Luận án tiến sĩ y tế công cộng kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone tại tuyến xã huyện quan hóa tỉnh thanh hóa năm 2015 2017

Luận án tiến sĩ y tế công cộng phân tích mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone tại huyện Quan Hóa, Thanh Hóa giai đoạn 2015-2017.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

199
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Chất gây nghiện và chất ma tuý

1.2. Chất dạng thuốc phiện (CDTP)

1.3. Khái niệm về nghiện chất và ngƣời nghiện CDTP

1.4. Cai nghiện

1.5. Hội chứng cai và tái nghiện

1.6. Điều trị thay thế Methadone và cơ sở điều trị Methadone

1.7. Tuân thủ điều trị Methadone

1.8. Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý

1.9. Vi phạm pháp luật

1.10. Chất lƣợng cuộc sống

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƢỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1.1. Địa điểm nghiên cứu

2.1.2. Đối tƣợng nghiên cứu

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Mẫu nghiên cứu

2.2.3. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.4. Phƣơng pháp thu thập số liệu và công cụ nghiên cứu

2.2.5. Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu

2.2.6. Đạo đức trong nghiên cứu

2.2.7. Các biện pháp khống chế sai số

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ Ở NGƢỜI NGHIỆN MA TUÝ TRƢỚC KHI THAM GIA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HOÁ, TỈNH THANH HOÁ (2015-2017)

3.1.1. Đặc điểm nhân khẩu, xã hội, việc làm của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.2. Thực trạng sử dụng ma túy trƣớc khi tham gia điều trị Methadone

3.1.3. Hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.4. Kết quả xét nghiệm trƣớc khi điều trị Methadone

3.1.5. Tình trạng sức khỏe của đối tƣợng nghiên cứu

3.1.6. Chất lƣợng cuộc sống và sự hài lòng về sức khỏe

3.1.7. Đặc điểm liên quan đến tiếp cận với dịch vụ y tế tại trạm y tế

3.2. KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015-2017)

3.2.1. Tình trạng tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng điều trị Methadone

3.2.2. Kết quả về giảm sử dụng ma tuý của đối tƣợng nghiên cứu

3.2.3. Kết quả về giảm các hành vi nguy cơ, dự phòng lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C của đối tƣợng nghiên cứu

3.2.4. Kết quả về tăng sự tiếp cận xét nghiệm HIV và điều trị ARV

3.2.5. Kết quả đạt đƣợc về làm giảm phạm tộivà bạo lực gia đình

3.2.6. Kết quả về thay đổi khả năng lao động và thu nhập của bệnh nhân

3.2.7. Kết quả về thay đổi sức khỏe và thay đổi chất lƣợng cuộc sống

3.2.8. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả điều trị Methadone tại xã Thành Sơn và Trung Sơn

3.3. Thuận lợi, khó khăncủa mô hình điều trị Methadone tại trạm y tế

3.4. Tính phù hợp và khả năng duy trì của mô hình

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ CỦA BỆNH NHÂN TRƢỚC KHI THAM GIA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015-2017)

4.1. Đặc điểm của ngƣời nghiện ma tuý tại hai xã Thành Sơn và Trung Sơn

4.2. Thực trạng sử dụng ma tuý, cai nghiện và tái nghiện của đối tƣợng nghiên cứu

4.3. Hành vi nguy cơ và kết quả xét nghiệm của đối tƣợng nghiên cứu

4.4. Tình trạng sức khỏe và chất lƣợng cuộc sống của đối tƣợng nghiên cứu

4.5. Thực trạng tiếp cận, sử dụng dịch vụ can thiệp giảm hại và y tế

5. KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015 – 2017)

5.1. Tình hình bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng

5.2. Kết quả đạt đƣợc về giảm sử dụng ma túy

5.3. Kết quả giảm hành vi nguy cơ và dự phòng lây nhiễm HIV, VGB, VG C

5.4. Kết quả làm giảm phạm tội trong đối tƣợng tham gia điều trị

5.5. Kết quả làm tăng khả năng lao động, cơ hội có việc làm và kinh tế

5.6. Kết quả cải thiện về sức khỏe tâm thần, thể chất, quan hệ tình dục và thay đổi chất lƣợng cuộc sống

5.7. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kết quả điều trị Methadone tại trạm y tế xã

5.8. Tính phù hợp, hạn chế và khả năng duy trì của mô hình

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone

Mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone đã được triển khai tại huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2015 đến 2017. Mô hình này nhằm mục đích giảm thiểu tình trạng nghiện opioid và các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Theo nghiên cứu, methadone là một loại thuốc có tác dụng giảm cơn thèm thuốc và giúp người nghiện duy trì cuộc sống bình thường. Việc áp dụng mô hình này tại tuyến xã đã cho thấy sự cần thiết trong việc đưa dịch vụ điều trị đến gần hơn với người bệnh, từ đó nâng cao khả năng tuân thủ điều trị. Kết quả cho thấy, mô hình này không chỉ giúp giảm tỷ lệ tái nghiện mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.

