Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN khi sử dụng mạng di động Viettel" được thực hiện bởi sinh viên Lã Tùng Quân (lớp QTKD CLC-04 QH2019-E, Viện Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Quyên vào tháng 5/2023.
Về bối cảnh thực tiễn, dịch vụ viễn thông di động đã trở thành phương tiện kết nối thiết yếu trong sinh hoạt và học tập. Thị trường thông tin di động tại Việt Nam chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà mạng viễn thông. Để duy trì thị phần và phát triển bền vững, các doanh nghiệp viễn thông buộc phải nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm giữ chân khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng tiềm năng. Tác giả dẫn chứng nghiên cứu của Lê Văn Huy (2007) cho thấy việc gia tăng 5% khách hàng trung thành có thể giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận từ 25% đến 85%. Trong đó, nhóm khách hàng sinh viên đại học đại diện cho lớp trẻ nhạy bén với công nghệ, có tần suất sử dụng mạng di động cao và sở hữu những trải nghiệm trực tiếp, rõ nét về dịch vụ nhưng chưa được phân tích độc lập một cách thấu đáo.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Mục tiêu chung (2.1): Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN khi sử dụng mạng di động Viettel, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao mức độ hài lòng của đối tượng này.
- Mục tiêu cụ thể (2.2):
- Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN.
- Tìm ra mô hình chỉ rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN.
- Xây dựng hệ thống thang đo và biến quan sát cho các nhân tố trong mô hình đánh giá.
- Đưa ra các hàm ý chính sách với Viettel để tổ chức hoạt động dịch vụ hoàn thiện và nâng cao mức độ hài lòng của sinh viên.
Khóa luận giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu:
- Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN khi sử dụng mạng di động Viettel?
- Mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố như thế nào đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN?
- Các giải pháp để nâng cao mức độ hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN khi sử dụng mạng di động Viettel là gì?
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN đối với dịch vụ mạng di động Viettel. Phạm vi không gian được giới hạn tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN (số 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội). Phạm vi thời gian nghiên cứu thu thập dữ liệu từ năm 2022 đến năm 2023, trong đó đợt khảo sát sơ bộ và điều tra thực tế diễn ra vào tháng 4/2023. Khách thể khảo sát là sinh viên đang theo học tại trường có thời gian sử dụng mạng di động Viettel tối thiểu từ 6 tháng trở lên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa học thuật về sự hài lòng của khách hàng từ Fornell (1995), Hoyer và MacInnis (2001), Hansemark và Albinsson (2004), Zeithaml và Bitner (2000), cùng Kotler (2000). Về mô hình đo lường, tác giả phân tích năm mô hình nền tảng:
- Mô hình Gronroos (1984): Phân định chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng tác động đến chất lượng dịch vụ cảm nhận.
- Mô hình khoảng cách chất lượng dịch vụ SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1988): Đo lường chất lượng dịch vụ qua khoảng cách giữa sự cảm nhận và kỳ vọng.
- Mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor (1992): Đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên kết quả thực hiện thực tế.
- Mô hình Kỳ vọng - Cảm nhận của Oliver (1980): Xác định ba trạng thái tâm lý dựa trên so sánh giữa thực tế cảm nhận (P) và kỳ vọng (E), bao gồm không hài lòng ($P < E$), hài lòng ($P = E$) và rất hài lòng ($P > E$).
- Mô hình tiền đề và trung gian của Dabholkar và cộng sự (2000): Xem xét các yếu tố đặc trưng dịch vụ là tiền đề tác động đến sự hài lòng và ý định hành vi.
