Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD, cung cấp thông tin quan trọng cho điều trị.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Hô Hấp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2019

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.2. Gánh nặng của đợt cấp COPD

1.3. Phân loại mức độ nặng của đợt cấp COPD

1.4. Rối loạn quá trình đông máu ở bệnh nhân đợt cấp COPD

1.5. Vai trò của thuốc lá đến tình trạng đông máu và các biến cố huyết khối ở bệnh nhân COPD

1.6. Tắc động mạch phổi trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

1.7. Mối liên quan giữa đợt cấp COPD và TĐMP

1.8. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

1.9. Tỷ lệ TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

1.10. Yếu tố nguy cơ TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

1.11. Biến chứng của TĐMP cấp nếu không được chẩn đoán và điều trị

1.12. Những vấn đề cần được nghiên cứu thêm

1.13. Tắc động mạch phổi cấp

1.14. Dịch tễ học huyết khối tĩnh mạch sâu và tắc động mạch phổi

1.15. Sinh lý bệnh tắc động mạch phổi

1.16. Tiếp cận chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp

1.17. Tổng quan tình hình nghiên cứu TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

1.17.1. Trên thế giới

1.17.2. Tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Địa điểm nghiên cứu

2.4. Thời gian nghiên cứu

2.5. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.6. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu

2.7. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

2.8. Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số, biến số nghiên cứu

2.9. Tiêu chuẩn chẩn đoán COPD

2.10. Đánh giá triệu chứng ở bệnh nhân COPD

2.11. Đánh giá COPD theo các nhóm ABCD

2.12. Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp COPD

2.13. Tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp COPD do nhiễm trùng

2.14. Chẩn đoán đợt cấp COPD không do nhiễm trùng

2.15. Tiêu chuẩn chẩn đoán mức độ nặng trong đợt cấp COPD

2.16. Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng suy hô hấp

2.17. Tiêu chuẩn chẩn đoán tắc động mạch phổi

2.18. Phân tầng nguy cơ tử vong do tắc động mạch phổi

2.19. Tiêu chuẩn chẩn đoán các rối loạn nhịp tim, suy tim, suy vành, tăng huyết áp

2.20. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường

2.21. Phương pháp nghiên cứu

2.22. Phương pháp thu thập số liệu nghiên cứu

2.22.1. Thu thập số liệu cho mục tiêu 1

2.22.2. Thu thập số liệu cho mục tiêu 2

2.22.3. Thu thập số liệu cho mục tiêu 3

2.23. Phương tiện nghiên cứu và quy trình kỹ thuật

2.23.1. Xét nghiệm D-dimer

2.23.2. Chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi

2.23.3. Các thăm dò cận lâm sàng khác

2.24. Tổng hợp các biến số và chỉ số nghiên cứu

2.25. Xử lý số liệu

2.26. Quy trình nghiên cứu

2.27. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tắc động mạch phổi ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

3.2.1. Đặc điểm lâm sàng

3.2.2. Đặc điểm cận lâm sàng

3.3. Tỷ lệ và yếu tố nguy cơ TĐMP trong đợt cấp COPD

3.4. Giá trị của xét nghiệm D-dimer và các thang điểm Wells, Geneva cải tiến trong chẩn đoán TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

3.4.1. Giá trị của xét nghiệm D-dimer

3.4.2. Giá trị của thang điểm Wells

3.4.3. Giá trị của thang điểm Geneva cải tiến

3.4.4. So sánh thang điểm Wells và Geneva cải tiến trong đánh giá nguy cơ lâm sàng TĐMP

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.2. Tỷ lệ và yếu tố nguy cơ TĐMP trong đợt cấp COPD

4.3. Các yếu tố nguy cơ độc lập gây TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

4.4. Kết quả thang điểm Padua trong đánh giá nguy cơ TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

4.5. Giá trị của xét nghiệm D-dimer và các thang điểm Wells, Geneva cải tiến trong chẩn đoán TĐMP ở bệnh nhân đợt cấp COPD