1.1. Tình hình nghiện opioid tại huyện Quan Hóa

Tình hình nghiện opioid tại huyện Quan Hóa rất phức tạp. Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2017, có khoảng 700 người nghiện ma túy, trong đó phần lớn là nghiện heroin. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người nghiện mà còn tác động tiêu cực đến gia đình và xã hội. Việc lạm dụng opioid dẫn đến nhiều hệ lụy, bao gồm gia tăng tỷ lệ lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác. Do đó, việc triển khai mô hình điều trị thay thế bằng methadone là một giải pháp cần thiết để giảm thiểu tác động của tình trạng nghiện ma túy trong cộng đồng.

II. Kết quả nghiên cứu mô hình điều trị methadone

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mô hình điều trị thay thế bằng methadone tại huyện Quan Hóa đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Sau 12 tháng điều trị, tỷ lệ người bệnh giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp đã giảm đáng kể. Cụ thể, tỷ lệ này giảm từ 98,2% trước khi điều trị xuống còn 12,4% sau 24 tháng. Điều này cho thấy methadone không chỉ giúp người nghiện kiểm soát cơn thèm thuốc mà còn giảm thiểu hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV. Hơn nữa, mô hình này cũng đã cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của người bệnh, giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm và tái hòa nhập cộng đồng.

2.1. Tác động của methadone đến sức khỏe người bệnh

Việc sử dụng methadone trong điều trị nghiện đã cho thấy tác động tích cực đến sức khỏe của người bệnh. Nghiên cứu cho thấy, sau khi tham gia chương trình điều trị, nhiều bệnh nhân đã cải thiện sức khỏe tâm thần và thể chất. Họ không chỉ giảm thiểu các triệu chứng cai nghiện mà còn có khả năng tham gia các hoạt động xã hội. Điều này chứng tỏ rằng methadone không chỉ là một phương pháp điều trị hiệu quả mà còn là một công cụ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghiện.

III. Thách thức và cơ hội trong việc duy trì mô hình

Mặc dù mô hình điều trị thay thế bằng methadone đã đạt được nhiều thành công, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những thách thức lớn nhất là việc duy trì sự tuân thủ điều trị của người bệnh. Nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ do khoảng cách địa lý và điều kiện kinh tế. Hơn nữa, sự kỳ thị xã hội đối với người nghiện cũng là một rào cản lớn. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức y tế, có thể tạo ra nhiều cơ hội để cải thiện mô hình này. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về lợi ích của điều trị thay thế sẽ góp phần giảm thiểu kỳ thị và khuyến khích người nghiện tham gia điều trị.

3.1. Chính sách y tế và hỗ trợ từ cộng đồng

Chính sách y tế đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mô hình điều trị methadone. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở y tế và cộng đồng để đảm bảo người bệnh có thể tiếp cận dịch vụ một cách dễ dàng. Hỗ trợ từ cộng đồng, bao gồm việc tạo ra môi trường thân thiện và không kỳ thị, sẽ giúp người nghiện cảm thấy an toàn hơn khi tham gia điều trị. Điều này không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị mà còn góp phần vào việc giảm thiểu tình trạng nghiện ma túy trong xã hội.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Sử dụng bất hợp pháp các chất dạng thuốc phiện (CDTP) nhƣ thuốc phiện, Morphin, Heroin… đã gây ra vấn đề sức khỏe, các gánh nặng bệnh tật và liên quan đến tử vong. Điều này là do mối quan hệ giữa sử dụng ma túy với sức khỏe tâm thần, tiêm chích ma túy, HIV/AIDS, viêm gan và tử vong do quá liều[1]. Việt Nam đã triển khai các hình thức cai nghiện tại cộng đồng, gia đình và các trung tâm chữa bệnh – giáo dục – lao động xã hội với biện pháp bắt buộc và tự nguyện. Tuy nhiên, tỷ lệ tái nghiện cao (>90%) sau khi hết thời gian cai nghiện khoảng 2 năm.

