Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác dụng của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên mô hình động vật gây viêm và thoái hóa khớp gối

Nghiên cứu tác dụng của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên mô hình động vật viêm và thoái hóa khớp gối, mang lại tiềm năng điều trị mới.

Chuyên ngành

Y học cổ truyền

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

83
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Tác Dụng Của Thủy Châm Chế Phẩm Chứa Nọc Ong

Nghiên cứu tác dụng của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên mô hình động vật gây viêm và thoái hóa khớp gối đang thu hút sự quan tâm lớn trong lĩnh vực y học cổ truyền. Thủy châm, một phương pháp điều trị truyền thống, đã được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm đau và chống viêm. Nọc ong, với các thành phần sinh học phong phú, có khả năng hỗ trợ điều trị các bệnh lý về khớp. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá tác dụng của phương pháp này trên mô hình động vật.

1.1. Định Nghĩa Thủy Châm Và Chế Phẩm Chứa Nọc Ong

Thủy châm là phương pháp tiêm thuốc vào huyệt để điều trị bệnh. Chế phẩm chứa nọc ong được chiết xuất từ nọc ong, có chứa nhiều hoạt chất sinh học có tác dụng chống viêm và giảm đau.

1.2. Lịch Sử Sử Dụng Nọc Ong Trong Y Học

Nọc ong đã được sử dụng từ lâu trong y học cổ truyền để điều trị các bệnh lý về khớp. Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng nọc ong có thể cải thiện tình trạng viêm và đau khớp.

II. Vấn Đề Thoái Hóa Khớp Gối Và Tác Động Của Viêm

Thoái hóa khớp gối là một trong những bệnh lý phổ biến nhất, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của nhiều người. Viêm khớp gối gây ra đau đớn và hạn chế khả năng vận động. Các yếu tố như tuổi tác, béo phì và chấn thương có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Việc tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả là rất cần thiết.

2.1. Nguyên Nhân Gây Thoái Hóa Khớp Gối

Nguyên nhân chính gây thoái hóa khớp gối bao gồm tuổi tác, chấn thương và các yếu tố di truyền. Những yếu tố này dẫn đến sự suy giảm chất lượng sụn khớp và viêm khớp.

2.2. Tác Động Của Viêm Đến Khớp Gối

Viêm khớp gối gây ra sự đau đớn và hạn chế vận động. Viêm cũng làm tăng sản xuất các cytokine gây viêm, dẫn đến tổn thương mô khớp.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Tác Dụng Của Thủy Châm

Nghiên cứu này sử dụng mô hình động vật để đánh giá tác dụng của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm mức độ đau, khả năng vận động và các chỉ số sinh học liên quan đến viêm. Phương pháp này giúp xác định hiệu quả của thủy châm trong điều trị thoái hóa khớp gối.

3.1. Mô Hình Động Vật Trong Nghiên Cứu

Mô hình động vật được sử dụng trong nghiên cứu này là chuột, được gây viêm khớp bằng cách tiêm CFA. Mô hình này cho phép đánh giá tác dụng của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong.

3.2. Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Hiệu Quả

Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm ngưỡng đau, tầm vận động và các chỉ số huyết học. Những chỉ tiêu này giúp xác định tác dụng chống viêm và giảm đau của chế phẩm.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tác Dụng Của Thủy Châm Chế Phẩm Chứa Nọc Ong

Kết quả nghiên cứu cho thấy thủy châm chế phẩm chứa nọc ong có tác dụng giảm đau và chống viêm rõ rệt trên mô hình động vật. Các chỉ số sinh học cho thấy sự giảm đáng kể của cytokine gây viêm và cải thiện khả năng vận động của chuột. Những phát hiện này mở ra hướng đi mới trong điều trị thoái hóa khớp gối.

4.1. Tác Dụng Giảm Đau Của Chế Phẩm

Kết quả cho thấy chế phẩm chứa nọc ong giúp giảm ngưỡng đau đáng kể so với nhóm chứng. Điều này cho thấy hiệu quả của thủy châm trong việc giảm đau khớp.

4.2. Cải Thiện Khả Năng Vận Động

Khả năng vận động của chuột được cải thiện rõ rệt sau khi điều trị bằng thủy châm chế phẩm chứa nọc ong. Điều này cho thấy tiềm năng ứng dụng của phương pháp này trong điều trị thoái hóa khớp.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Tác Dụng Của Thủy Châm

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thủy châm chế phẩm chứa nọc ong có tác dụng tích cực trong việc giảm đau và chống viêm trên mô hình động vật gây thoái hóa khớp gối. Kết quả này mở ra triển vọng cho việc ứng dụng phương pháp này trong điều trị lâm sàng. Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định cơ chế tác động và hiệu quả lâu dài của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong.

