CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm quy trình khám bệnh Theo luật khám chữa bệnh năm 2009, khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp được công nhận [21]. Quy trình khám bệnh là cách thức cụ thể để tiến hành một quá trình khám bệnh, là sự sắp xếp các hoạt động khám bệnh từ khi người bệnh đến cơ sở y tế cho đến khi ra về hoặc nhập viện.
Khái niệm cơ sở vật chất Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cơ sở vật chất trong bệnh viện, trong đó có hai cách hiểu thông dụng nhất khi nhắc đến cơ sở vật chất trong bệnh viện đó là: - Cơ sở vật chất trong bệnh viện là toàn bộ tư liệu lao động mà bệnh viện sử dụng để sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ cho khách hàng hoặc là toàn bộ tư liệu lao động cần thiết tham gia hỗ trợ cho quá trình sáng tạo và cung ứng cho khách hàng. - Cơ sở vật chất trong bệnh viện là toàn bộ các yếu tố vật chất tham gia vào quá trình phục vụ người bệnh, đáp ứng nhu cầu trị bệnh, ăn uống, nghỉ ngơi và các dịch vụ bổ sung khác trong quá trình người bệnh sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện. + Cơ sở vật chất trong hoạt động của bệnh viện và cơ sở chăm sóc sức khỏe có tính đồng bộ cao do nhu cầu của khách hàng (bệnh nhân) rất đa dạng, điều này dẫn đến bệnh viện và cơ sở chăm sóc sức khỏe phải đầu tư nhiều thành phần cơ sở vật chất khác nhau. Tuy nhiên, muốn thỏa mãn tất cả các nhu cầu thì phải đảm bảo tính cân đối, điều này được thể hiện ở tỷ lệ hợp lý giữa số lượng và chất lượng các thành phần cơ sở vật chất.
+ Cơ sở vật chất khu vực nội trú: 5 Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ các phòng bệnh nội trú của bệnh nhân và được trang bị đầy đủ: Giường, chiếu, chăn, màn, quạt điện, máy thở oxi, chuông gọi điều dưỡng… tùy thuộc vào loại phòng có thể trang bị thêm điều hòa, tủ lạnh, bình nóng lạnh, tivi. Trang thiết bị: đèn chiếu sáng, các máy móc, trang thiết bị phục vụ…. Trong khu vực này chủ yếu phục vụ nhu cầu gia tăng của khách hàng trong quá trình điều trị lưu trú tại bệnh viện và cơ sở chăm sóc sức khỏe. * Cơ sở vật chất thuộc hạ tầng kỹ thuật: Hệ thống điện: Độ chiếu sáng đảm bảo theo yêu cầu của từng khu vực; đền điện phục vụ cho khu vực phòng cấp cứu, phòng mổ và các khu vực cho bệnh nhân đều được chuẩn bị đầy đủ.
Bệnh viện và cơ sở chăm sóc sức khỏe còn trang bị thêm hệ thống máy nổ, máy phát điện để đề phòng trường hợp mạng lưới điện nhà nước bị ngắt, nguồn điện sẽ ngay lập tức chuyển sang dòng điện của máy phát. Đảm bảo cung cấp điện 24/24 cho hoạt động khám chữa bệnh và sinh hoạt trong bệnh viện. Hệ thống giao thông: Thuận tiện cho việc đi lại của cán bộ nhân viên, người bệnh; đặc biệt hệ thống xe cứu thương, có chỗ để xe cứu thương hợp lý để kịp thời phục vụ các ca cấp cứu; xe ô tô của cơ quan, đơn vị hoạt động khi cần thiết phục vụ công tác đưa đón cán bộ công nhân viên khi có hoạt động bên ngoài. Hệ thống cấp thoát nước: hệ thống cấp thoát nước đảm bảo nguồn cung cấp nước phải an toàn, liên tục để phục vụ cho nhu cầu uống nước [4].
Chất lượng bệnh viện Theo WHO, CLDV y tế được thể hiện qua 6 khía cạnh và để cải thiện chất lượng nên tìm cách cải thiện 6 khía cạnh này [39]: - Hiệu quả: kết quả mong đợi là hiệu quả cho các cá nhân và cộng đồng. - Hiệu suất: cung cấp chăm sóc sức khỏe (CSSK) một cách tối đa hóa sử dụng tài nguyên và tránh lãng phí. - Dễ tiếp cận: cung cấp CSSK một cách kịp thời hợp lý về mặt địa lý và cung cấp trong bối cảnh và kỹ năng phù hợp với nguồn lực y tế. - Chấp nhận được: Lấy người bệnh làm trung tâm: cung cấp CSSK có tính các sở thích và nguyện vọng của người sử dụng dịch vụ cá nhân và các nền văn hóa 6 cộng đồng.
- Công bằng: cung cấp chăm sóc y tế mà không thay đổi chất lượng do đặc điểm cá nhân như giới tính, chủng tộc, địa lý văn hóa hoặc tình trạng kinh tế xã hội. - An toàn: cung cấp chăm sóc y tế mà giảm thiểu rủi ro và thiệt hại cho người sử dụng. Chất lượng được xem xét trên hai phương diện: chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng. Chất lượng được tạo ra nhờ sự nỗ lực của con người kết hợp với công nghệ và nhiều yếu tố đầu vào khác nữa.