4.5.1. Giá trị của xét nghiệm D-dimer

4.5.2. Giá trị của thang điểm Wells

4.5.3. Giá trị của thang điểm Geneva cải tiến

4.5.4. So sánh mức độ phù hợp giữa thang điểm Wells và Geneva cải tiến trong đánh giá nguy cơ lâm sàng TĐMP

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BỆNH ÁN MINH HỌA

BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD

Tắc động mạch phổi (TĐMP) là một biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). TĐMP có thể dẫn đến tình trạng suy hô hấp cấp tính và tăng nguy cơ tử vong. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TĐMP ở bệnh nhân COPD có thể dao động từ 3,3% đến 29%. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ của TĐMP là rất quan trọng để cải thiện kết quả điều trị.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của tắc động mạch phổi ở bệnh nhân COPD

TĐMP ở bệnh nhân COPD thường có triệu chứng không đặc hiệu như khó thở, đau ngực và ho. Những triệu chứng này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với triệu chứng của đợt cấp COPD. Do đó, việc chẩn đoán sớm TĐMP là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ tử vong.

1.2. Yếu tố nguy cơ gây tắc động mạch phổi ở bệnh nhân COPD

Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi cao, tiền sử hút thuốc, tình trạng nằm bất động dài ngày và tình trạng viêm toàn thân. Những yếu tố này có thể làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối và dẫn đến TĐMP.

II. Vấn đề chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD

Chẩn đoán TĐMP ở bệnh nhân COPD gặp nhiều khó khăn do triệu chứng chồng lấp. Việc sử dụng các phương pháp chẩn đoán như xét nghiệm D-dimer và chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi là cần thiết để xác định chính xác tình trạng bệnh nhân.

2.1. Khó khăn trong việc chẩn đoán tắc động mạch phổi

Triệu chứng của TĐMP có thể tương tự như triệu chứng của đợt cấp COPD, dẫn đến việc chẩn đoán sai hoặc chậm trễ. Điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả điều trị.

2.2. Các phương pháp chẩn đoán tắc động mạch phổi

Xét nghiệm D-dimer và chụp cắt lớp vi tính động mạch phổi là những công cụ quan trọng trong chẩn đoán TĐMP. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc kết hợp các phương pháp này có thể cải thiện độ chính xác trong chẩn đoán.

III. Phương pháp nghiên cứu tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi cứu để phân tích đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân COPD có TĐMP. Việc thu thập dữ liệu từ các bệnh viện sẽ giúp xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của TĐMP.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng

Nghiên cứu được thực hiện trên các bệnh nhân COPD nhập viện với triệu chứng đợt cấp. Đối tượng nghiên cứu được chọn lọc dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng.

3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ bệnh án, bao gồm các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả xét nghiệm. Phân tích thống kê sẽ được thực hiện để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và TĐMP.

IV. Kết quả nghiên cứu về tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ TĐMP ở bệnh nhân COPD là khá cao. Các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, tiền sử hút thuốc và tình trạng viêm được xác định là có liên quan chặt chẽ đến sự xuất hiện của TĐMP.

4.1. Tỷ lệ tắc động mạch phổi ở bệnh nhân COPD

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ TĐMP ở bệnh nhân COPD là 12,31/10.000 người/năm, cao hơn so với nhóm không mắc COPD. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và quản lý chặt chẽ bệnh nhân COPD.

4.2. Các yếu tố nguy cơ độc lập gây tắc động mạch phổi

Phân tích hồi quy cho thấy tuổi cao, tiền sử hút thuốc và tình trạng viêm là những yếu tố nguy cơ độc lập gây TĐMP ở bệnh nhân COPD. Việc nhận diện sớm các yếu tố này có thể giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân COPD

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng TĐMP là một biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân COPD. Việc nhận diện sớm và điều trị kịp thời có thể giảm thiểu nguy cơ tử vong. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về mối liên hệ giữa TĐMP và COPD.

