13% đến 37% bài báo không đề cập SAE hoặc công bố số liệu an toàn thấp hơn dữ liệu đăng ký gốc.
  2. Chất lượng và thời hạn nộp báo cáo SAE:

    • Crepin và cộng sự (2016) tại Bệnh viện Đại học Limoges (Pháp) đánh giá 247 báo cáo SAE thuộc 10 TNLS: 32,4% thiếu thông tin cận lâm sàng và tiền sử để thẩm định quan hệ nhân quả; 15% thông tin không chính xác; 12,1% thiếu kết cục bệnh nhân.
    • Dorr và cộng sự (2009) khảo sát 14 TNLS của imatinib mesylate: chỉ 40,3% báo cáo gửi Hội đồng Đạo đức có đủ dữ liệu thẩm định quan hệ nhân quả theo thang Naranjo.
    • Liauw và Day (Úc) chỉ ra quy trình báo cáo đa tầng nấc gây chậm trễ kéo dài nhiều tháng khi chuyển tiếp báo cáo đến Hội đồng Đạo đức tiểu bang.
  3. Sự không đồng đều trong ghi nhận an toàn giữa các quốc gia và trung tâm:

    • Joelson và cộng sự (2005) phân tích 127 TNLS tiêu hóa tại 13 quốc gia: tỷ lệ bệnh nhân có báo cáo SAE biến thiên từ 1% (Bỉ, Ý, Anh) đến 20% (Úc, Hà Lan).
    • Grill và cộng sự (2013) trên các thử nghiệm Alzheimer ghi nhận tỷ lệ báo cáo SAE tại Đông Âu, Nga và Châu Á thấp hơn đáng kể so với Bắc Mỹ và Tây Âu.
  4. Nghiên cứu tại Việt Nam:

    • Nghiên cứu của Cục KHCN&ĐT phối hợp với Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc (2014) khảo sát 168 báo cáo SAE giai đoạn 2011–2013: 83% TNLS không có báo cáo SAE; 16,7% báo cáo chưa đạt chất lượng; 50,6% báo cáo gửi muộn so với quy định của Công văn 6586/BYT-K2ĐT.
    • Phạm Thị Thúy Vân (2015) ứng dụng bộ công cụ IPAT đánh giá hệ thống cảnh giác dược tại các bệnh viện Việt Nam cho thấy mức độ hoàn thiện trung bình đạt 44,4%.
Nhóm nghiên cứu Tác giả & Năm Đối tượng & Phương pháp Phát hiện chính
Báo cáo thiếu & Sai lệch công bố Tang và cs. (2015) 202 TNLS so sánh ClinicalTrials.gov với bài báo Chỉ 11% bài báo khớp dữ liệu; 13% không nhắc tới SAE; 32% làm giảm mức độ an toàn
Báo cáo thiếu & Sai lệch công bố Hartung và cs. (2015) 110 TNLS pha III, IV 30% có sự sai lệch số lượng SAE; 87% trường hợp có số SAE trên ClinicalTrials.gov cao hơn
Chất lượng báo cáo đơn lẻ Crepin và cs. (2016) 247 báo cáo SAE tại BVĐH Limoges 32,4% thiếu dữ liệu thẩm định nhân quả; 15% thông tin không chính xác; 11,2% thiếu tên thuốc
Chất lượng báo cáo đơn lẻ Dorr và cs. (2009) 14 TNLS imatinib, đối chiếu bệnh án Chỉ 40,3% báo cáo đầy đủ thông tin phục vụ thẩm định nhân quả theo thang Naranjo
Báo cáo SAE tại Việt Nam Bộ Y tế & DI&ADR (2014) 168 báo cáo SAE giai đoạn 2011–2013 83% TNLS không nộp báo cáo; 50,6% báo cáo nộp muộn; 16,7% chất lượng chưa đạt

Vị trí và điểm giải quyết của luận án

Hầu hết các nghiên cứu quốc tế chỉ tiếp cận dữ liệu thứ cấp (bài báo công bố, dữ liệu tóm tắt trên ClinicalTrials.gov). Luận án này là công trình đầu tiên tại Việt Nam và nằm trong số ít nghiên cứu trên thế giới tiếp cận trực tiếp dữ liệu nguồn (hồ sơ bệnh án, phiếu thu thập dữ liệu CRF, kết quả xét nghiệm, công văn nộp lưu trữ gốc) tại 15 bệnh viện lớn. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp phương pháp hỗn hợp để định lượng hóa các rào cản và đánh giá tác động trực tiếp của các can thiệp chính sách từ cơ quan quản lý.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và khung phân tích

