CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. THƯƠNG HIỆU VÀ TÍNH CÁCH THƯƠNG HIỆU 1. Thương hiệu a. Quan điểm về thương hiệu Quan điểm về thương hiệu đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử.
Thuật ngữ “brand” (thương hiệu) xuất phát từ tiếng Nauy cổ “brandr” nghĩa là “đóng dấu bằng sắt nung” một từ thông dụng để chỉ việc đốt cháy lên da hoặc lông thú nuôi, gỗ, kim loại để khắc (in) hình lên trên đó. Ở thời kỳ xa xưa đó, thương hiệu chỉ được hiểu đơn thuần là dấu hiệu nhận biết và phân biệt, để khẳng định giá trị hàng hóa và quyền sở hữu. Từ giữa thế kỷ XX, thuật ngữ thương hiệu đã bắt đầu phổ biến và dần dần mở rộng ý nghĩa của nó cùng với sự phát triển của các lý thuyết marketing. Có rất nhiều quan điểm về thương hiệu như: Theo tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO (World Itellectual Property Organization), thương hiệu là một dấu hiệu đặc biệt để nhận biết một sản phẩm, một hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất, được cung cấp bởi một tổ chức hoặc một cá nhân.
Theo Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế ITA (International Trademark Association) , thương hiệu bao gồm những từ ngữ, tên gọi, biểu tượng hay bất kì sự kết hợp nào giữa các yếu tố trên được dùng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hoá của các nhà sản xuất hoặc người bán với nhau và để xác định nguồn gốc của hàng hoá đó. Theo Park (1986), các thương hiệu thường là một sự sự kết hợp của biểu tượng, chức năng và lợi ích thực nghiệm. Theo More (2003), thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu vật chất, thẩm mỹ, lý lẽ và cảm xúc của một sản phẩm, bao gồm tên gọi, logo, “hình ảnh” và 8 mọi sự thể hiện hình ảnh dần qua thời gian được tạo dựng rõ ràng trong tâm trí của khách hàng nhằm thiết lập một chỗ đứng tại đó. Như vậy, có thể thấy có nhiều định nghĩa khác nhau về thương hiệu, theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang có thể chia ra thành hai quan điểm chính như sau: - Quan điểm truyền thống về thương hiệu: “Thương hiệu là một cái tên, một từ, thiết kế, biểu tượng hoặc bất kỳ một đặc điểm nào để phân biệt sản phẩm hay dịch vụ của đơn vị này với đơn vị khác”.
Nhìn chung, quan niệm truyền thống cho rằng thương hiệu là một thành phần của sản phẩm, được dùng như một cái tên, biểu tượng để thị trường hay khách hàng nhận biết và phân biệt được hàng hóa của thương hiệu mình với các sản phẩm khác trong cùng tập cạnh tranh. - Quan điểm tổng hợp về thương hiệu: Theo Ambler & Styles định nghĩa: “Thương hiệu là một tập các thuộc tính cung cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi. Thương hiệu theo quan điểm này cho rằng, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng. Như vậy các thành phần marketing hỗn hợp (sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị) cũng chỉ là các thành phần của một thương hiệu”.
Theo David Aaker (1996): “Thương hiệu là hình ảnh có tính chất văn hóa, lý tính, cảm xúc, trực quan và độc quyền mà bạn liên tưởng đến khi nhắc đến một sản phẩm hay một công ty”. Theo Thanh Nhàn và Thu Hương (2010), thì thương hiệu ngày nay mang ý nghĩa “thương hiệu là tổng hợp tất cả các yếu tố vật chất, thẩm mỹ, lý tính và cảm tính của một sản phẩm, bao gồm bản thân sản phẩm, tên gọi, biểu tượng, hình ảnh và mọi sự thể hiện của sản phẩm đó, dần được tạo dựng qua thời gian và chiếm một vị trí rõ ràng trong tâm trí khách hàng”. 9 Với quan điểm này, sản phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu làm nhiệm vụ cung cấp lợi ích chức năng cho người tiêu dùng. Trong khi đó, thương hiệu không chỉ cung cấp cho khách hàng mục tiêu lợi ích chức năng mà còn cung cấp cả lợi ích tâm lý.
Hai quan điểm về sản phẩm và thương hiệu được minh họa ở hình sau: Thương hiệu là thành phần của sản phẩm Sản phẩm là thành phần của thương hiệu Sản phẩm Thương hiệu Thương Sản phẩm hiệu Hình 1.1 Sản phẩm và thương hiệu (Nguồn: Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang, 2002) Quan điểm tổng hợp về thương hiệu ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn tiêu dùng chấp nhận hơn. Lý do là người tiêu dùng ngày càng mong muốn được thỏa mãn cả hai nhu cầu: nhu cầu chức năng và nhu cầu tâm lý. Sản phẩm chỉ cung cấp cho khách hàng lợi ích chức năng nhưng thương hiệu thì cung cấp cho khách hàng cả hai: bao gồm lợi ích chức năng và lợi ích tâm lý. Theo Stephen King, tập đoàn của WWW: “Sản phẩm là những gì được sản xuất tại một nhà máy, thương hiệu là những gì được khách hàng mua.