5.1. Tầm quan trọng của việc phát hiện sớm tắc động mạch phổi

Phát hiện sớm TĐMP có thể giúp cải thiện kết quả điều trị và giảm thiểu tỷ lệ tử vong. Các bác sĩ cần chú ý đến triệu chứng và yếu tố nguy cơ để có biện pháp can thiệp kịp thời.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần có thêm các nghiên cứu lớn hơn để xác định rõ hơn về tỷ lệ TĐMP ở bệnh nhân COPD và các yếu tố nguy cơ liên quan. Điều này sẽ giúp xây dựng các hướng dẫn điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhân.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và một số yếu tố nguy cơ tắc động mạch phổi cấp ở bệnh nhân đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1. Định nghĩa Đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây ra các tác động bất lợi kéo dài, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống, tăng tiến triển của bệnh, đẩy nhanh tốc độ suy giảm chức năng phổi, tăng tỷ lệ tử vong và tăng chi phí điều trị [9]. Định nghĩa và phân loại mức độ nặng của đợt cấp vẫn còn nhiều tranh cãi, cơ chế gây đợt cấp vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ [21], [22], [23].

Nguyên nhân khởi phát đợt cấp chủ yếu do vi khuẩn, virus hoặc cả hai. Một số nguyên nhân không do nhiễm trùng bao gồm ô nhiễm môi trường, thay đổi thời tiết, tắc động mạch phổi, suy tim, nhưng ở nhiều trường hợp không xác định được nguyên nhân [6]. Tình trạng viêm tăng trong đợt cấp, biểu hiện với tăng số lượng tế bào viêm (đặc biệt là bạch cầu đa nhân trung tính), cytokines, chemokines và proteases tại đường thở, tăng nồng độ các cytokines và CRP (C Reactive Protein) trong máu. Hiện tại không có dấu ấn sinh học nào đáng tin cậy trong dự báo xuất hiện đợt cấp [2].

Theo thời gian, các đợt cấp trở nên thường xuyên hơn và nặng hơn. Các bệnh nhân COPD nặng dễ bị các đợt cấp nặng và nguy cơ nhập viện cao hơn, đặc biệt vào những tháng mùa đông khi tình trạng nhiễm virus gặp phổ biến. Các yếu tố nguy cơ gây xuất hiện đợt cấp bao gồm tuổi cao, FEV1 thấp, tăng nhu cầu sử dụng các thuốc giãn phế quản và corticosteroid, tiền sử đợt cấp 12 tháng qua, sử dụng kháng sinh kéo dài, sự hiện diện của các bệnh đồng mắc (suy tim sung huyết, bệnh động mạch vành, đái tháo đường, suy thận, suy gan) [2], [24]. Theo định nghĩa của GOLD 2015: đợt cấp COPD là một biến cố cấp tính đặc trưng bởi sự xấu đi của các triệu trứng hô hấp vượt quá dao động bình thường hàng ngày của bệnh nhân dẫn tới những thay đổi điều trị [4].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Gánh nặng của đợt cấp COPD Những bệnh nhân COPD thường bị các đợt cấp phải nhập viện. Tại Anh, chi phí hàng năm cho quản lý bệnh nhân COPD khoảng 8 triệu bảng, trong đó chi phí cho đợt cấp chiếm > 60%. Tử vong tại bệnh viện dao động 2,5 -25%, trong số những bệnh nhân sống sót, 25 -55% sẽ tái nhập viện và tỷ lệ tử vong sau 1 năm khoảng 25 -50% [25].

Tại Mỹ, ước tính đợt cấp COPD gây 110.000 trường hợp tử vong và > 500.000 trường hợp nhập viện mỗi năm, chi phí trực tiếp khoảng 18 tỷ đô la [3]. Thêm vào đó, các gánh nặng tài chính khác để chăm sóc cho những bệnh nhân này, chẳng hạn số ngày mất việc, giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống [24], [26]. Cùng với diễn tiến tự nhiên của COPD, đợt cấp xảy ra thường xuyên hơn, Donaldson và CS ghi nhận các bệnh nhân đợt cấp mức độ nặng có 3,43 đợt cấp/năm so với 2,68 đợt cấp/năm ở nhóm đợt cấp mức độ trung bình [2]. Nghiên cứu SUPPORT thu thập các bệnh nhân đợt cấp COPD nặng có biểu hiện suy hô hấp tăng CO2 cấp, ghi nhận tỷ lệ tử vong tại bệnh viện khoảng 11%, tử vong sau 180 ngày khoảng 33% và sau 2 năm là 49% [27].