Có thể nâng cấp chất lượng kỹ thuật của sản phẩm hoặc dịch vụ bằng việc áp dụng các công nghệ hiện đại, trong khi đó để nâng cao chất lượng chức năng cần tới sự tiến bộ về hành vi và thái độ của NVYT như ý thức của nhân viên trong cung cấp DVYT, khả năng tiếp cận dịch vụ, quan hệ giữa người với người, ngoại hình của nhân viên, các cam kết với người bệnh. Muốn nâng cao chất lượng phải biết phối hợp hai mặt của chất lượng một cách tối ưu.[12] Chất lượng bệnh viện là toàn bộ các khía cạnh liên quan đến người bệnh, nhân viên y tế, năng lực thực hiện chuyên môn kỹ thuật; các yếu tố đầu vào, yếu tố hoạt động và kết quả đầu ra của hoạt động khám, chữa bệnh. Một số khía cạnh chất lượng bệnh viện là khả năng tiếp cận dịch vụ, an toàn, người bệnh là trung tâm, hướng về nhân viên y tế, trình độ chuyên môn, kịp thời, tiện nghi, công bằng, hiệu quả v. Trong các bệnh viện, chất lượng KCB có ý nghĩa quan trọng nhất và quyết định sự tồn tại của bệnh viện.
Chất lượng KCB cao làm tăng tính hiệu quả của các hoạt động bệnh viện, tiết kiệm chi phí, và ngược lại, chất lượng kém có thể dẫn đến tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong, tăng chi phí KCB. Sự hài lòng của người bệnh - Sự hài lòng chung: Sự hài lòng của người bệnh là: Sự đánh giá tích cực của cá nhân đối với các khía cạnh khác nhau trong việc CSSK [32]. Tác giả Eliza Leel nhận thấy ngay cả trong những nghiên cứu không nhằm đánh giá sự hài lòng thì thái độ và nhận thức 7 của người bệnh trong chăm sóc đều thể được sử dụng để đánh giá sự tìm kiếm và phản ứng đối với việc chăm sóc. Tuy nhiên, tác giả Eliza Leel cũng cho rằng việc đánh giá sự CSSK sẽ không toàn diện, thấu đáo nếu không đề cập tới khía cạnh “không hài lòng” từ phía người bệnh.
Sự hài lòng của người bệnh là “đánh giá dựa trên những tình cảm của người bệnh đối với việc CSSK” [34]. Fitzpatrick đã có những giải thích cho rằng sự hài lòng của người bệnh xuất phát từ quan điểm tự nhiên, trong đó nhấn mạnh nhiều đến cảm xúc hơn là khía cạnh hữu hình. Đánh giá các phản ứng liên quan đến cảm xúc (Emotional reactions) của người bệnh là một phương pháp để nhận biết được sự hài lòng của họ, phản ứng liên quan đến cảm xúc phản ánh chủ yếu thái độ của người bệnh đối với dịch vụ y tế. Với khái niệm này, tác giả R.
Fitzpatrick nhấn mạnh đến khía cạnh tâm lý của người bệnh là chủ yếu. Nhưng vấn đề này lại phụ thuộc vào tâm trạng của người bệnh tại thời điểm diễn ra điều tra. Sự hài lòng của người bệnh là: “Là do dịch vụ y tế đã làm hài lòng những nhu cầu, mong muốn, yêu cầu của khách hàng trong quá trình điều trị bệnh”. Trong khái niệm này, các cụm từ “làm hài lòng” và “khách hàng” nghĩa là người bệnh có những kỳ vọng và có khả năng đánh giá một cách tích cực đối với dịch vụ mà họ nhận được.
Với khái niệm này, dịch vụ CSSK lại gồm rất nhiều hoạt động và trong đó, người bệnh sẽ đánh giá các thành phần khác trong dịch vụ y tế hơn là chỉ có giới hạn trong quá trình “điều trị bệnh”. “Sự hài lòng của người bệnh được sử dụng phổ biến trong việc đo lường chất lượng dịch vụ y tế và đây như là một cách thức để đánh giá dịch vụ thông qua đo lường nhận thức của người bệnh” [37]. Khái niệm này của tác giả Sonu Goel đã được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là phù hợp bởi nó không chỉ mang tính khái quát mà còn thể hiện rõ ràng chức năng của sự hài lòng của người bệnh và đặc tính tự nhiên của khái niệm này (dựa trên “nhận thức của người bệnh”). - Sự hài lòng về cơ sở vật chất: Với mục tiêu lấy người bệnh là chung tâm của hoạt động điều trị và chăm sóc, nhân viên y tế là then chốt trong các hoạt động khám chữa bệnh, bộ 83 tiêu chí 8 chất lượng bệnh viện Việt Nam của Bộ Y tế phiên bản 2.0 các tiêu chí liên quan đến cơ sở vật chất có chỉnh sửa để phù hợp với tình hình thực tế của bệnh viện [2] Sự hài lòng của người bệnh, yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh về cơ sở vật chất, các yếu tố về cơ sở vật chất ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh gồm: Khu đỗ xe của bệnh viện, môi trường bệnh viện chung, khu nhập khám bệnh, khu vực chờ, khu vực phòng bệnh, các nhà vệ sinh, căng tin, các biển bảng chỉ dẫn, ứng dụng công nghệ… Theo Meterko M & Desai Kr Young Gj và cộng sự, mức độ hài lòng của người bệnh là một chỉ số khá quan trọng khi tiến hành đánh giá về hiệu quả của mỗi bệnh viện trong hệ thống CSSK.
Không thể cải thiện chất lượng dịch vụ nếu như không quan tâm đến những ý kiến hay phàn nàn, thắc mắc của người bệnh. Sự hài lòng của người bệnh không chỉ giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ y tế duy trì chất lượng dịch vụ mà còn làm cho người bệnh thấy rằng những ý kiến của họ được coi trọng. Bên cạnh đó, sự hài lòng của khách hàng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự lựa chọn dịch vụ và như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc cạnh tranh để có thêm khách hàng trên thị trường cung cấp dịch vụ y tế CSSK [33].