5.1. Triển Vọng Ứng Dụng Trong Y Học

Phương pháp thủy châm chế phẩm chứa nọc ong có thể trở thành một lựa chọn điều trị hiệu quả cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Cần có thêm các nghiên cứu lâm sàng để khẳng định tính an toàn và hiệu quả.

5.2. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai

Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc xác định cơ chế tác động của nọc ong và tối ưu hóa phương pháp thủy châm để nâng cao hiệu quả điều trị.

27/06/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tác dụng của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên mô hình động vật gây viêm và thoái hóa khớp gối

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thoái hóa khớp gối là bệnh phổ biến trong các bệnh lý về xƣơng khớp. Tỷ lệ của bệnh có tƣơng quan chặt chẽ đến béo phì và sự gia tăng về độ tuổi. Theo ƣớc tính của tổ chức Y tế thế giới, thoái hóa khớp gối chiếm khoảng 13% ở nữ giới và 10% ở nam giới có độ tuổi trên 60 [1]. Tại Mỹ, thoái hóa khớp gối ƣớc tính chiếm khoảng 27 triệu dân [2].

Tại Việt nam, thoái hóa khớp chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ, nhƣng tỷ lệ thoái hóa khớp gối đƣợc cho là khoảng 18% ở những ngƣời trên 16 tuổi [3]. Hậu quả của thoái hóa khớp gối là gây viêm tổ chức khớp và cạnh khớp, gây tàn phế cho ngƣời bệnh [4]. Về mặt điều trị, cho đến nay chủ yếu là sử dụng các thuốc chống viêm giảm đau non-steroid. Khi điều trị kéo dài có nguy cơ gây ra các biến chứng nặng nề cho ngƣời bệnh nhƣ xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, tá tràng… Để hạn chế các biến chứng này, ngƣời ta cho rằng nên sử dụng các nguồn dƣợc liệu tự nhiên, trong đó có nọc ong.

Trong thành phần của nọc ong có chứa rất nhiều chất có hoạt tính sinh học nhƣ các men và các chuỗi peptide ngắn. Chính nhờ các thành phần hoạt tính sinh học này mà nọc ong có thể đƣợc sử dụng nhƣ một dƣợc liệu quí, đặc biệt có tác dụng chống viêm giảm đau để điều trị các bệnh lý về khớp. Từ lâu, ngƣời ta sử dụng nọc ong bằng cách cho ong đốt trực tiếp vào ổ khớp để điều trị các chứng đau khớp. Và gần đây, một số nghiên cứu đã bƣớc đầu tách chiết nọc ong và sử dụng tại chỗ bằng các phƣơng pháp nhƣ bôi lên tổn thƣơng hay bằng phƣơng pháp thủy châm.

Thủy châm chế phẩm chứa nọc ong là tiêm một liều nhỏ thuốc có chứa nọc ong vào huyệt. Phƣơng pháp này đƣợc một số nghiên cứu cho thấy có hiệu quả chống viêm, giảm đau và cải thiện vận động trên ngƣời bệnh bị các bệnh lý gây viêm và đau khớp. 2 Những cơ sở trên đây đã gợi ý rằng nọc ong có thể đƣợc sử dụng trên các bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Để làm cơ sở cho việc ứng dụng thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên ngƣời thoái hóa khớp gối, chúng tôi tiến hành xây dựng mô hình và tiến hành đánh giá tác dụng chống viêm, giảm đau và cải thiện vận động của phƣơng pháp này trên động vật đƣợc gây viêm và thoái hóa khớp gối.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: 1. Xây dựng mô hình gây viêm và thoái hóa khớp gối trên động vật thực nghiệm 2. Đánh giá tác dụng chống viêm, giảm đau và cải thiện vận động của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên mô hình động vật gây viêm và thoái hóa khớp gối. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Đại cƣơng về sinh lý bệnh thoái hóa khớp gối 1. Sự thay đổi cấu trúc ổ khớp Thoái hóa khớp gối đƣợc đặc trƣng bởi sự thoái hóa viêm của một sụn khớp nào đó với sự hình thành gai xƣơng phản ứng trên bề mặt sụn khớp. Hiện nay, ngƣời ta vẫn chƣa rõ liệu sự hình thành các gai xƣơng này bắt nguồn từ sụn hay là từ xƣơng dƣới sụn. Nhiều tác giả cho rằng tổn thƣơng ban đầu của thoái hóa khớp gối là ở sụn khớp tại đó sự thay đổi sớm nhất là sự suy giảm chất mucopolysaccharide chondroitin sulphate có liên quan đến collagen ở lớp nền.