Đến năm 2008, Việt Nam thí điểm chƣơng trình điều trị nghiện các CDTP bằng methadone tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng trình thí điểm cho thấy điều trị methadone rất hiệu quả trong việc kiểm soát nghiện heroin và đƣợc chấp thuận để mở rộng dịch vụ ra các tỉnh, thành khác trong cả nƣớc[2]. Nghiên cứu của Hoàng Đình Cảnh (2011) ở mô hình thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng từ 11/2009 đến 11/2011, hiệu quả của mô hình đã đƣợc chứng minh qua kết quả giảm sử dụng ma túy từ 98,2% trƣớc khi điều trị xuống 12,4% sau 24 tháng; không phát hiện trƣờng hợp nhiễm mới HIV; vi phạm pháp giảm từ 40,8% xuống 1,6% sau 24 tháng. Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Thanh Hóa thƣờng có điều kiện kinh tế khó khăn, đƣờng xá đi lại không thuận lợi, là nơi sinh sống của đa số là đồng bào dân tộc thiểu số và ngƣời bệnh nơi đây gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm (2015) tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc từ tháng 10/2014 đến 12/2015, kết quả chỉ ra rằng yếu tố khoảng cách đi uống thuốc hàng ngày ảnh hƣởng không nhỏ đến việc duy trì điều trị của bệnh nhân. Trong nghiên cứu khác của Phạm Đức Mạnh (2014) tại một số tỉnh miền núi phía Bắc cũng cho thấy việc tiếp cận điều trị Methadone gặp nhiều khó khăn đối với bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa và nêu lên sự cần thiết phải nâng cao độ bao phủ và bền vững của chƣơng trình Methadone[3]. Quan Hóa là một huyện miền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, là địa bàn trọng điểm về HIV/AIDS và tiêm chích ma tuý. Đến 31/12/2017, toàn huyện có 2 440 ngƣời nhiễm HIV còn sống và ƣớc tính trên 700 ngƣời nghiện ma tuý; tình hình vận chuyển, buôn bán và sử dụng ma túy trên địa bàn diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát; trình độ văn hoá thấp cùng với nhiều thách thức xã hội và kinh tế nhƣ nghèo đói, lạm dụng chất ma túy, bất bình đẳng trong chăm sóc y tế cũng là nguy cơ gián tiếp làm lây truyền HIV trong đồng bào dân tộc thiểu số; lây nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích ma tuý (56,7%); đối tƣợng nghiện tập trung chủ yếu tại các xã Thành Sơn, Trung Sơn.Trong khi đó, cơ sở điều trị Methadone lại nằm ở Trung tâm Y tế huyện, ngƣời nghiện không thể đến nhận dịch vụ điều trị Methadone do khoảng cách từ nhà đến nơi điều trị từ 50-60 km.

Trƣớc thực trạng đó, từ tháng 5 năm 2015, ngành Y tế Thanh Hóa đã cho triển khai cơ sở điều trị methadone tại Trạm Y tếxãThành Sơn và xã Trung Sơn. Đến thời điểm năm 2015, tại Việt Nam, mô hình cơ sở điều trị Methadone đều đặt tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS, Trung tâm Y tếhuyện/thị/ thành phố.việc nghiên cứu mô hình điều trị Methadone tại tuyến xã, nhằm đƣa dịch vụ điều trị Methadone đến gần ngƣời bệnh, thuận tiện hơn trong tiếp cận làm tăng khả năng tuân thủ điều trị là cần thiết, có ý nghĩa. Đề tài luận án “Kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tuyến xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa năm 2015-2017”. Từ các kết quả ở nghiên cứu này có thể rút ra những bài học, kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo phục vụ công tác hoạch định chính sách, định hƣớng cho chiến lƣợc phòng chống HIV/AIDS trong tƣơng lai, đồng thời đóng góp thông tin có giá trị cho đào tạo và nghiên cứu khoa học.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Luận án có các mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng sử dụng ma túy ở ngƣời nghiện ma túy trƣớc khi tham gia điều trị Methadone tại 2 xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015 2017” 2. Đánh giá kết quả, tính phù hợp và khả năng duy trì mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại 2 xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015-2017 4 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Chất gây nghiện và chất ma tuý Chất gây nghiện khi đƣa vào cơ thể dƣới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế thần kinh hoặc kích thích mạnh mẽ hệ thần kinh, làm giảm đau.

gây ảo giác, dẫn đến thay đổi một hoặc nhiều chức năng của cơ thể ngƣời sử dụng [8, 9]. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hƣớng thần đƣợc quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành [6, 7].2 Chất dạng thuốc phiện (CDTP) Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất nhƣ thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Codein, Pethidine, LAAM… có biểu hiện lâm sàng tƣơng tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tƣơng tự ở não[6, 8, 9].3 Khái niệm về nghiện chất và ngƣời nghiện CDTP Nghiện chất là tình trạng bắt buộc phải sử dụng chất gây nghiện bất chấp những tác hại của chúng. Ngƣời nghiện CDTP là ngƣời sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần CDTP với liều lƣợng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạn tính, bị lệ thuộc về thể chất và tâm thần vào chất đó[8, 9].4 Cai nghiện Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà ngƣời nghiện thƣờng sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai, vì vậy bệnh nhân cần phải đƣợc điều trị[8, 9].5 Hội chứng cai và tái nghiện Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những ngƣời nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng[8, 9].

