CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược giải phẫu, chức năng cột sống cổ 1. Đặc điểm giải phẫu, sinh lý cột sống cổ - Cột sống cổ gồm 7 đốt sống và 5 đĩa đệm, gồm đốt sống cổ trênC1 (đốt Đội), C2 (đốt Trục), đốt sống cổ dưới (C3-C7): Là trụ cột chính để giữ và vận động đầu[7].Có sự khác biệt giữa nam và nữ về thông số hình thái của các đốt sống cổ [8], [9]. Cột sống cổ * Nguồn: theo Netter F.H (2012) [10] luan an 4 Đốt sống cổ 1 (C1) hay đốt đội không có thân đốt sống, chỉ có hai cung: cung trước và cung sau.
Đốt trục (C2) có hình dạng và chức năng rất đặc biệt, nó có hình con rùa, phía trước, mặt trên giữa thân đốt trục nhô lên mỏm răng. Đốt trục và đốt đội tạo ra một trục quay của đầu, giữa đốt đội và đốt trục không có đĩa đệm. Ống sống cổ có đặc điểm là rộng ở trên từ C 1-C3 và hẹp ở dưới[11], [12], [13]. Từ C3-C7các thân sống có hình trụ ngắn, chắc, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau[14], [15].Đường kính trước sau của thân đốt sống nhỏ nhất ở C3 và C5 vào khoảng 15,6 mm [16].
Các mỏm ngang từ C3- C6tách thành hai củ: củ trước và củ sau. Củ trước của C 6 to gọi là củ cảnh hay củ chassargnac. Củ cảnh là mốc của động mạch cảnh chung, động mạch giáp dưới và động mạch sống. Lỗ mỏm ngang từ C3-C6chứa động mạch sống, trái lại lỗ mỏm ngang C7 chứa tĩnh mạch sống phụ.
Có hai mỏm khớp hướng lên trên và xuống dưới xuất phát từ chỗ giao nhau giữa bản sống, cuống cung và gặp mỏm khớp của đốt sống còn lại để tạo nên các khớp nối. Mặt trên và dưới của thân đốt sống lõm chứa đĩa đệm. Bình thường các rễ thần kinh cổ nằm ở nửa phía dưới của lỗ ghép, nửa phía trên có mỡ và các tĩnh mạch nhỏ. Khi khớp móc đốt sống và khớp gian đốt sống thoái hóa, các gai xương của các mỏm khớp này thường nhô vào lỗ ghép, chèn vào rễ thần kinh và động mạch đốt sống.
Đĩa đệm Giữa hai đốt sống kế cận (từ cổ 2 đến cổ 7) là đĩa đệm. Các đĩa này dày ở phía trước, mỏng ở phía sau. Đĩa đệm đóng vai trò hấp thụ chấn động. Độ dày của chúng cùng với thân đốt sống tạo nên đường cong của cột sống cổ.
Giữa cổ 1 và cổ 2 không có đĩa đệm, do đó cột sống cổ gồm 7 đốt sống nhưng chỉ có 5 đĩa đệm [4]. Ngày nay người ta dùng phương tiện cộng hưởng từ để khảo sát hình dạng đĩa đệm, rất an toàn và chính xác. Đĩa đệm có hình thấu kính hai mặt lồi, được cấu tạo bởi tổ chức liên kết, dày khoảng 3mm, gồm hai luan an 5 phần: Vòng sợi ở phía ngoài và nhân nhầy ở phía trong [17]. Vòng sợi gồm các tấm sụn sợi đồng tâm, chúng trượt lên nhau nhẹ nhàng.
Nửa chu vi phía sau của vòng sợi yếu hơn nửa phía trước. Đĩa đệm đoạn cột sống cổ và cột sống thắt lưng dày hơn ở phía trước, tạo đường cong ưỡn sinh lý ở hai đoạn này. + Nhân nhầynằm ở trung tâm của đĩa đệm, hơi lệch ra sau vì vòng sợi ở phía sau mỏng hơn phía trước. Nhân nhầy chứa chất gelatin dạng sợi có đặc tính ưa nước, trong đó có chất keo glucoprotein chứa nhiều nhóm sulphat có tác dụng hút và ngậm nước, đồng thời ngăn cản sự khuếch tán ra ngoài nên nhân nhầy có tỷ lệ nước rất cao, lên đến 80% ở người trẻ[17].