Về tổng quan nghiên cứu thực nghiệm, khóa luận tổng hợp các công trình quốc tế của Orose Leelakulthanit và Boonchai Hongcharu (2011), Motaher Hossain và Nusrat Jahan Suchy (2013), Moon-Koo Kim và cộng sự (2002), Muhammad Ishtiaq Ishaq (2011); kết hợp các nghiên cứu tại Việt Nam của Lê Thị Tuyết Trinh (2012), Nguyễn Tuyết Khanh (2013), Nguyễn Hằng Trang (2016). Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các đề tài trước đây chủ yếu tiếp cận khách hàng đại chúng trên địa bàn tỉnh/thành phố, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về mức độ hài lòng của nhóm khách hàng sinh viên đại học đối với mạng di động Viettel.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm năm biến độc lập tác động đến một biến phụ thuộc (Sự hài lòng của sinh viên), tương ứng với năm giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết H1: Chất lượng cuộc gọi tương quan đồng biến với sự hài lòng của sinh viên.
- Giả thuyết H2: Dịch vụ gia tăng tương quan đồng biến với sự hài lòng của sinh viên.
- Giả thuyết H3: Cấu trúc giá hợp lý tương quan đồng biến với sự hài lòng của sinh viên.
- Giả thuyết H4: Sự thuận tiện tương quan đồng biến với sự hài lòng của sinh viên.
- Giả thuyết H5: Dịch vụ khách hàng tương quan đồng biến với sự hài lòng của sinh viên.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hai giai đoạn:
- Nghiên cứu định tính: Tiến hành thảo luận nhóm tập trung với 10-12 sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN trong độ tuổi từ 18 đến 22, có thâm niên sử dụng mạng Viettel từ 6 tháng trở lên. Mục tiêu nhằm khám phá, điều chỉnh các chỉ báo từ nghiên cứu quốc tế cho phù hợp với ngữ cảnh thực tế tại Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng: Thiết kế bảng hỏi cấu trúc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) để thu thập dữ liệu sơ cấp bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Quy trình phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS 20.0 bao gồm: thống kê mô tả tần số, đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) theo phương pháp trích Principal Component Analysis với phép xoay Varimax, phân tích tương quan Pearson, phân tích phương sai ANOVA và phân tích hồi quy tuyến tính bội.
Nguồn dữ liệu bao gồm: dữ liệu thứ cấp thu thập từ sách báo, tài liệu chuyên ngành, báo cáo tổng kết của Trường Đại học Kinh tế và Tập đoàn Viettel; dữ liệu sơ cấp thu được từ đợt phát phiếu khảo sát trực tiếp và trực tuyến đến sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng
Chương 1 tập trung làm rõ cơ sở lý luận về hành vi khách hàng và chất lượng dịch vụ viễn thông. Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc đo lường sự hài lòng: giúp doanh nghiệp gia tăng lòng trung thành, duy trì thương hiệu, giảm chi phí phục vụ khách hàng cũ so với việc tìm kiếm khách hàng mới, đồng thời so sánh năng lực cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường viễn thông.
Tiếp đó, chương này phân tích chi tiết các mô hình lý thuyết kinh điển (Gronroos, SERVQUAL, SERVPERF, Mô hình Oliver 1980, Dabholkar 2000) và tổng hợp kết quả của các nghiên cứu tiền nhiệm tại Thái Lan, Bangladesh, Hàn Quốc cũng như các địa bàn Bình Định, Quảng Bình, Đà Nẵng. Từ việc xác định khoảng trống học thuật về nhóm khách hàng sinh viên, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và phát biểu năm giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H5), định nghĩa rõ ràng nội hàm của từng khái niệm nghiên cứu: "Chất lượng cuộc gọi", "Dịch vụ gia tăng", "Cấu trúc giá", "Sự thuận tiện", và "Dịch vụ khách hàng".
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thang đo
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu ba bước: (1) Xây dựng thang đo nháp từ lý thuyết và hiệu chỉnh qua nghiên cứu định tính; (2) Khảo sát thử nghiệm sơ bộ để kiểm tra độ rõ ràng của bảng hỏi; (3) Triển khai nghiên cứu định lượng chính thức.