Luận án chuẩn hóa và vận dụng các khái niệm theo ICH-E2A, ICH-E6 (GCP), US-FDA, EMA và Bộ Y tế:

  • Biến cố bất lợi (AE): Bất kỳ biến cố y khoa bất lợi nào xảy ra trên đối tượng dùng thuốc, không nhất thiết có quan hệ nhân quả.
  • Biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE): Biến cố dẫn đến: tử vong, đe dọa tính mạng, nhập viện/kéo dài thời gian nằm viện, tàn tật/thương tật vĩnh viễn, dị tật bẩm sinh hoặc đòi hỏi can thiệp y khoa để phòng ngừa các hậu quả trên.
  • Phản ứng bất lợi nghiêm trọng ngoài dự kiến nghi do thuốc nghiên cứu (SUSAR): Phản ứng vừa nghiêm trọng, có nghi ngờ liên quan đến thuốc, vừa không trùng khớp với thông tin sẵn có trong Hồ sơ sản phẩm nghiên cứu (IB).

Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm 4 nhóm:

  1. Nhóm yếu tố quản lý nhà nước (quy định, cơ chế, biểu mẫu, phương thức gửi nhận).
  2. Nhóm yếu tố tại tổ chức nhận thử/bệnh viện (năng lực Hội đồng Đạo đức cơ sở, quy trình SOP, kiến thức, thái độ và kinh nghiệm của NCV).
  3. Nhóm yếu tố liên quan đến các bên khác (nhà tài trợ/CRO, nhận thức và tâm lý của người bệnh).
  4. Nhóm yếu tố khách quan (đặc điểm lâm sàng của SAE, pha thử nghiệm, nguồn kinh phí nghiên cứu).
Khung phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng:

Bộ công cụ nghiên cứu

  • Bộ công cụ IPAT (SIAPS/USAID): Trích xuất 20 chỉ số đặc thù về TNLS (gồm chỉ số chính tính 2 điểm, chỉ số phụ tính 1 điểm) để đánh giá năng lực hệ thống quản lý an toàn tại 15 bệnh viện.
  • Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng báo cáo: Xây dựng dựa trên 12 nhóm thông tin của Crepin kết hợp tiêu chuẩn thẩm định quan hệ nhân quả Naranjo và thang độ nặng CTCAE của Dorr.
  • Tiêu chuẩn CONSORT: Bộ 10 khuyến cáo chuẩn mực về báo cáo an toàn và nguy cơ.

Thiết kế nghiên cứu thành phần

Luận án kết hợp 6 nghiên cứu nhánh tương ứng với 3 mục tiêu:

Mã NC Tên nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nguồn dữ liệu & Cỡ mẫu Kỹ thuật phân tích
NC 1.1 Khảo sát thực trạng số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời hạn báo cáo SAE năm 2014 Mô tả hồi cứu cắt ngang Toàn bộ báo cáo SAE thuốc hóa dược năm 2014 tại Cục KHCN&ĐT Thống kê mô tả, tỷ lệ % đầy đủ thông tin, tỷ lệ đúng hạn theo CV 6586
NC 1.2 Khảo sát công tác quản lý và thực hành báo cáo SAE tại các bệnh viện Mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu tài liệu Khảo sát thực địa tại 15 bệnh viện triển khai TNLS Bộ chỉ số IPAT (20 chỉ số), chấm điểm hoàn thiện hệ thống
NC 1.3 Khảo sát thực trạng báo cáo thiếu SAE tại các bệnh viện Mô tả cắt ngang đối chiếu tài liệu nguồn Rà soát hồ sơ bệnh án, CRF của các TNLS tại 15 bệnh viện So sánh tỷ lệ AE thỏa mãn định nghĩa SAE nhưng không được báo cáo
NC 2.1 Nghiên cứu định tính về các yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo SAE Định tính phỏng vấn sâu 15 chuyên gia, cán bộ quản lý, NCV, CRA Phân tích nội dung theo chủ đề (thematic analysis) qua phỏng vấn bán cấu trúc
NC 2.2 Phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo SAE Mô tả cắt ngang định lượng Khảo sát NCV, cán bộ y tế tại 15 BV bằng thang đo Likert 5 mức độ Phân tích nhân tố khám phá (EFA), hồi quy đa biến tuyến tính/logistic
NC 3.1 Đánh giá hiệu quả các giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo SAE (2017 so với 2014) Nghiên cứu so sánh trước – sau (Before-After) Toàn bộ báo cáo SAE giai đoạn 2015–2017 tại Cục KHCN&ĐT Phân tích điểm thay đổi (change-point), chuỗi thời gian gián đoạn (ITS)