Một số nghiên cứu khác cũng ghi nhận tử vong tại bệnh viện dao động 11-24%, sau 1 năm là 22% và sau 2 năm là 35,6% [28]. Đợt cấp COPD là một biến cố quan trọng trong diễn tiến của bệnh vì ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng đến triệu chứng và chức năng phổi mất nhiều tuần để hồi phục, đẩy nhanh tốc độ suy giảm chức năng phổi, chi phí tốn kém [4]. Tử vong tại bệnh viện ở bệnh nhân đợt cấp COPD có tăng CO2 máu gây toan hô hấp chiếm khoảng 10%, khoảng 40% sau 1 năm ở những bệnh nhân cần thông khí nhân tạo, tử vong do tất cả các nguyên nhân sau 3 năm khoảng 49% [29]. Việc phát hiện, điều trị phù hợp và phòng ngừa có thể giảm gánh nặng đợt cấp do nhiều yếu tố [2].

Nguyên nhân phổ biến của đợt cấp được cho là do nhiễm khuẩn hệ hô hấp (vi khuẩn hoặc virus), các nghiên cứu qua nội soi phế quản cho thấy ít nhất 50% bệnh nhân có vi khuẩn tại đường thở dưới trong đợt cấp COPD LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhưng có một tỷ lệ đáng kể số bệnh nhân này được phát hiện có vi khuẩn quần cư tại đường thở dưới trong giai đoạn ổn định. Ô nhiễm không khí cũng là một yếu tố thúc đẩy đợt cấp xuất hiện. Tuy nhiên có khoảng 1/3 các trường hợp đợt cấp COPD không xác định được nguyên nhân rõ ràng [6], [30]. Một số trường hợp có xu hướng xuất hiện nhiều đợt cấp và đợt cấp nặng, trong khi đó một số khác thì không.

Những ghi nhận > 2 đợt cấp mỗi năm được xác định là đợt cấp thường xuyên, một kiểu hình xuất hiện ổn định theo thời gian [29]. Cùng với nhiễm trùng và ô nhiễm không khí, sự xuất hiện nặng lên của các triệu chứng hô hấp (đặc biệt là khó thở) ở bệnh nhân COPD có thể do nhiều cơ chế khác nhau chồng lấp trên cùng một bệnh nhân. Những nguyên nhân này có thể giống và/hoặc làm đợt cấp nặng hơn, bao gồm: viêm phổi, tắc động mạch phổi, suy tim sung huyết, loạn nhịp tim, tràn khí màng phổi, tràn dịch màng phổi và cần tầm soát chẩn đoán và điều trị kịp thời [31]. Phân loại mức độ nặng của đợt cấp COPD Mức độ nặng của COPD là cơ sở chính để xác định mức độ nặng của đợt cấp [22].

Không có tiêu chuẩn đánh giá mức độ nặng ở bệnh nhân không cần nhập viện [21]. Những nghiên cứu đã công bố cho thấy điều trị bằng corticoid đường uống hoặc đường tĩnh mạch được cho là đợt cấp nặng hơn [21]. Chẩn đoán mức độ nặng đợt cấp COPD mang ý nghĩa quan trọng trong xử trí nhưng khái niệm về mức độ nặng đợt cấp khá phức tạp. Trên cơ sở này, một trường hợp COPD nặng có thể sẽ rơi vào đợt cấp nặng chỉ với các thay đổi nhỏ so với tình trạng bệnh lý nền.

Mức độ nặng của bệnh lý COPD nền được tính bằng chức năng thông khí phổi (dựa trên FEV1). Các thay đổi cấp tính gây ra do đợt cấp thường được đánh giá bằng mức độ suy hô hấp (giảm oxy máu có hay không tình trạng tăng carbondioxide) [24]. Có một số hướng dẫn về phân loại mức độ nặng của đợt cấp, tuy nhiên phân loại của Anthonisen đơn giản và dễ áp dụng. Phân loại này dựa trên 3 triệu chứng chính: tăng hoặc khởi phát mới khó thở, tăng tiết đờm và đờm mủ [32].