Cụ thể sự suy giảm chất nói trên làm mất dần các chất lớp nền và làm lộ lớp collagen phía dƣới. Bình thƣờng, lớp nền có vai trò làm giảm áp lực tại ổ khớp. Tuy nhiên, khi lớp collagen bị lộ ra, các sợi của lớp collagen sẽ bị các áp lực tại ổ khớp tác động và dẫn đến làm rách lớp sợi collagen này. Sụn là một mô mạch và các tế bào sụn của tổ chức sụn phụ thuộc vào sự tƣới máu để nuôi dƣỡng.

Sự quá tải dòng máu do các hoạt động hằng ngày gây ra sự biến dạng trong ổ khớp. Các nghiên cứu trên động vật chỉ ra rằng các tác động cơ học có tác động trực tiếp đến hoạt động đồng hóa và dị hóa của tế bào sụn. Với các mức độ quá tải về tuần hoàn từ mức độ nhẹ đến mức nặng nhƣ liên quan đến chạy với khoảng cách bình thƣờng dƣờng nhƣ không ảnh hƣởng đến sức khỏe bình thƣờng của ổ khớp. Tuy nhiên, sự quá tải ổ khớp mức độ rất nặng, nhƣ khi có một chấn thƣơng hoặc các tác động lặp lại liên tục, cũng có thể dẫn đến thoái hóa khớp.

Hơn nữa, những tác động thông thƣờng cũng có thể làm nhanh quá trình biến dạng hay tổn thƣơng các ổ khớp bởi sự không ổn định của khớp viêm. Do đó, điều trị sớm và làm ổn 4 định khớp viêm sẽ ngăn cản quá trình thoái hóa tiến triển xa hơn. Các yếu tố cơ học đƣợc cho là liên quan đến nguyên nhân và sự tiến triển của thoái hóa khớp gối. Nhìn chung, sự ngay ngắn của ổ khớp đƣợc cho là đóng vai trò quan trọng.

Sự ngay ngắn, không lệch trục khớp gối giúp phân bố tải trọng đều qua khớp gối. Trong hình dáng bình thƣờng 70% tải trọng khớp gối tác động qua vùng trung tâm của khớp gối. Sự thay đổi tải trọng này cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây thoái hóa khớp gối [11]. Sự thay đổi các giá trị huyết học và chất trung gian liên quan đến viêm trong thoái hóa khớp gối 1.

Sự thay đổi bạch cầu trong viêm Bạch cầu là tế bào máu có chức năng bảo vệ cơ thể bằng cơ chế thực bào và cơ chế miễn dịch. Khi có các tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể thì bạch cầu thực hiện chức năng của mình bằng tăng số lƣợng các loại tế bào bạch cầu và tập trung đến vùng viêm để ngăn chặn và tiêu diệt các tác nhân có hại cho cơ thể [31]. Vì vậy, phản ứng tăng số lƣợng các loại bạch cầu cũng nhƣ tăng số lƣợng bạch cầu chung là một trong những chỉ số phản ảnh tình trạng viêm của cơ thể. Hay nói khác hơn, số lƣợng bạch cầu và công thức bạch cầu (tỷ lệ phần trăm từng loại bạch cầu trong máu ngoại vi) có giá trị rất lớn để chẩn đoán tình trạng viêm của cơ thể sống [32].

Dựa vào ý nghĩa này của số lƣợng bạch cầu và công thức bạch cầu, các tác giả trƣớc đây đã sử dụng hai chỉ số này để đánh giá tình trạng viêm cũng nhƣ hiệu quả điều trị của các biện pháp chống viêm. Petchi và cộng sự (2015) đã gây viêm bàn chân chuột bằng chất gây viêm CFA và thấy số lƣợng bạch cầu tăng lên. Khi điều trị bằng một loại thảo mộc polyherbal formulation thì thấy số lƣợng bạch cầu giảm [33]. Tƣơng 5 tự, Kamarudin và cộng sự (2012) sử dụng collagen tiêm dƣới da để gây viêm.