Hệ thống biến số nghiên cứu

Luận án theo dõi và đo lường 47 biến số chính:

  • Biến số mô tả báo cáo (NC 1.1 & 3.1): Mức độ liên quan thuốc - biến cố, mức độ nghiêm trọng (tử vong/đe dọa tính mạng/khác), mã ICD-10 của bệnh nghiên cứu, nhà tài trợ, bệnh viện nhận thử; tình trạng ghi nhận 5 mục nội dung (thông tin hành chính, người báo cáo, người bệnh, biến cố SAE, thuốc nghi ngờ); thời gian từ khi xảy ra biến cố đến khi NCV ký, thời gian Hội đồng Đạo đức cơ sở ký, thời gian làm công văn tóm tắt, thời gian gửi tới Cục KHCN&ĐT; tính tuân thủ thời hạn (theo mốc 7 ngày/15 ngày của Công văn 6586 và mốc 9 ngày/19 ngày của Quyết định 62).
  • Biến số hệ thống quản lý tại BV (NC 1.2): Điểm chính sách chung, điểm quy định cụ thể, điểm quy trình thao tác chuẩn (SOP), điểm bộ phận quản lý/nội kiểm/ngoại kiểm, điểm cơ sở vật chất và đào tạo nhân lực theo thang đo IPAT.
  • Biến số yếu tố ảnh hưởng (NC 2.2): 23 biến đo lường thái độ, nhận thức, tính phức tạp của thủ tục, rào cản hành chính, khối lượng công việc, sự phản hồi của cơ quan quản lý trên thang đo Likert 5 mức độ.

Nội dung chính theo từng chương

Tổng quan về thử nghiệm lâm sàng và hệ thống báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

Chương này tổng kết xu hướng toàn cầu hóa của TNLS và hệ thống hóa khung pháp lý quốc tế cũng như tại Việt Nam:

  • Quy định của US-FDA: Bắt buộc báo cáo 3 nhóm: SUSAR, phát hiện nguy cơ quan trọng từ các nghiên cứu khác, và sự gia tăng tần suất ADR nghiêm trọng. Thời hạn quy định: trong vòng 15 ngày làm việc; riêng SUSAR gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng phải báo cáo khẩn trong vòng 7 ngày làm việc qua hệ thống điện tử hoặc văn bản.
  • Quy định của EMA: Vận hành cơ sở dữ liệu an toàn tập trung EudraVigilance, yêu cầu báo cáo trực tuyến khẩn cấp các ca đơn lẻ nội khối và nộp báo cáo định kỳ liệt kê 6 tháng (line-listing report) đối với các biến cố đa quốc gia ngoài lãnh thổ.
  • Quy định tại Việt Nam trước can thiệp (Công văn số 6586/BYT-K2ĐT năm 2012):
    • NCV báo cáo cho Nhà tài trợ và Hội đồng Đạo đức cơ sở trong vòng 24 giờ.
    • Báo cáo gửi Ban Đánh giá vấn đề đạo đức - Bộ Y tế: SAE tử vong/đe dọa tính mạng gửi báo cáo ban đầu trong vòng 7 ngày và báo cáo bổ sung trong vòng 15 ngày; các SAE khác gửi trong vòng 15 ngày. Báo cáo hoàn toàn thực hiện bằng bản giấy qua đường bưu điện hoặc công văn hành chính.
So sánh quy định báo cáo khẩn cấp SAE giữa US-FDA, EMA và Việt Nam (năm 2014):

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu tại 15 bệnh viện lớn trên cả ba miền Bắc - Trung - Nam, các biểu mẫu thu thập dữ liệu cắt ngang, quy trình phỏng vấn sâu 15 chuyên gia quản lý/lâm sàng, và cấu trúc ma trận biến số theo thang đo IPAT, Crepin, Dorr. Chương này chuẩn hóa phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy nhằm xác định mức độ tác động của từng rào cản hành vi và thể chế.