Ngoài ra có thể áp dụng phân loại mức độ nặng đợt cấp theo Burge S, Wedzicha JA năm 2003 [7]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại mức độ nặng đợt cấp COPD theo Anthonisen và CS 1987 [32]. Mức độ nặng Loại đợt cấp Đặc điểm Nặng Týp 1 Tăng khó thở, thể tích đờm và đờm mủ Trung bình Týp 2 Bất kỳ 2 trong 3 triệu chứng chính Bất kỳ 1 trong 3 triệu chứng chính và 1 hoặc nhiều các dấu hiệu hoặc triệu chứng phụ sau: - Ho - Khò khè Nhẹ Týp 3 - Sốt không rõ nguyên nhân - Nhiễm khuẩn hệ hô hấp trong 5 ngày qua - Nhịp thở tăng > 20% so với mức nền - Nhịp tim tăng > 20% so với mức nền Bảng 1.

Phân loại mức độ nặng đợt cấp COPD theo Burge S, Wedzicha JA năm 2003 [7]. Đợt cấp được điều trị kháng sinh nhưng không dùng corticoid Nhẹ toàn thân. Nếu không, kết quả khí máu không có suy hô hấp. Đợt cấp được điều trị với corticosteroid ngoài đường tiêu hóa Trung bình hoặc không dùng kháng sinh.

Nếu không, kết quả khí máu không có suy hô hấp. Suy hô hấp với biểu hiện hạ oxy máu nhưng không tăng CO2 Nặng hoặc toan hô hấp (PaO2 < 60mmHg và PaCO2 < 45mmHg). Suy hô hấp với biểu hiện hạ oxy máu, tăng CO2 nhưng không có Rất nặng toan hô hấp (PaO2 < 60mmHg và PaCO2 > 45mmHg và pH > 7,35). Dọa tử Suy hô hấp với biểu hiện tăng CO2, toan hô hấp (PaCO2 > vong 45mmHg và pH < 7,35).

Rối loạn quá trình đông máu ở bệnh nhân đợt cấp COPD Tổn thương đặc trưng ở bệnh nhân COPD được thể hiện bởi quá trình viêm mạn tính đường thở, phá hủy nhu mô phổi, tổn thương mạch máu phổi với sự tham gia của nhiều loại tế bào và các chất trung gian của phản ứng viêm [33]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Hạ oxy máu kéo dài gây đa hồng cầu từ đó gây tăng độ nhớt của máu. Các stress oxy hóa và tình trạng tăng CO2 máu có thể dẫn đến phá hủy cấu trúc và chức năng tế bào nội mô, từ đó kích hoạt quá trình đông máu [34], [35]. Bệnh nhân COPD thường có tăng độ nhớt máu, tình trạng tăng đông, thậm chí hình thành huyết khối [36].

Một số yếu tố tham gia vào quá trình này đã được xác định [37]: (1) tình trạng hạ oxy máu mạn tính kéo dài có thể gây tăng quá trình tiêu hủy hồng cầu, rối loạn chuyển hóa năng lượng màng hồng cầu, tăng khả năng kết tập hồng cầu cùng với tăng độ nhớt máu, (2) hạ oxy mô kéo dài kích thích bạch cầu, đại thực bào giải phóng nhiều interferon -2, interleukin -6 qua trung gian phản ứng viêm, hậu quả là phá hủy tế bào nội mô mạch máu và biểu mô phế nang, kích hoạt tăng bám dính và ngưng tập tiểu cầu; (3) ở bệnh nhân đợt cấp COPD, hoạt tính của antithrombin – III giảm rõ rệt, rối loạn quá trình đông máu; (4) quá trình toan hô hấp gây tổn thương trực tiếp tế bào nội mô mạch máu phổi dẫn đến hoạt hóa hệ thống đông máu nội sinh [38], [39]. Tóm lại, những yếu tố trên kết hợp ở bệnh nhân đợt cấp COPD dẫn đến tăng độ nhớt máu, tình trạng tăng đông cao, tăng cao nguy cơ hình thành huyết khối và làm trầm trọng thêm tình trạng tăng áp động mạch phổi ở bệnh nhân COPD [40]. Huyết khối có thể được hình thành bởi hoạt hóa tiểu cầu hoặc sự hiện hữu của tình trạng tiền đông ở bệnh nhân có tổn thương phế nang và mạch máu [41]. Một số nghiên cứu gợi ý gián tiếp rằng sự xuất hiện tình trạng tiền đông ở bệnh nhân COPD dựa trên những thay đổi hoạt hóa tiểu cầu và hệ thống đông máu [42].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