Tái nghiện là sử dụng ma túy trở lại đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuất hiện sau khi đã ngƣng sử dụng ma túy, hay sau khi điều trị hoặc cai nghiện với kết quả không còn triệu chứng cai [8, 9].6 Điều trị thay thế Methadone và cơ sở điều trị Methadone 5 Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế là việc sử dụng thuốc thay thế Methadone để điều trị cho ngƣời nghiện CDTP [8, 9]. Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone gọi tắt là cơ sở điều trị Methadone. Cơ sở điều trị nghiện Methadone là đơn vị điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone cho ngƣời nghiện CDTP, bao gồm cả việc cấp phát thuốc Methadone.7 Tuân thủ điều trị Methadone Tuân thủ điều trị Methadone đƣợc định nghĩa là mức độ ngƣời bệnh dùng thuốc Methadone và thực hành tuân theo y lệnh của thầy thuốc[6, 9].8 Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý Trong chƣơng trình điều trị Methadone, bỏ liều là tình trạng bệnh bệnh nhân không thực hiện uống thuốc hàng ngày: Bỏ 1-3 liều Methadone liên tục, xử lý uống nhƣ liều đang uống; bỏ từ 4-5 liều Methadone liên tục uống liều bằng ½ liều đang uống; bỏ từ 6 liều liên tục, xử lý khởi liều lại. Bỏ trị là tình trạng bệnh nhân bỏ liều liên tục trên 30 ngày và không quay lại tham gia điều trị[6, 9].

Tái sử dụng ma túy là sử dụng ma túy trở lại (dù chỉ một lần) để đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuất hiện.9 Vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản: 1) Hành vi của con ngƣời gồm hành vi hành động và hành vi không hành động; 2) Là hành ví trái quy định của pháp luật. Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ làm không đúng điểu pháp luật cho phép, không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật bắt buộc phải làm hoặc làm điều mà pháp luật cấm; 3) Là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể - trạng thái tâm lí thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện (nếu chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân thì ngƣời đó phải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật 6 định, không mắc các bệnh tâm thần, có khả năng nhận thức đƣợc hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và hậu quả pháp lí của nó).10 Chất lƣợng cuộc sống Chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân (Health-related quality of life viết tắt là HRQOL) là một thƣớc đo quan trọng về nhận thức của bệnh nhân về bệnh tật của họ. Chất lƣợng cuộc sống bao gồm các lĩnh vực: Vấn đề sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, các mối quan hệ xã hội và môi trƣờng[11].2 TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TUÝ VÀ NHIỄM HIV/AIDS 1.1 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Tình hình nghiện ma tuý:Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) năm 2017, ƣớc tính có khoảng 246 triệu ngƣời, tƣơng đƣơng với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã từng sử dụng ma túy trái phép.

Có khoảng trên 13 triệu ngƣời tiêm chích ma túy (PWID), ít nhất 190.000 trƣờng hợp bị tử vong do sử dụng ma túy và đa phần là sử dụng các chất dạng thuốc phiện. Việc sử dụng các chất dạng thuốc phiện(thuốc phiện, Heroin) bằng cách tiêm chích vẫn là nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á. Việc sử dụng ma túy gây ra ảnh hƣởng đến sức khỏe nhƣ sốc quá liều; chấn thƣơng do tai nạn, hành vi bạo lực; tình trạng nghiện ma túy. Các ảnh hƣởng mãn tính nhƣ là các bệnh (bệnh mạch vành, xơ gan,…), các bệnh lây truyền qua đƣờng máu do vi rút (HIV, viêm gan B, viêm gan C.) và các rối loạn tâm thần[12-14] .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu mô hình điều trị thay thế nghiện opioid bằng methadone tại huyện Quan Hóa, Thanh Hóa (2015-2017)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả của chương trình điều trị nghiện opioid bằng methadone trong giai đoạn 2015-2017. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các kết quả điều trị mà còn nhấn mạnh những lợi ích xã hội và sức khỏe mà mô hình này mang lại cho cộng đồng. Đặc biệt, bài viết chỉ ra rằng việc áp dụng methadone không chỉ giúp giảm tỷ lệ tái nghiện mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống cho người nghiện, từ đó góp phần giảm thiểu các vấn đề xã hội liên quan đến nghiện ngập.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan đến y tế công cộng và dược phẩm tại Việt Nam, hãy tham khảo bài viết Luận án tiến sĩ tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lâm sàng y tế công cộng và dược tại việt nam. Ngoài ra, bài viết Luận án tiến sĩ y tế công cộng tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lâm sàng y tế công cộng và dược tại việt nam năm 20172019 cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về các nghiên cứu trong lĩnh vực này. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ luật học hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thuốc lá mới tại việt nam để hiểu rõ hơn về các chính sách liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề y tế hiện nay.