phần mở đầu, đề tài gồm bón chương: Chương l: Cơ sở lý luận Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4: Kết luận và hàm ý chính sách CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này sẽ trình bày tất cả các cơ sở lý thuyết nền tảng về du lịch, khu du lich sinh thái, sự hài lòng của du khách nội địa đối với khu du lịch sinh thái. Đồng thời trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình đo lường sự hài lòng của du khách trong lĩnh vực du lịch 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM 1.
Du lịch Tourism (Du lịch) đã trở thành một từ phổ biến trong giới học thuật lẫn trong đời sống hằng ngày. Không ít người cảm thấy khó khăn khi giải thích ý nghĩa của từ “du lịch”, và cũng chưa có một định nghĩa về du lịch được chấp. nhận trên toàn cầu. Thay vào đó là rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch của các nhà nghiên cứu.
Theo tổ chức WTO (1995), khái niệm du lịch được mở rộng “ngành du lịch bao gồm những hoạt động của cá nhân đi đến và ở lại nơi nào đó bên ngoài môi trường quen thuộc của họ trong thời gian dưới một năm liên tục để nghỉ ngơi, làm việc hay vì những mục đích khác.” Trong pháp lệnh du lịch Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ “du lịch” được hiểu “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “du lịch” nhưng nhìn chung các định nghĩa đều đề cập đến “sự đi chuyển một nơi này đến một nơi khác và tạm thời ở lại bên ngoài môi trường sống quen thuộc”. Khu du lịch sinh thái Ecotourism (Du lịch sinh thái) là một loại hình du lịch mới đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đây là một khái niệm rộng, được hiểu dưới nhiều giác độ.
Để hiểu rõ về khái niệm khu du lịch sinh thái, trước hết cần nắm được khái niệm du lịch sinh thái và khu du lịch. Theo Honey (1999) “Du lịch sinh thái là du lịch hướng đến những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo. vệ môi trường, đem lại nguồn lợi kinh tế, sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích, coi trọng các giá trị văn hóa, quyền con người.” Trong Luật du lịch (2005) đã định nghĩa ngắn gọn như sau “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”.
“Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội, môi trường”. Khu du lịch được xếp hạng ở cấp quốc gia hay cấp địa phương, căn cứ vào quy mô, mức độ thu hút khách du lịch, khả năng cung cấp và chất lượng. dịch vụ; ở cấp độ quốc gia bao gồm khu du lịch tông hợp (khu du lịch tổng hợp biển, đảo Hạ Long - Cát Bà, khu du lịch tổng hợp giải trí thể thao biển Cảnh Dương - Hải Vân - Non Nước) và khu du lịch chuyên đề (khu du lich sinh thái VQG PNKB, khu du lịch văn hóa Hội An gắn với di tích Mỹ Sơn). 10 Với tất cả những khái niệm về du lịch sinh thái và khu du lịch đã đưa ra, vậy khu du lịch sinh thái là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với tru thể vẻ tài nguyên du lịch tự nhiên, có hoạt động du lịch dựa vào vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đông nhằm phát triển bên vững và cái thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương.
Hiện nay Du lịch sinh thái đang đóng một vai trò quan trọng trong nhiều dự án bảo tổn thiên nhiên và phát triển cảnh quan. Du lịch sinh thái là cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phương và vườn quốc gia 1. Du khách Trong pháp lệnh về du lịch của Việt Nam ban hành ngày 08 tháng 02 năm 1999 quy định : “Du khách là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề đề nhận thu nhập tại nơi đến” Du khách bao gồm du khách nội địa và du khách quốc tế Du khách nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Du khách quốc tế là người nước ngoài, ngoài Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam đi du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch Du khách của loại hình du lịch sinh thái thường là những người yêu thích thiên nhiên, thân thiện môi trường, họ muốn đi du lịch để được tìm hiểu và nghiên cứu những nơi họ đặt chân đến, tìm hiểu và thưởng ngoạn hệ sinh thái.
Vì vậy, họ luôn cố gắng hạn chế việc xâm hại và phá hủy những tài nguyên quý hiếm về mặt hữu hình lẫn vô hình trong môi trường. Trong và sau mỗi chuyến đi, họ thường có những cảm nhận, đánh giá của riêng mình. Những hoạt động nghiên cứu, khám phá của họ ít nhiều cũng tác động đến những đóng góp và giúp ích cho công tác bảo tồn những đặc tính tự nhiên, văn hóa, xã hội nơi họ đến thăm.4, Sy hai long a. Khái niệm Sự hài lòng mục tiêu cơ bản nhất của doanh nghiệp (Jones&Sasser, 1995), sự hài lòng của khách hàng gắn với sự thành công của các doanh nghiệp trong lĩnh vực quảng bá thông tin, khách sạn, dịch vụ ăn uống.
