Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra các biến cố tim mạch và đột quỵ, cướp đi sinh mạng của ít nhất 9,4 triệu người mỗi năm trên toàn cầu, chiếm khoảng 45% tổng số ca tử vong do bệnh tim mạch. Tại Việt Nam, kết quả điều tra quốc gia STEPS ghi nhận tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành từ 30 đến 69 tuổi là 21,2%, đồng thời căn bệnh này chiếm tới hơn 66% tổng gánh nặng bệnh tật không lây nhiễm trên cả nước.

Tại khu vực Tây Nguyên, làn sóng di dân tự do của các cộng đồng dân tộc thiểu số từ các tỉnh miền núi phía Bắc đã tạo nên những đặc điểm nhân khẩu học và lối sống đặc thù. Xã Đắk Drông thuộc huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông là địa bàn vùng sâu với 20 thôn buôn, trong đó đồng bào dân tộc H'Mông tập trung chủ yếu tại thôn 19 và thôn 20 với 2.901 nhân khẩu, chiếm gần 20% dân số toàn xã. Do điều kiện kinh tế khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo lên tới 47,25%, tập quán ăn mặn với các món thịt gác bếp ướp muối, lạm dụng rượu ngô và rào cản ngôn ngữ khiến vấn đề quản lý bệnh không lây nhiễm tại đây gặp rất nhiều thách thức.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Hoàng Xuân Hạnh được thực hiện từ tháng 3/2020 đến tháng 11/2020 nhằm hai mục tiêu trọng tâm: Mô tả thực trạng tăng huyết áp ở người H'Mông từ 30 đến 69 tuổi tại xã Đắk Drông, đồng thời xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng bệnh lý này. Công trình cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học thực chứng với cỡ mẫu 500 người, làm tiền đề khoa học để trạm y tế địa phương và trung tâm y tế huyện xây dựng mô hình can thiệp giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao chỉ số sức khỏe cho đồng bào thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng khung lý thuyết dịch tễ học bệnh không lây nhiễm dựa trên hướng dẫn chuẩn hóa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2019) và quy trình điều tra các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm STEPS. Khung phân tích tập trung vào ba nhóm biến số độc lập tác động trực tiếp đến huyết áp:

  1. Nhóm nhân khẩu học và sinh học: Bao gồm độ tuổi (phân nhóm 30–49 tuổi và 50–69 tuổi), giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tiền sử gia đình.
  2. Nhóm hành vi lối sống: Đánh giá thói quen sử dụng rượu bia dựa trên quy chuẩn đơn vị cồn (1 đơn vị tương đương 10g cồn nguyên chất), tình trạng hút thuốc lá, mức độ tiêu thụ muối (thói quen chấm thêm gia vị, ăn đồ chế biến sẵn nhiều muối), khẩu phần rau củ quả (tiêu chuẩn khuyến nghị tối thiểu 5 suất tương đương 400g/ngày của WHO), và mức độ hoạt động thể lực tính theo đơn vị chuyển hóa năng lượng (ngưỡng tối thiểu 600 MET-phút/tuần).
  3. Nhóm rối loạn chuyển hóa: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua chỉ số khối cơ thể (BMI = Cân nặng/Chiều cao bình phương).

Khái niệm tăng huyết áp trong nghiên cứu được định nghĩa theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế Việt Nam: Một người trưởng thành mắc tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu đạt từ 140 mmHg trở lên hoặc huyết áp tâm trương đạt từ 90 mmHg trở lên, hoặc đang sử dụng thuốc điều trị huyết áp hàng ngày.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang phân tích. Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với hệ số thiết kế D = 2 nhằm kiểm soát sai số cụm, mức ý nghĩa thống kê alpha = 0,05 và tỷ lệ dự đoán p = 0,212. Cỡ mẫu lý thuyết xác định là 510 đối tượng, thực tế thu thập thành công 500 người dân tộc H'Mông sinh sống liên tục ít nhất 1 năm tại thôn 19 và thôn 20 xã Đắk Drông.

Quy trình chọn mẫu kết hợp ngẫu nhiên đơn và kỹ thuật nhà liền kề xuất phát từ hộ gia đình trưởng thôn. Tiêu chuẩn lựa chọn là người từ 30 đến 69 tuổi; loại trừ phụ nữ mang thai, bà mẹ nuôi con bú dưới 12 tháng, người khuyết tật nặng và các trường hợp đang điều trị thuốc hạ áp tại thời điểm điều tra.