Thực trạng hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng năm 2014

Khảo sát toàn diện dữ liệu năm 2014 cho thấy các kết quả nổi bật:

  • Số lượng báo cáo SAE nhận được tại Cục KHCN&ĐT còn thấp so với quy mô các thử nghiệm đang vận hành, phân bố chủ yếu ở các TNLS đa quốc gia do doanh nghiệp dược tài trợ.
  • Chất lượng báo cáo: Tỷ lệ báo cáo ghi nhận đầy đủ 5 trường thông tin thiết yếu còn hạn chế; nhiều báo cáo thiếu dữ liệu xét nghiệm chuyên sâu, thiếu tiền sử bệnh và thiếu phân tích nhận định mối liên quan nhân quả giữa thuốc nghiên cứu và biến cố.
  • Tuân thủ thời gian: Tỷ lệ nộp muộn chiếm tỷ trọng lớn; nguyên nhân chính do thời gian chờ thẩm định, ký duyệt qua các cấp hành chính tại bệnh viện và chờ họp Hội đồng Đạo đức cơ sở kéo dài.
  • Đánh giá theo IPAT: Hệ thống quản lý tại các bệnh viện thiếu tính đồng bộ; nhiều đơn vị chưa ban hành SOP riêng cho báo cáo an toàn, thiếu nhân sự chuyên trách và chưa có phần mềm quản lý lưu trữ dữ liệu an toàn.
  • Báo cáo thiếu: Đối chiếu tài liệu nguồn tại bệnh viện phát hiện nhiều trường hợp bệnh nhân nhập viện hoặc biến cố kéo dài đủ tiêu chuẩn SAE nhưng chỉ được ghi nhận nội bộ trong bệnh án mà không được hoàn thiện hồ sơ báo cáo lên cơ quan quản lý.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng

Kết quả phân tích định tính và định lượng (EFA và hồi quy) xác lập các rào cản chính:

  • Về cơ chế và quy định: Quy trình báo cáo văn bản giấy phức tạp, chồng chéo trách nhiệm giữa NCV, Nhà tài trợ và Hội đồng Đạo đức cơ sở; biểu mẫu báo cáo chưa tối ưu, thiếu hướng dẫn cụ thể về thuật ngữ mã hóa biến cố.
  • Về tổ chức nhận thử và NCV: NCV chịu áp lực khối lượng công việc chuyên môn khám chữa bệnh lớn; kiến thức về phân loại AE/SAE và quy định GCP chưa đồng đều; tâm lý e ngại trách nhiệm hoặc lo sợ ảnh hưởng đến tiến độ thử nghiệm; Hội đồng Đạo đức cơ sở thiếu kinh phí và nhân lực chuyên gia an toàn.
  • Về phía đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân không nhớ hoặc không nhận thức được tầm quan trọng của việc thông báo các dấu hiệu bất thường cho NCV; tâm lý che giấu triệu chứng vì sợ bị loại khỏi nghiên cứu.
  • Về cơ chế phản hồi: Cơ quan quản lý chưa có cơ chế phản hồi thông tin thường quy sau khi tiếp nhận báo cáo SAE, làm giảm động lực tuân thủ của cơ sở thử nghiệm.

Đánh giá hiệu quả các giải pháp can thiệp giai đoạn 2015 – 2017

Từ kết quả khảo sát thực trạng và yếu tố ảnh hưởng, Bộ Y tế và Cục KHCN&ĐT đã thực hiện hai nhóm can thiệp trọng tâm:

  1. Triển khai hoạt động giám sát kỹ thuật chuyên đề báo cáo SAE định kỳ tại các điểm nghiên cứu từ tháng 06/2015.
  2. Ban hành Quyết định số 62/QĐ-K2ĐT ngày 02/06/2017 ban hành Hướng dẫn thử thuốc trên lâm sàng tại Việt Nam, điều chỉnh quy định báo cáo SAE (mở rộng khung thời gian báo cáo thành 9 ngày làm việc cho ca tử vong/đe dọa tính mạng và 19 ngày làm việc cho ca khác; phân định rõ quy trình báo cáo khẩn cấp và trách nhiệm các bên).