Nhóm tác giả thấy số lƣợng bạch cầu tăng dần sau 2 tuần và sau 1 tháng gây viêm. Khi cho chuột uống curcumin nhóm tác giả cũng thấy sự giảm số lƣợng bạch cầu có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng [34]. Nhƣ vậy, số lƣợng bạch cầu là chỉ số nghiên cứu quan trọng để đánh giá viêm và hiệu quả của các phƣơng pháp điều trị chống viêm. Đây là cơ sở khoa học quan trọng để chúng tôi sử dụng chỉ tiêu nghiên cứu về số lƣợng bạch cầu để đánh giá hiệu quả chống viêm của thủy châm chế phẩm chứa nọc ong trên chuột gây mô hình thoái hóa khớp gối.

Vai trò của cytokin trong viêm * Nguồn gốc của các cytokin Cytokin là những phân tử protein tan trong nƣớc, đƣợc bài tiết từ các tế bào có tác động đặc biệt trong sự tƣơng tác giữa các tế bào với nhau. Cytokin là một tên chung với các tế bào riêng khác bao gồm lymphokines (ám chỉ các cytokin đƣợc bài tiết bởi các tế bào lympho), monokine (ám chỉ các cytokin đƣợc bài tiết bởi các Đại thực bào), chemokine (để chỉ các cytokine có hoạt tính hoá hƣớng động – chemoattractant cytokine) và interleukin (là các cytokine do các tế bào bạch cầu bài tiết và hoạt động trên các tế bào bạch cầu khác). Các cytokin có thể hoạt động trên các tế bào tiết ra nó (autocrine action- tự tiết), các tế bào bên cạnh (paracrine action – cận tiết) hoặc trong một số trƣờng hợp với các tế bào ở xa (endocrine action). Thực tế khá phổ biến là nhiều loại tế bào khác nhau có thể bài tiết cùng một loại cytokin hoặc một loại cytokin có thể hoạt động trên nhiều loại tế bào khác nhau.

Cytokin có thể đƣợc bài tiết bởi nhiều quần thể tế bào, 6 nhƣng các tế bào bài tiết cytokin chủ yếu là các tế bào lympho T hỗ trợ và đại thực bào. Cytokin cũng có thể đƣợc bài tiết bởi các mô thần kinh ngoại biên trong các trạng thái sinh lý và bệnh lý bởi sự có mặt của các loại tế bào nhƣ đại thực bào, dƣỡng bào, tế bào nội mô và các tế bào Schwann. Khi tổ thƣơng thần kinh ngoại vi, các tế bào đại thực bào và các tế bào Schwann tập trung quanh vị trí tổn thƣơng, bài tiết các cytokin và các yếu tố phát triển đặc biệt cho việc hồi phục thần kinh. Việc kích thích viêm cục bộ hạch gai không chỉ làm tăng các cytokin gây viêm mà cũng giảm các cytokin chống viêm [35].

Cytokin cũng có thể đƣợc tổng hợp và giải phóng từ nhân nhầy đĩa đệm, đƣợc tổng hợp bên trong ống sống [36], thân tế bào hạch gai [37] hoặc vùng da bị viêm [38]. * Vai trò của cytokin trong đau do viêm Các cytokin gây viêm Các cytokin gây viêm đƣợc sản xuất chủ yếu bởi các đại thực bào hoạt động và nó liên quan đến sự điều hòa tăng phản ứng viêm. Có một bằng chứng rõ ràng về các loại cytokin gây viêm nhất định nhƣ IL-1β, IL-6, và TNF-α là có liên quan đến quá trình tiến triển của đau bệnh lý. IL-1β đƣợc giải phóng trƣớc hết bởi các tế bào monocyte và đại thực bào cũng nhƣ bởi các tế bào không miễn dịch nhƣ nguyên bào sợi và các tế bào nội mô khi có tổn thƣơng tế bào, nhiễm trùng, xâm lấn và viêm.

Gần đây, ngƣời ta thấy rằng IL-1β đƣợc biểu hiện trong các tế bào thần kinh cảm giác ở hạch gai [39]. Sự biểu hiện của IL-1β tăng lên cùng với sự tổn thƣơng dập nát các tế bào thần kinh ngoại vi hoặc sau chấn thƣơng các tế bào thần kinh đệm và các tế bào hình sao trong hệ thống thần kinh trung ƣơng [40].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