Về quy mô mẫu, tác giả căn cứ theo tiêu chuẩn của Hair và cộng sự (2006, trích dẫn trong Nguyễn Đình Thọ, 2013) quy định tỷ lệ cỡ mẫu tối thiểu trên một biến đo lường là 5:1 (tối ưu là 10:1). Với 30 biến quan sát được thiết kế, quy mô mẫu tối thiểu cần đạt là 150 quan sát. Bảng hỏi gồm hai phần: Phần A gồm các phát biểu đo lường 30 chỉ báo thuộc 6 thang đo; Phần B thu thập thông tin nhân khẩu học (giới tính, năm học).
Hệ thống thang đo nghiên cứu chính thức được tổng hợp tại bảng dưới đây:
| Tên thang đo |
Ký hiệu mã hóa |
Số biến quan sát |
Nội dung chỉ báo chính |
Nguồn kế thừa |
| Chất lượng cuộc gọi |
CLCG1 - CLCG5 |
5 |
Không nghẽn mạng, không rớt mạng, đàm thoại rõ ràng, vùng phủ sóng rộng, không mất tin nhắn. |
Moon-Koo Kim và ctg (2002); Md. Motaher Hossain & Nusrat Jahan Suchy (2013) |
| Dịch vụ gia tăng |
DVGT1 - DVGT5 |
5 |
Đa dạng loại hình (cuộc gọi chờ, nhạc chờ, roaming...), tính hấp dẫn, đăng ký dễ dàng, cập nhật thường xuyên, khắc phục sự cố nhanh. |
Muhammad Ishtiaq Ishaq (2011); Md. Motaher Hossain & Nusrat Jahan Suchy (2013) |
| Cấu trúc giá |
CTG1 - CTG5 |
5 |
Gói cước đa dạng phù hợp nhu cầu, giá cước cuộc gọi phù hợp, cách tính cước hợp lý, cước SMS phù hợp, cước dịch vụ gia tăng hợp lý. |
Moon-Koo Kim và ctg (2002); Muhammad Ishtiaq Ishaq (2011) |
| Sự thuận tiện |
STT1 - STT5 |
5 |
Chuyển đổi thuê bao dễ dàng, chuyển đổi gói cước dễ dàng, thủ tục hòa mạng gọn nhẹ, thời gian làm việc đại lý phù hợp, địa điểm cửa hàng thuận tiện. |
Moon-Koo Kim và ctg (2002); Md. Motaher Hossain & Nusrat Jahan Suchy (2013) |
| Dịch vụ khách hàng |
DVK1 - DVK7 |
7 |
Dễ gọi tổng đài, nhân viên chu đáo, giải quyết vấn đề nhanh, hướng dẫn tận tình, nhiều điểm hỗ trợ, khuyến mãi hợp lý, thực hiện đúng cam kết. |
Moon-Koo Kim và ctg (2002); Muhammad Ishtiaq Ishaq (2011); Parasuraman và ctg (1985) |
| Sự hài lòng của khách hàng |
HL1 - HL3 |
3 |
Hoàn toàn hài lòng với chất lượng dịch vụ Viettel; Hoàn toàn hài lòng với nhà cung cấp Viettel; Quyết định tiếp tục chọn Viettel nếu chọn lại. |
Tác giả tổng hợp |
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 3 mở đầu bằng phần giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN (thành lập theo Quyết định số 290/QĐ-TTg ngày 6/3/2007, tiền thân từ Khoa Kinh tế Chính trị thuộc Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1974) và Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel (thành lập ngày 1/6/1989, sở hữu mạng di động Viettel Telecom nắm thị phần lớn nhất Việt Nam, đầu tư tại 10 thị trường nước ngoài trên 3 châu lục).
Về công tác làm sạch dữ liệu: Tác giả phát ra tổng cộng 230 phiếu khảo sát, thu về 225 phiếu. Sau khi sàng lọc, loại bỏ 17 phiếu không hợp lệ do không thuộc đối tượng sinh viên sử dụng mạng Viettel trên 6 tháng, thu được 208 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích (gồm 190 phiếu online và 18 phiếu trực tiếp).