Kết quả phân tích so sánh trước - sau (2017 so với 2014) và chuỗi thời gian gián đoạn ghi nhận:

  • Tỷ lệ báo cáo đầy đủ thông tin hành chính, thông tin lâm sàng và đánh giá quan hệ nhân quả tăng rõ rệt có ý nghĩa thống kê.
  • Tỷ lệ tuân thủ thời hạn báo cáo theo quy định mới tăng lên đáng kể.
  • Nhận thức và thực hành ghi nhận tài liệu nguồn tại 15 bệnh viện có sự cải thiện rõ rệt, tỷ lệ bỏ sót/báo cáo thiếu SAE giảm mạnh so với giai đoạn 2014.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  1. Xây dựng và kiểm định thành công khung lý thuyết gồm 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo SAE trong TNLS tại một quốc gia đang phát triển.
  2. Vận dụng và chuẩn hóa thành công bộ công cụ quốc tế IPAT (SIAPS/USAID), bộ tiêu chí Crepin và tiêu chuẩn Naranjo - CTCAE của Dorr vào điều kiện thực tiễn quản lý thử nghiệm lâm sàng tại Việt Nam.
  3. Thiết lập mô hình đánh giá kết hợp giữa phân tích dữ liệu nguồn thực địa (bệnh án, CRF) và khảo sát hành vi NCV, cung cấp phương pháp luận chuẩn xác để đo lường hiện tượng báo cáo thiếu SAE.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và quản lý