Do đó nhân nhầy có độ căng phồng và giãn nở rất tốt. Nhân nhầy giữ vai trò hấp thu chấn động theo trục thẳng đứng và di chuyển như một viên bi nửa lỏng trong các động tác gấp, duỗi, nghiêng và xoay của cột sống. + Vòng sợibao gồm những sợi sụn rất chắc và đàn hồi đan ngược vào nhau theo kiểu xoắn ốc, xếp thành lớp đồng tâm tạo thành đường tròn chu vi của đĩa đệm[18]. Các lá sợi ngoại vi xếp sát nhau và thâm nhập vào phần vỏ xương của đốt sống; các lá sợi trung tâm được xếp lỏng dần vòng quanh nhân nhày.
+ Mâm sụn là hai tấm sụn trong được cấu tạo bằng hợp chất sụn hyaline. Mâm sụn gắn chặt vào phần trung tâm của mặt trên và mặt dưới của hai thân đốt sống liền kề. Mặt kia của mâm sụn gắn vào nhân nhầy và vòng sợi. Mâm sụn có các lỗ nhỏ giống như lỗ sàng có tác dụng nuôi dưỡng đĩa đệm (theo kiểu khuếch tán) và bảo vệ đĩa đệm khỏi bị nhiễm vi khuẩn từ xương đi tới.
- Thần kinh và mạch máu của đĩa đệm + Thần kinh đĩa đệm được các nhánh màng tủy phân bố cảm giác và được gọi là dây quặt ngược Luschka, khi dây này bị kích thích sẽ gây ra triệu chứng đau. + Mạch máu nuôi đĩa đệm chủ yếu thấy ở xung quanh vòng sợi (trong nhân nhầy không có mạch máu). Trước 2 tuổi, đĩa đệm được nuôi dưỡng trực luan an 6 tiếp bởi các mạch máu từ phần xốp của đốt sống kế cận. Từ 13 tuổi, các mạch máu trong đĩa đệm bị tắc dần do sự canxi hóa của đĩa sụn tận cùng và sau 27 tuổi, đĩa đệm được nuôi dưỡng bằng sự thẩm thấu các chất dinh dưỡng qua mâm sụn.
Sự thẩm thấu này phụ thuộc vào yếu tố cơ học: khi đĩa đệm bị ép, dịch lỏng phân tán ra ngoài, khi hết đè ép dịch lại tự thấm vào [17]. Sự thay đổi ép và phồng của nhân nhày cùng với sự đàn hồi của vòng sợi đảm bảo cho sự thẩm thấu chất dinh dưỡng. Chức năng của đĩa đệm là nối các đốt sống, phục vụ cho khả năng vận động của các đốt sống kế cận, và của toàn bộ cột sống, chức năng chống đỡ cho trọng lượng của đầu và giảm sóc chấn động[18]. Dây chằng Trong các loại dây chằng quan trọng nhất là dây chằng dọc.
- Dây chằng dọc trước: Phủ mặt trước thân đốt sống, kéo dài từ mặt trước xương cùng đến lồi củ trước đốt sống C1và đến lỗ chẩm lớn. Nó ngăn cản sự ưỡn quá mức của cột sống. - Dây chằng dọc sau: Phủ mặt sau thân đốt sống, chạy trong ống sống, từ nền xương chẩm đến mặt sau xương cùng, nó ngăn cản sự gấp quá mức của cột sống. Dây chằng dọc sau được phân bố nhiều tận cùng thụ thể đau nên nó rất nhạy cảm với đau[7].
- Dây chằng vàng là tổ chức sợi đàn hồi màu vàng phủ phần sau của ống sống, bám từ lá đốt sống phía dưới đến lá đốt sống phía trên của các cung đốt sống liền kề và tạo thành thành sau của ống sống[4]. Dây chằng vàng có khả năng đàn hồi mạnh và rất bền vững để duy trì đường cong sinh lý của cột sống và giúp cho cột sống duỗi thẳng sau khi cúi. - Dây chằng liên gai và dây chằng trên gai: Dây chằng liên gai nối các mỏm gai với nhau, dây chằng trên gai là dây mỏng chạy qua các đỉnh mỏm gai, góp phần gia cố phần sau của đoạn vận động cột sống khi đứng thẳng và khi gấp cột sống tối đa. Tuỷ sống đoạn cổ - Có tám khoanh tủy cổ, từ mỗi khoanh tủy tách ra một đôi rễ thần kinh.