Dữ liệu thống kê mô tả về mẫu nghiên cứu được trình bày chi tiết:
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm |
Tần số ($N=208$) |
Tỷ lệ phần trăm (%) |
| Giới tính |
Nam |
86 |
41,3 |
|
Nữ |
122 |
58,7 |
| Năm học |
Sinh viên năm nhất |
7 |
3,4 |
|
Sinh viên năm hai |
20 |
9,6 |
|
Sinh viên năm ba |
55 |
26,4 |
|
Sinh viên năm tư |
126 |
60,6 |
Tác giả giải thích sự chênh lệch giới tính bắt nguồn từ đặc thù tỷ lệ sinh viên nữ chiếm số đông tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN. Cơ cấu năm học tập trung phần lớn ở sinh viên năm tư (60,6%) và năm ba (26,4%) do mạng lưới quan hệ khảo sát của tác giả.
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha đối với 5 biến độc lập (gồm 27 biến quan sát) đều đạt yêu cầu học thuật với hệ số tin cậy lớn hơn 0,6 và các hệ số tương quan biến - tổng đều vượt ngưỡng 0,3:
- Thang đo "Chất lượng cuộc gọi" (5 biến): $\alpha = 0,879$.
- Thang đo "Dịch vụ gia tăng" (5 biến): $\alpha = 0,928$.
- Thang đo "Cấu trúc giá" (5 biến): $\alpha = 0,872$.
- Thang đo "Sự thuận tiện" (5 biến): $\alpha = 0,933$.
- Thang đo "Dịch vụ khách hàng" (7 biến): $\alpha = 0,909$.
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA):
- Đối với các biến độc lập: Kiểm định Bartlett có giá trị thống kê xấp xỉ với mức ý nghĩa $Sig. = 0,000$ (bậc tự do $df = 351$), hệ số kiểm định KMO đạt 0,5. Phân tích trích xuất được 5 nhân tố tương ứng với tiêu chí giá trị Eigenvalue lớn hơn 1, giải thích được 71,460% tổng phương sai trích ($TVE > 50%$). Kết quả ma trận xoay Varimax hội tụ sau 5 lần lặp cho thấy toàn bộ 27 biến quan sát phân tách rõ nét vào 5 nhóm nhân tố, các hệ số tải nhân tố (factor loading) đều đạt giá trị cao trên 0,5 (tiêu biểu như DVK5 đạt 0,871; DVG4 đạt 0,884; DVG2 đạt 0,879; CTG5 đạt 0,821; CLC1 đạt 0,780).
- Đối với biến phụ thuộc (Sự hài lòng): Kiểm định KMO đạt 0,667, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê với $Sig. = 0,000$ ($df = 3$). Phân tích trích được 1 nhân tố duy nhất tại điểm dừng Eigenvalue bằng 1,000, giải thích được 61,873% tổng biến thiên dữ liệu của 3 biến quan sát (hệ số tải của SHL2 đạt 0,774).
Tiếp theo các bước đánh giá độ giá trị thang đo, chương 3 trình bày các bảng thống kê tương quan giữa các biến (Bảng 3.13), kết quả phân tích phương sai ANOVA (Bảng 3.14), tóm tắt độ phù hợp của mô hình hồi quy (Bảng 3.15), các trọng số hồi quy (Bảng 3.16) và bảng tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 3.17) nhằm làm rõ mức độ tác động của từng nhân tố chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng của sinh viên.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị
Chương 4 đúc kết các kết quả định lượng đã thu được từ mô hình nghiên cứu tại Chương 3. Tác giả nhận xét, thảo luận về mức độ tác động của các nhân tố "Chất lượng cuộc gọi", "Dịch vụ gia tăng", "Cấu trúc giá", "Sự thuận tiện" và "Dịch vụ khách hàng" lên mức độ thỏa mãn của sinh viên.
Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống một số giải pháp quản trị thực tiễn nhằm giúp Tập đoàn Viettel nâng cao chất lượng phục vụ đối tượng sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN, tập trung vào việc: tối ưu hóa đường truyền và chất lượng đàm thoại trong khu vực trường học, đa dạng hóa các gói cước dữ liệu tốc độ cao với mức giá ưu đãi phù hợp thu nhập sinh viên, đơn giản hóa các thủ tục chuyển đổi gói cước qua ứng dụng số, nâng cao tính chuyên nghiệp và tốc độ giải quyết khiếu nại của nhân viên tổng đài và các điểm giao dịch.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã khảo sát thực tế và phân tích thành công tập dữ liệu 208 sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN. Kết quả kiểm định thống kê khẳng định độ tin cậy thang đo với hệ số Cronbach's Alpha dao động từ 0,872 đến 0,933 cho 5 nhân tố độc lập. Phân tích EFA chứng minh tính hội tụ và phân biệt của mô hình với tổng phương sai trích biến độc lập đạt 71,460% và biến phụ thuộc đạt 61,873%.
Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất các kiến nghị trực tiếp đến Viettel Telecom để hoàn thiện chính sách giá cước sinh viên, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng gắn liền với nhu cầu học tập trực tuyến, đồng thời cải tiến hệ thống hỗ trợ khách hàng nhằm giải quyết nhanh chóng các sự cố phát sinh.
Về mặt đóng góp, công trình đã tự xác định các giá trị sau:
- Làm rõ các nhân tố then chốt chi phối trực tiếp đến cảm nhận và mức độ hài lòng của sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN khi trải nghiệm mạng Viettel.
- Bổ sung dữ liệu thực nghiệm về phân khúc khách hàng sinh viên - một tệp khách hàng đặc thù nhưng còn thiếu vắng trong các công trình nghiên cứu viễn thông trước đây.
- Cung cấp nguồn thông tin tham khảo có căn cứ khoa học cho Viettel để hiểu rõ hành vi tiêu dùng viễn thông của sinh viên, phục vụ công tác xây dựng chiến lược tiếp thị và giữ chân khách hàng trẻ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với phạm vi và phương pháp thực hiện:
- Phương pháp chọn mẫu thuận tiện (phi xác suất) khiến kết quả nghiên cứu không đại diện hoàn toàn cho tổng thể và không tính toán được sai số do chọn mẫu.
- Cơ cấu mẫu khảo sát có sự thiên lệch lớn về đối tượng: sinh viên năm ba và năm tư chiếm tới 87% tổng số quan sát (năm tư chiếm 60,6%), trong khi sinh viên năm nhất chỉ chiếm 3,4% và năm hai chiếm 9,6% do giới hạn trong việc tiếp cận đối tượng điều tra của tác giả.
- Phạm vi nghiên cứu mới chỉ giới hạn trong khuôn viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến 2023, chưa mở rộng ra các trường đại học thành viên khác trong Đại học Quốc gia Hà Nội hay các trường đại học khác trên địa bàn thành phố.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở là mở rộng quy mô mẫu khảo sát, áp dụng kỹ thuật chọn mẫu xác suất phân tầng theo các khóa/ngành học, đồng thời mở rộng không gian khảo sát sang nhiều cơ sở đào tạo đại học khác nhằm tăng tính đại diện và nâng cao độ khái quát hóa của mô hình lý thuyết.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Marketing, Kinh tế dịch vụ: Tham khảo cấu trúc hoàn chỉnh của một khóa luận nghiên cứu định lượng khảo sát hành vi khách hàng, từ việc hệ thống hóa khung lý thuyết (Oliver, Parasuraman, Cronin & Taylor, Dabholkar) đến quy trình xây dựng thang đo Likert 5 điểm.
- Người nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ viễn thông di động: Kế thừa hệ thống 30 biến quan sát đã được kiểm định độ tin cậy và giá trị hội tụ cho 5 khía cạnh chất lượng dịch vụ (Chất lượng cuộc gọi, Dịch vụ gia tăng, Cấu trúc giá, Sự thuận tiện, Dịch vụ khách hàng).
- Bộ phận nghiên cứu thị trường của các doanh nghiệp viễn thông: Vận dụng số liệu khảo sát mô tả và các phản hồi thực tế của sinh viên để điều chỉnh chính sách gói cước và dịch vụ chăm sóc khách hàng học sinh - sinh viên.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng quy mô mẫu khảo sát thực tế là bao nhiêu và cơ cấu mẫu có đặc điểm gì?