Kỹ thuật thu thập số liệu bao gồm phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc kết hợp tranh minh họa trực quan để vượt qua rào cản ngôn ngữ. Quy trình lâm sàng bao gồm đo huyết áp tự động 3 lần bằng máy đo Omron tiêu chuẩn y tế ở tư thế ngồi sau khi nghỉ ngơi 15 phút và không dùng chất kích thích trong 24 giờ trước đó. Các chỉ số nhân trắc học như chiều cao, cân nặng, vòng eo và vòng mông được đo đạc chính xác theo quy chuẩn y tế. Dữ liệu được nhập kép bằng phần mềm EpiData 6.0 và xử lý trên SPSS 18.0. Phương pháp kiểm định Chi bình phương (χ2) được lựa chọn để xác định mối liên quan giữa các yếu tố hành vi, nhân trắc với tỷ lệ tăng huyết áp ở ngưỡng ý nghĩa p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 500 đối tượng người H'Mông (gồm 263 nam chiếm 52,6% và 237 nữ chiếm 47,4%) đã ghi nhận các kết quả then chốt sau:

  • Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp chung: Đạt 19,2% (tương đương 96 đối tượng mới phát hiện). Phân loại theo mức độ lâm sàng cho thấy: Tỷ lệ tiền tăng huyết áp chiếm 12,0% (60 người), tăng huyết áp độ 1 chiếm 15,0% (75 người), tăng huyết áp độ 2 chiếm 3,6% (18 người), và tăng huyết áp độ 3 chiếm 0,6% (3 người).
  • Phân bố theo độ tuổi và giới tính: Nhóm tuổi 50–69 có tỷ lệ mắc tăng huyết áp lên tới 27,2% (68 người), cao gấp hơn 2,4 lần so với nhóm tuổi 30–49 (11,2% với 28 người). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rất cao với p < 0,001 (χ2 = 20,62). Chỉ số huyết áp tâm thu trung bình ở nhóm 50–69 tuổi đạt 127,0 ± 17,3 mmHg, cao hơn rõ rệt so với mức 119,0 ± 13,8 mmHg ở nhóm 30–49 tuổi. Nam giới có tỷ lệ mắc là 20,2% (53 người), cao hơn nữ giới với 18,1% (43 người), tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,57).
  • Mối liên quan với chế độ dinh dưỡng: Nhóm thường xuyên sử dụng mỡ động vật có tỷ lệ tăng huyết áp là 38,9%, cao gấp gần 3 lần so với nhóm ưu tiên dùng dầu thực vật (13,1%) với p < 0,001 (χ2 = 24,71). Thói quen thường xuyên chấm mắm, muối làm tăng tỷ lệ mắc bệnh lên 29,0% so với 11,0% ở nhóm thỉnh thoảng (p < 0,001). Đáng chú ý, có tới 80,8% dân số nghiên cứu ăn không đủ 5 suất rau mỗi ngày; trong nhóm người mắc bệnh, tỷ lệ ăn thiếu rau chiếm tới 66,7% (p < 0,001).
  • Mối liên quan với thể trạng và chất kích thích: Tỷ lệ thừa cân béo phì (BMI ≥ 25) trong quần thể nghiên cứu là 25,4% (127 người). Nhóm thừa cân béo phì có tỷ lệ tăng huyết áp đạt 30,7%, cao hơn hẳn mức 14,8% ở nhóm có thể trạng bình thường (p < 0,001). Người hút thuốc lá có tỷ lệ mắc bệnh là 25,9% so với 11,8% ở người không hút (p < 0,001). Người có thói quen uống rượu bia ghi nhận tỷ lệ mắc 34,1% so với 17,9% ở nhóm không uống (p = 0,03). Nhóm có mức độ hoạt động thể lực thấp có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất với 29,5% (p = 0,02).

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất sinh động thông qua biểu đồ cột kép so sánh chỉ số huyết áp tâm thu/tâm trương giữa hai nhóm tuổi, cùng với biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu phân độ tăng huyết áp từ giai đoạn tiền tăng huyết áp (12,0%) đến tăng huyết áp độ 3 (0,6%).

Tỷ lệ tăng huyết áp 19,2% ở người H'Mông tại xã Đắk Drông tương đương với kết quả nghiên cứu trên đồng bào dân tộc Ê Đê tại Đắk Lắk (19,7% - 20,0%) và người Nùng tại Thái Nguyên (18,7%). Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn mức trung bình toàn quốc trong điều tra STEPS 2015 ở cùng nhóm tuổi 30–69 (21,2%) và người Ê Đê tại Buôn Hồ (26,7%). Điều này phản ánh thực trạng bệnh tim mạch tại khu vực vùng cao đang tiến gần đến mức trung bình cả nước do sự thay đổi nhanh chóng của điều kiện sinh hoạt.