Một sản phẩm có thể bắt chước dễ dàng bởi đối thủ cạnh tranh nhưng thương hiệu là tài sản riêng của công ty, một sản phẩm có thể bị lỗi thời nhanh chóng nhưng thương hiệu nếu thành công sẽ không bao giờ lạc hậu”. 10 Theo quan điểm này thì thương hiệu được cấu thành bởi nhiều thành phần, hiện nay chưa có sự thống nhất của các nhà nghiên cứu về các thành phần của thương hiệu. Tuy nhiên, một thương hiệu phải có các thành phần chính như: tên gọi, biểu tượng, bản quyền, thuộc tính, tính năng sử dụng sản phẩm, dịch vụ hỗ trợ, nhân cách thương hiệu, quốc gia xuất xứ, giá trị thông đạt b. Thành phần của thương hiệu Đề tài này tập trung nghiên cứu theo quan điểm tổng hợp về thương hiệu nên cho rằng thương hiệu không chỉ là cái tên, biểu tượng…, để phân biệt sản phẩm của mình với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh mà nó là hợp các thành phần có mục đích cung cấp lợi ích chức năng và lợi ích tâm lý cho khách hàng mục tiêu.
Thương hiệu có thể bao gồm các thành phần sau: - Thành phần chức năng: thành phần này có mục đích cung cấp lợi ích chức năng cho khách hàng mục tiêu và nó chính là sản phẩm của một thương hiệu. Nó bao gồm các thuộc tính mang tính chức năng (function attributes) như công dụng của sản phẩm, các đặc trưng bổ sung (features), chất lượng (quality), giá cả (price),…. - Thành phần cảm xúc: thành phần này bao gồm các yếu tố giá trị mang tính biểu tượng (symbolic values) nhằm tạo cho khách hàng mục tiêu những lợi ích tâm lý. Các yếu tố này có thể là tính cách thương hiệu (brand personality), biểu tượng (symbols), luận cứ giá trị hay còn gọi là luận cứ bán hàng độc đáo (USP: unique selling proposition), vị trí thương hiệu, đồng hành với công ty (organisational associations) như quốc gia xuất xứ (country of origin), công ty nội địa hay quốc tế.
Là cảm xúc tạo ra nhận thức, niềm tin thái độ của người tiêu dùng với thương hiệu. Thông qua những gì quan sát được như: biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng, cung cách phục vụ của nhân viên,… người tiêu dùng bắt đầu có những nhận thức về thương hiệu đó. Ví dụ phần cảm tính của thương hiệu Honda chính là những cảm nhận của người tiêu dùng như độ bền, kiểu 11 dáng đẹp…. Là các giá trị văn hóa (dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, môi trường sống), xã hội (giai cấp, nhóm) nya là phong cách, lối sống mà thương hiệu làm đại diện.
Ví dụ như Áo dài Việt Nam đã tạo dựng thương hiệu cho mình qua các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam, thể hiện nét đẹp duyên dáng, bình dị của người con gái Việt Nam. Khi xây dựng thương hiệu, hãy nghĩ nhiều đến lợi ích lý tính của sản phẩm. Nhưng nếu có sự kết hợp đúng đắn giữa lợi ích lý tính và những giá trị cộng thêm của yếu tố cảm tính, chúng ta sẽ dễ tạo được sự ưa chuộng nhờ đó tăng doanh thu cũng như lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu của doanh nghiệp. Tính cách thương hiệu a.
Quan điểm về tính cách thương hiệu Trong thế giới kinh doanh ngày nay, tất cả các công ty đang cố gắng để có được sự chú ý của khách hàng bằng cách tạo ra một hình ảnh thương hiệu đặc biệt cho sản phẩm của họ. Pepsi được cảm nhận là một thương hiệu “trẻ”, Coke “thực tế và chân thực” hơn (Aaker, 1997). Các loại đặc điểm con người gắn liền với thương hiệu như thế này được gọi là “tính cách thương hiệu”. Khi mà thị trường có quá nhiều sản phẩm và rất khó để phân biệt sự khác nhau giữa chúng thì tạo một cá tính thích hợp cho một thương hiệu sẽ tạo nên sự khác biệt nổi bật.
Việc hình thành tính cách thương hiệu thích hợp khuyến khích một cá nhân có một mối quan hệ sâu sắc với thương hiệu đó (Louis & Lompart, 2010). Người tiêu dùng thường mong muốn có những thương hiệu mà có tính cách thương hiệu và khác biệt mà chúng phù hợp với đặc điểm tính cách của người tiêu dùng (Lin, 2010). Theo công ty nghiên cứu thị trường Millward Brown, những nhà quản lý thương hiệu và hoạch định quảng cáo từ lâu đã hiểu rằng thương hiệu của công ty khác biệt theo cách mà họ thể hiện khách hàng. Nghiên cứu này đã 12 vượt qua điều này để chứng minh rằng những nét tính cách cụ thể có thể nâng cao hoặc làm suy yếu định vị cạnh tranh của một thương hiệu.
Nếu thương hiệu có một nét tính cách mạnh, công ty cần phải điều chỉnh “tông” của nó cho phù hợp với những nền văn hoá khác nhau. Những người làm marketing giỏi sẽ sử dụng nghiên cứu để nắm được vai trò của tính cách thương hiệu trong việc xây dựng quan hệ với khách hàng và ứng dụng những điều tìm hiểu được để tối đa hoá sức hấp dẫn thương hiệu trên khắp thế giới. Một số thương hiệu nổi tiếng có những đặc điểm khác nhau ở những nơi khác nhau trên thế giới. Chẳng hạn, ở Ý, Tây Ban Nha và Anh, iPhone Apple được xem là hình mẫu Người quyến rũ (Seductress) nhưng ở Úc lại là Người pha trò (Joker) và ở Nhật là Người mơ mộng (Dreamer).
Sự khác biệt này chỉ ra rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính cách của một thương hiệu. Không chỉ người tiêu dùng trải nghiệm các hoạt động marketing của một thương hiệu dưới thước đo giá trị, truyền thống và hoàn cảnh của riêng họ, mà họ cũng cảm nhận các nét tính cách qua lăng kính văn hoá của họ.