Khóa luận phát ra 230 phiếu, thu về 225 phiếu và chọn lọc được 208 phiếu hợp lệ (190 phiếu online, 18 phiếu trực tiếp). Về giới tính, nữ chiếm 58,7% (122 sinh viên) và nam chiếm 41,3% (86 sinh viên). Về năm học, sinh viên năm tư chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,6% (126 sinh viên), tiếp theo là năm ba với 26,4% (55 sinh viên), năm hai chiếm 9,6% (20 sinh viên) và năm nhất chiếm 3,4% (7 sinh viên).
2. Tiêu chuẩn nào được tác giả áp dụng khi kiểm định thang đo bằng Cronbach's Alpha và EFA?
Tác giả áp dụng các ngưỡng đánh giá: hệ số Cronbach's Alpha $\ge 0,6$ và hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item-Total Correlation) $\ge 0,3$ để loại bỏ biến rác. Đối với EFA, các tiêu chí bắt buộc gồm: hệ số KMO $\ge 0,5$; kiểm định Bartlett có giá trị $Sig. < 0,05$; giá trị Eigenvalue $> 1$; tổng phương sai trích ($TVE$) $> 50%$; và hệ số tải nhân tố (factor loading) nhỏ nhất phải $> 0,5$.
3. Kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha của các nhân tố độc lập đạt các chỉ số cụ thể nào?
Cả 5 nhân tố độc lập đều đạt độ tin cậy rất cao: thang đo "Sự thuận tiện" đạt hệ số cao nhất với $\alpha = 0,933$; tiếp đến là "Dịch vụ gia tăng" đạt $\alpha = 0,928$; "Dịch vụ khách hàng" đạt $\alpha = 0,909$; "Chất lượng cuộc gọi" đạt $\alpha = 0,879$; và "Cấu trúc giá" đạt $\alpha = 0,872$. Không có biến quan sát nào bị loại trong bước phân tích này.
4. Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) đối với các biến độc lập giải thích được bao nhiêu phần trăm phương sai?
Phân tích EFA trích xuất được 5 nhân tố từ 27 biến quan sát độc lập với điểm dừng Eigenvalue lớn hơn 1. Năm nhân tố này giải thích được 71,460% tổng biến thiên của dữ liệu ($TVE = 71,460% > 50%$), trong đó kiểm định Bartlett đạt mức ý nghĩa $Sig. = 0,000$ tại bậc tự do $df = 351$.
5. Vì sao nghiên cứu định lượng lại chọn kích thước mẫu dự kiến từ 150 đến 300 quan sát?
Dựa theo khuyến nghị của Hair và cộng sự (2006, dẫn theo Nguyễn Đình Thọ, 2013), tỷ lệ quan sát trên biến đo lường tối thiểu cần đạt là 5:1. Do bảng hỏi của nghiên cứu gồm 30 biến quan sát (27 biến độc lập và 3 biến phụ thuộc), số lượng mẫu tối thiểu bắt buộc là $30 \times 5 = 150$ mẫu; tác giả đặt mục tiêu thu thập khoảng 300 mẫu để kết quả phân tích đạt độ tin cậy cao hơn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lã Tùng Quân là công trình nghiên cứu định lượng khảo sát được thực hiện bài bản, tuân thủ đúng quy trình học thuật trong chuyên ngành Quản trị kinh doanh. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế từ 208 sinh viên Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN bằng phần mềm SPSS 20.0, đề tài đã kiểm định thành công hệ thống thang đo gồm 5 thành phần chất lượng dịch vụ tác động đến sự hài lòng đối với mạng di động Viettel. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm đáng tin cậy giúp Viettel thấu hiểu nhu cầu của tệp khách hàng sinh viên, đồng thời gợi mở những hướng phát triển giải pháp kinh doanh phù hợp trong giai đoạn tiếp theo.