Nguyên nhân gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm cao tuổi (27,2%) bắt nguồn từ quá trình xơ cứng thành mạch sinh lý kết hợp với sự tích tụ lâu dài của các thói quen ăn uống không lành mạnh. Đặc thù ẩm thực vùng cao như tích trữ thịt lợn, thịt trâu ướp muối phơi gác bếp, thói quen uống rượu ngô trong các dịp lễ hội và rào cản tiếp cận nguồn rau xanh tươi (chỉ 19,2% đối tượng đạt chuẩn 400g rau/ngày) là những nhân tố thúc đẩy huyết áp tăng cao. Ngoài ra, việc 96% đối tượng có trình độ tiểu học và 97,4% làm nông nghiệp cho thấy khả năng tiếp cận thông tin y tế còn hạn chế, dẫn đến việc phần lớn bệnh nhân không hề biết mình mắc bệnh trước khi được đo khám sàng lọc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ mắc và kiểm soát biến chứng tăng huyết áp:

  1. Thiết lập mạng lưới sàng lọc và quản lý bệnh định kỳ: Trạm Y tế xã Đắk Drông phối hợp với Trung tâm Y tế huyện Cư Jút tổ chức đo huyết áp định kỳ hàng năm cho 100% người dân từ 30 tuổi trở lên tại thôn 19 và thôn 20. Mục tiêu trong giai đoạn 2021–2023 là phát hiện sớm và đưa vào diện quản lý điều trị ngoại trú cho ít nhất 70% số người mắc tăng huyết áp, kiểm soát chỉ số huyết áp ổn định dưới 140/90 mmHg.
  2. Triển khai chương trình truyền thông thay đổi hành vi dinh dưỡng: Ban Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và các tổ chức đoàn thể địa phương xây dựng tài liệu truyền thông song ngữ (tiếng Việt và tiếng H'Mông). Tập trung vận động người dân giảm 50% lượng muối trong nấu ăn hàng ngày, hạn chế ăn thịt ướp muối gác bếp, thay thế hoàn toàn mỡ động vật bằng dầu thực vật trong vòng 12 đến 18 tháng tới.
  3. Phát động phong trào tăng cường rau xanh và lối sống năng động: Hội Nông dân và Hội Phụ nữ xã Đắk Drông hướng dẫn kỹ thuật tự canh tác vườn rau sạch hộ gia đình nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt thực phẩm tươi, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình tiêu thụ đủ 400g rau/người/ngày từ 19,2% lên trên 55% trước năm 2024. Đồng thời, tổ chức các câu lạc bộ đi bộ và thể dục thể thao duy trì tối thiểu 150 phút hoạt động thể lực mức độ vừa mỗi tuần.
  4. Kiểm soát lạm dụng rượu bia và thuốc lá: Chính quyền xã Đắk Drông ban hành quy ước thôn buôn về việc hạn chế sử dụng rượu ngô, thuốc lá trong các dịp cưới xin, tang ma và lễ hội. Đặt mục tiêu giảm tỷ lệ nam giới uống rượu bia có hại xuống dưới 20% và tỷ lệ thừa cân béo phì xuống dưới 18% trong giai đoạn 2021–2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn phong phú cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý y tế và cơ quan hoạch định chính sách: Dữ liệu thực tế về tỷ lệ tăng huyết áp 19,2% và thực trạng ăn uống thiếu rau (80,8%) là căn cứ thực chứng quý giá để Sở Y tế tỉnh Đắk Nông và UBND huyện Cư Jút xây dựng chiến lược phòng chống bệnh không lây nhiễm đặc thù cho các vùng dân tộc thiểu số di cư.
  • Bác sĩ, nhân viên y tế tuyến cơ sở và nhân viên y tế thôn bản: Tài liệu cung cấp quy trình sàng lọc chuẩn hóa theo khuyến cáo của Bộ Y tế, phương pháp tư vấn dinh dưỡng giảm muối thích ứng với phong tục người H'Mông và bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng tranh minh họa để phỏng vấn y tế công cộng.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Y tế công cộng và Dịch tễ học: Luận văn là hình mẫu điển hình về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên theo cụm hộ gia đình liền kề và phương pháp phân tích dịch tễ đa biến trên phần mềm SPSS 18.0.
  • Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển sức khỏe cộng đồng: Cung cấp bức tranh toàn diện về các yếu tố nguy cơ tim mạch tại vùng sâu Tây Nguyên, phục vụ công tác thiết kế các chương trình can thiệp dinh dưỡng, cải thiện an ninh lương thực và nâng cao chất lượng dân số vùng khó khăn.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ tăng huyết áp ở người H'Mông tại xã Đắk Drông là bao nhiêu?

Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp chung ở người H'Mông từ 30 đến 69 tuổi là 19,2% (chưa bao gồm người đang uống thuốc). Trong đó, tăng huyết áp độ 1 chiếm tỷ lệ cao nhất với 15,0%, tiền tăng huyết áp chiếm 12,0%, tăng huyết áp độ 2 là 3,6% và tăng huyết áp độ 3 chiếm 0,6%.

Yếu tố tuổi tác ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ mắc tăng huyết áp?

Nghiên cứu chỉ ra tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh càng lớn. Nhóm tuổi 50–69 có tỷ lệ mắc tăng huyết áp lên tới 27,2%, cao gấp hơn 2,4 lần so với nhóm 30–49 tuổi (11,2%). Huyết áp tâm thu trung bình của nhóm lớn tuổi đạt 127,0 mmHg, cao hơn nhóm trẻ (119,0 mmHg) do thành mạch bị lão hóa và xơ cứng theo thời gian.

Chế độ ăn uống truyền thống của người H'Mông tác động ra sao đến huyết áp?

Thói quen ăn mỡ động vật làm tỷ lệ mắc bệnh tăng vọt lên 38,9% so với 13,1% ở nhóm dùng dầu thực vật. Ngoài ra, tập quán ăn mặn với các món ướp muối gác bếp khiến nhóm thường xuyên chấm muối có tỷ lệ mắc 29,0%. Việc 80,8% người dân ăn thiếu rau xanh (dưới 400g/ngày) cũng làm gia tăng đáng kể nguy cơ tim mạch.

Thừa cân béo phì và các chất kích thích có mối liên hệ gì với bệnh?

Những người thừa cân béo phì (BMI ≥ 25) có tỷ lệ mắc tăng huyết áp lên tới 30,7%, so với 14,8% ở nhóm bình thường. Người có thói quen hút thuốc lá ghi nhận tỷ lệ mắc 25,9% (gấp 2,2 lần người không hút), trong khi người thường xuyên uống rượu bia có tỷ lệ mắc 34,1% (gấp 1,9 lần người không uống).

Phương pháp nghiên cứu nào được áp dụng để đảm bảo độ tin cậy của số liệu?

Đề tài áp dụng thiết kế cắt ngang phân tích trên 500 người chọn mẫu ngẫu nhiên. Quy trình bao gồm phỏng vấn bằng tranh minh họa chuẩn STEPS, đo huyết áp 3 lần bằng máy đo Omron tiêu chuẩn, kiểm định Chi bình phương trên SPSS 18.0 và được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thẩm định phê duyệt.

Kết luận

  • Tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người H'Mông từ 30 đến 69 tuổi tại xã Đắk Drông là 19,2%, trong đó tăng huyết áp độ 1 chiếm tỷ lệ đa số với 15,0% và tiền tăng huyết áp chiếm 12,0%.
  • Tuổi tác là yếu tố nguy cơ không thể thay đổi mang tính quyết định, với tỷ lệ mắc ở nhóm 50–69 tuổi đạt 27,2%, cao gấp 2,4 lần so với nhóm 30–49 tuổi (11,2%).
  • Thói quen dinh dưỡng thiếu lành mạnh đóng vai trò chủ đạo làm tăng huyết áp: Sử dụng mỡ động vật (tỷ lệ mắc 38,9%), ăn nhiều muối (29,0%), và có tới 80,8% dân số ăn không đủ 5 suất rau xanh mỗi ngày.
  • Tình trạng thừa cân béo phì (BMI ≥ 25) chiếm 25,4% quần thể với tỷ lệ mắc bệnh 30,7%, kết hợp cùng các hành vi hút thuốc lá (25,9%) và uống rượu bia (34,1%) làm gia tăng đáng kể gánh nặng tim mạch.
  • Hoạt động thể lực mức độ thấp có tỷ lệ mắc bệnh lên tới 29,5%, cho thấy lối sống tĩnh tại đang dần xuất hiện tại khu vực nông thôn miền núi.

Luận văn đã bổ sung nguồn dữ liệu dịch tễ học thực địa quý báu về sức khỏe tim mạch của người H'Mông di cư tại Đắk Nông. Để giảm thiểu nguy cơ đột quỵ và biến chứng tim mạch trong cộng đồng, các cấp chính quyền và cơ quan y tế cần khẩn trương đưa các giải pháp truyền thông giảm muối, chuyển đổi dầu thực vật và đo huyết áp định kỳ vào chương trình hành động y tế cơ sở giai đoạn 2021–2025. Hãy chủ động theo dõi chỉ số huyết áp định kỳ và duy trì chế độ dinh dưỡng lành mạnh để bảo vệ sức khỏe tim mạch vững bền.