  1. Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực chứng toàn diện đầu tiên về thực trạng số lượng, chất lượng, mức độ chậm trễ và tỷ lệ báo cáo thiếu SAE tại 15 bệnh viện hạt nhân trên toàn quốc.
  2. Kết quả nghiên cứu trực tiếp đóng góp bằng chứng khoa học để Cục KHCN&ĐT – Bộ Y tế ban hành Quyết định 62/QĐ-K2ĐT (2017), giúp điều chỉnh khung thời hạn báo cáo khả thi, cải tiến biểu mẫu báo cáo chuẩn hóa và tái cấu trúc cơ chế phê duyệt của Hội đồng Đạo đức cơ sở.
  3. Chứng minh hiệu quả của mô hình giám sát kỹ thuật định kỳ tại điểm nghiên cứu trong việc nâng cao chất lượng báo cáo an toàn thuốc.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý (Bộ Y tế, Cục KHCN&ĐT):
    • Khẩn trương xây dựng và đưa vào vận hành cổng thông tin tiếp nhận và cơ sở dữ liệu trực tuyến về báo cáo SAE (tương tự EudraVigilance hoặc FDA MedWatch), từng bước thay thế hoàn toàn báo cáo văn bản giấy.
    • Thiết lập cơ chế phản hồi hai chiều định kỳ từ cơ quan quản lý tới các cơ sở thử nghiệm sau khi tiếp nhận và phân tích dữ liệu SAE.
    • Duy trì thường quy công tác thanh tra, kiểm tra kỹ thuật chuyên đề về cảnh giác dược trong TNLS.
  • Đối với cơ sở nhận thử (Bệnh viện):
    • Ban hành và định kỳ rà soát các quy trình thao tác chuẩn (SOP) về phát hiện, xử trí và báo cáo SAE.
    • Thành lập bộ phận chuyên trách giám sát an toàn nghiên cứu trực thuộc Hội đồng Đạo đức cơ sở; nâng cao cơ sở vật chất lưu trữ hồ sơ.
    • Tăng cường tập huấn định kỳ về GCP, kỹ năng nhận diện SAE và điền biểu mẫu báo cáo an toàn cho đội ngũ NCV, điều dưỡng và nghiên cứu viên phụ.
  • Đối với NCV và Nhà tài trợ:
    • Nghiêm túc thực hiện việc hướng dẫn chi tiết cho đối tượng nghiên cứu về quyền lợi và các dấu hiệu bất thường cần liên hệ bác sĩ ngay lập tức.
    • Tăng cường phối hợp chia sẻ dữ liệu an toàn tổng hợp giữa Nhà tài trợ, DSMB và NCV tại các điểm thử nghiệm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Giới hạn đối tượng sản phẩm: Luận án tập trung chuyên sâu vào các TNLS thuốc hóa dược, chưa mở rộng đánh giá trên các đối tượng TNLS khác như vắc xin, thuốc sinh học, thuốc dược liệu hay thiết bị y tế.
  • Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu thực địa tập trung tại 15 bệnh viện tuyến trung ương và chuyên khoa lớn (nơi chiếm đa số các TNLS thuốc hóa dược), loại trừ các bệnh viện quy mô nhỏ (< 5 TNLS và < 30 bệnh nhân), do đó khả năng ngoại suy cho toàn bộ các cơ sở y tế nhỏ mới tham gia TNLS cần được xem xét thận trọng.
  • Hệ thống thu thập dữ liệu: Quá trình đánh giá can thiệp giai đoạn 2015–2017 vẫn chủ yếu dựa trên hệ thống quản lý văn bản giấy và công văn hành chính, do hệ thống báo cáo an toàn trực tuyến cấp quốc gia chưa vận hành hoàn thiện trong giai đoạn này.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu mở rộng khảo sát thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo SAE đối với các thử nghiệm lâm sàng vắc xin và sinh phẩm y tế.
  • Nghiên cứu đánh giá tính khả thi, hiệu năng và tác động kinh tế - y tế khi triển khai hệ thống phần mềm quản lý và tiếp nhận báo cáo SAE điện tử trực tuyến toàn quốc.
  • Nghiên cứu sâu về tác động của các công cụ hỗ trợ người bệnh tự báo cáo biến cố an toàn (Patient-Reported Outcomes – PROs) trong các TNLS tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ thống y dược học:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế, Cục KHCN&ĐT, Cục Quản lý Dược): Cung cấp phương pháp luận và dữ liệu khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng hướng dẫn quốc gia về Cảnh giác dược trong TNLS và thiết kế hệ thống báo cáo an toàn trực tuyến.
  • Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học các cấp: Cung cấp bộ tiêu chí chuẩn mực (dựa trên Crepin, Dorr, CTCAE, Naranjo) để thẩm định chất lượng báo cáo SAE, đánh giá quan hệ nhân quả và theo dõi an toàn người bệnh.
  • Ban Giám đốc và cán bộ quản lý thử nghiệm tại các Bệnh viện: Cung cấp bộ công cụ IPAT (20 chỉ số) để tự đánh giá năng lực hệ thống cảnh giác dược cơ sở, chuẩn hóa hệ thống quy trình SOP và cấu trúc nhân sự hỗ trợ nghiên cứu.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản lý Dược, Dược lâm sàng, Y tế công cộng: Cung cấp mô hình phương pháp luận mẫu mực về thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed methods), kỹ thuật phân tích chuỗi thời gian gián đoạn và phương pháp tiếp cận dữ liệu nguồn thực địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy định về thời hạn báo cáo khẩn cấp SAE tại Việt Nam trước và sau giai đoạn can thiệp của luận án thay đổi như thế nào?

Trước can thiệp (theo Công văn số 6586/BYT-K2ĐT năm 2012), thời hạn quy định tính theo ngày dương lịch thông thường: đối với ca tử vong hoặc đe dọa tính mạng, báo cáo ban đầu phải nộp trong vòng không quá 7 ngày và báo cáo bổ sung đầy đủ trong vòng 15 ngày; các ca nghiêm trọng khác nộp trong vòng 15 ngày. Sau can thiệp (theo Quyết định số 62/QĐ-K2ĐT năm 2017 ban hành dựa trên kết quả nghiên cứu của luận án), thời hạn được điều chỉnh tính theo ngày làm việc: không quá 9 ngày làm việc đối với ca tử vong/đe dọa tính mạng và không quá 19 ngày làm việc đối với các trường hợp SAE khác, giúp giảm áp lực hành chính và tăng tính khả thi cho NCV.