Rễ C1 thoát ra phía trên đốt sống C1, rễ C8 thoát ra giữa C7 và D1. Ở vùng cổ các rễ chạy ngang sang bên nên mức của tủy sống và của rễ ngang nhau. Do đó thoát vị đĩa đệm cột sống cổ có thể gây chèn ép cả tủy sống rễ thần kinh ở cùng một mức (ở đoạn cột sống thắt lưng, thoát vị gây chèn ép rễ thấp hơn). Khi thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thể trung tâm sẽ chèn ép vào sừng trước tủy sống, gây ra hội chứng tủy.
Nếu thoát vị cạnh trung tâm sẽ chèn ép cả tủy lẫn rễ thần kinh, gây ra hội chứng rễ tủy kết hợp. Thoát vị lỗ ghép thìđặc trưng bởi triệu chứng rễ. Trong số tám đôi rễ thần kinh cổ, có một số rễ hay bị tổn thương trong thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là: Rễ C4, C5, C6, C7, C8. - Sự tưới máu của tủy cổ: Đoạn cột sống cổ được cung cấp máu chủ yếu do động mạch đốt sống [19].
Động mạch tủy sống trước cấp máu cho 2/3 trước tủy, động mạch tủy sống sau cấp máu cho phần còn lại. Khi thoát vị đĩa đệm thể trung tâm, sẽ chèn ép vào động mạch tủy sống trước gây thiếu máu cục bộ ở vùng tủy tương ứng tạo nên hội chứng chèn ép tủy trên lâm sàng. Sự phân bố thần kinh ở cột sống cổ Tủy cổ bắt đầu từ lỗ chẩm tiếp theo hành tủy. Tủy cổ rộng ra ở C3 và rộng nhất ở C6 với chu vi 38mm.
Ở mỗi tầng tủy, tủy cho ra các rễ vận động và cảm giác. Rễ vận động ở sừng trước, rễ cảm giác ở sừng sau. Mỗi rễ gồm từ 6 - 8 nhánh. Rễ vận động và cảm giác chui qua màng cứng, hợp nhất thành rễ thần kinh ở mỗi tầng, chui vào lỗ tiếp hợp ở giữa các đốt sống và chui ra ngoài [20].
Riêng có ngoại lệ là rễ thần kinhC8thoát ra bên dưới đốt sống C7[21]. Có hai hoặc ba đôi hạch giao cảm cổ: Hạch giao cảm cổ trên, hạch giao cảm cổ giữa và hạch giao cảm cổ ngực (hạch sao). Hạch giao cảm cổ trên chia nhánh vào các rễ từ C1 đến C4, hạch giao cảm cổ giữa chia nhánh cho rễC5, C6, hạch sao chia nhánh cho các rễ từ C 7 đến D2. Các hạch này còn cho các nhánh đến tim, đám rối giao cảm quanh động mạch và các cơ quan nội tạng luan an 8 khác.
Do đó khi thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, ngoài các triệu chứng ép rễ và ép tủy còn có các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật. Giải phẫu chức năng cột sống cổ Cột sống cổ có khả năng vận động linh hoạt hơn cột sống thắt lưng do có sự quay quanh C2 của C1, sự trượt của khớp gian đốt sống trên góc nghiêng phù hợp và khả năng đàn hồi của đĩa đệm [19]. Ở cột sống cổ, các mỏm khớp và các khớp đốt sống không chỉ thực hiện chức năng vận động, mà còn thực hiện chức năng chịu tải trọng. Các thân đốt sống cổ nhỏ và khớp với đĩa đệm không phải trên toàn bộ bề mặt.
Do đó, tải trọng tác động lên đĩa đệm cột sống cổ lớn hơn tải trọng lên các phần khác của cột sống. Tải trọng phần đầu cơ thể tác động lên cột sống cổ *Nguồn: theo Alizada M.