2. Bộ công cụ IPAT được tác giả vận dụng để đánh giá năng lực cảnh giác dược tại các bệnh viện gồm những nội dung gì?

Tác giả đã trích xuất và chuẩn hóa 20 chỉ số đặc thù về TNLS từ bộ công cụ IPAT (SIAPS/USAID) bao quát 5 khía cạnh: 1) Chính sách chung về TNLS và báo cáo an toàn; 2) Quy định cụ thể và hướng dẫn trong đề cương; 3) Hệ thống quy trình thao tác chuẩn (SOP) phòng chống báo cáo thiếu và kiểm soát chất lượng; 4) Cơ cấu tổ chức quản lý, bộ phận chuyên trách, cơ sở dữ liệu và hoạt động nội/ngoại kiểm; 5) Điều kiện cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo và công tác đào tạo liên tục cho NCV.

3. Những nguyên nhân chính nào dẫn đến hiện tượng báo cáo thiếu SAE trong các thử nghiệm lâm sàng được tác giả chỉ ra từ y văn quốc tế?

Từ các tổng quan quốc tế (Ioannidis, Seruga, Maillet, Di Maio), luận án chỉ ra 4 nhóm nguyên nhân: 1) NCV có xu hướng xem nhẹ mức độ nghiêm trọng của các độc tính lâm sàng chủ quan so với cảm nhận của bệnh nhân; 2) Thiết kế nghiên cứu và thời gian theo dõi ngắn không bao quát được độc tính muộn; 3) NCV hoặc nhà tài trợ cố tình che giấu thông tin bất lợi nhằm bảo vệ quyền lợi thương mại của sản phẩm; 4) Bệnh nhân không nhận thức được dấu hiệu nguy hiểm hoặc e ngại bị rút khỏi thử nghiệm nên không thông báo cho bác sĩ.

4. Bốn nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động báo cáo SAE được xác lập trong luận án gồm những yếu tố nào?

Khung lý thuyết của luận án xác lập 4 nhóm: 1) Yếu tố cơ quan quản lý (quy định pháp lý, cơ chế báo cáo, thiết kế biểu mẫu, phương thức tiếp nhận bản giấy hay trực tuyến); 2) Yếu tố tổ chức nhận thử (năng lực Hội đồng Đạo đức cơ sở, quy trình SOP, kiến thức, thái độ và áp lực công việc chuyên môn của NCV); 3) Yếu tố các bên liên quan (sự hợp tác của Nhà tài trợ/CRO, nhận thức và tâm lý của đối tượng nghiên cứu); 4) Yếu tố khách quan (đặc điểm biến cố xuất hiện muộn/hiếm gặp, thiết kế thử nghiệm pha III thương mại).

5. Điểm khác biệt căn bản về phương pháp tiếp cận dữ liệu của luận án so với các nghiên cứu trước đây là gì?

Phần lớn các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam chỉ tiếp cận tài liệu thứ cấp (bài báo đã xuất bản, cơ sở dữ liệu tóm tắt trên ClinicalTrials.gov) hoặc nghiên cứu hồi cứu đơn lẻ trên số lượng báo cáo nhỏ. Luận án này tiếp cận trực tiếp dữ liệu nguồn toàn diện (hồ sơ bệnh án gốc, phiếu thu thập dữ liệu CRF, hồ sơ lưu trữ tại 15 bệnh viện lớn và cơ sở dữ liệu quản lý tại Cục KHCN&ĐT), đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu) và định lượng (EFA, hồi quy, chuỗi thời gian gián đoạn) để đánh giá thực trạng và can thiệp chính sách.


Kết luận

Luận án "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp cải thiện hoạt động báo cáo biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thử nghiệm lâm sàng thuốc tại Việt Nam" là công trình khoa học toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên nguồn dữ liệu thực địa tại 15 bệnh viện trọng điểm. Công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng về số lượng, chất lượng, sự chậm trễ và vấn đề báo cáo thiếu SAE trong giai đoạn trước năm 2015, đồng thời phân tích sâu sắc các rào cản từ thể chế, tổ chức nhận thử đến hành vi của NCV và người bệnh. Các kết quả nghiên cứu đã trực tiếp cung cấp bằng chứng khoa học xác đáng cho cơ quan quản lý trong việc ban hành Quyết định 62/QĐ-K2ĐT và triển khai hoạt động giám sát kỹ thuật chuyên đề, mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc cải thiện chất lượng và tính tuân thủ báo cáo an toàn thuốc trong thử nghiệm lâm sàng tại Việt Nam.