Có nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về sự hài lòng. và thực tế có rất cách hiểu khác nhau về khái niệm này. Theo Cadotte, Woodruff va Jenkins (1982) đã đưa ra định nghĩa “Sự hài lòng là sự so sánh của những kỳ vọng với những trải nghiệm. ” Sự kỳ vọng của một cá nhận chính là khi một dịch vụ được đưa ra đúng như người ta mong đợi và nó sẽ bị xem là tiêu cực nếu dịch vụ này tệ hơn mức độ kỳ vọng, tích cực khi dịch vụ hoạt động tốt hơn mức dự kiến.
Woodside, Frey va Daly (1989) lai cho ring su hai long 1a “Cám nhận sau khi mua, có liên quan đến mức độ khách hàng thích hoặc không thích một dịch vụ hay một sản phẩm sau khi sử dụng nó. ” Theo Oliver (1997) “Sự hài lòng là câu trả lời đây đủ của người tiêu dùng. Nó là sự đánh giá về đặc điểm về sản phẩm hay dịch vụ, hoặc các sản phẩm dịch vụ đem lại một cắp độ thỏa mãn trong việc đáp ứng sự tiêu dùng, bao gôm cắp độ của việc đáp ứng dưới hoặc quá mong đợi ” Các định nghĩa trên đã chỉ ra rằng sự hài lòng là kết quả của sự sơ sánh giữa lợi ích thực tế cảm nhận được và những kỳ vọng”. Nếu như lợi ích thực tế không như mức độ kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng.
Ngược lại, khách hàng sẽ hài lòng khi lợi ích thực tế đáp ứng hoặc đáp ứng vượt qua sự kỳ vọng đã đặt ra. Sự hài lòng của du khách Trong lĩnh vực lĩnh vực du lịch, khái niệm sự hài lòng là một hàm số của mong đợi trước khi du lịch và cảm nhận sau khi đi (Moutinho, 1987). Sự hài lòng hay sự thỏa mãn của du khách tùy thuộc vào hiệu quả hay lợi ích của sản phẩm du lịch mang lại so với những gì mà họ đang kỳ vọng. Du khách có thể có những cấp độ hài lòng khác nhau, nếu kết quả sử dụng sản phẩm, dịch vụ mang lại cao hơn hoặc bằng với kỳ vọng của họ sẽ làm cho du khách hài lòng, ngược lại nếu kết quả không đạt được như kỳ vọng sẽ làm cho.
Pizam, Neumann và Reichel (1978) xác định sự hài lòng của du khách là kết quả của sự so sánh giữa trải nghiệm của du khách tại các điểm du lịch đã đến và những kỳ vọng của họ về các điểm đến. Theo Hurbert (1995), trước khi sử dụng dịch vụ khách hàng đã hình thành một kịch bản về dịch vụ đó. Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau khách hàng sẽ cảm thấy không hài lòng. Các doanh nghiệp du lịch thường gặp phải những sai lầm khi điều khiển các mong đợi của du khách không xuất phát từ cảm nhận của du khách mà từ ý muốn chủ quan của họ.
Nghiên cứu về nhận thức và động lực du lịch đã chứng minh rằng kỳ vọng đóng vai trò xác định sự hài lòng, động lực để đi du lịch và trong việc xác định mức độ ưu tiên cho các điểm đến. Để khắc phục được điều này phải đặt bản thân mình vào vị trí của du khách để phát hiện các nhu cầu, kỳ vọng, mong đợi của họ; từ đó mới có thể cung cấp các dịch vụ đảm bảo sự thoản mãn của khách hàng. Đo lường sự hài lòng của khách du lịch với một điểm đến cụ thẻ, không đơn giản là việc đánh giá tích luỹ về chất lượng dịch vụ của một số nhà cung. cấp dịch vụ riêng biệt.
Có rất nhiều hoạt động và trải nghiệm khác nhau là những thuộc tính quan trọng của một địa điểm xác định, mà không liên quan 13 đến các tô chức cụ thể. Vì thế, bất kỳ việc đo lường sự hài lòng nào cũng phải tính đến các khía cạnh về cảm nhận tổng thê kỳ nghỉ. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của du khách Nghiên cứu của Echtner và Ritchite (1993), các thành phần của địa điểm du lịch ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng như cơ sở vật chất của địa điểm du lịch đó (destination services), dich vy nhà hàng, khách sạn (restaurant, hotel services), van hóa đón tiếp của địa điểm du lich (host culture), văn hóa địa phương (local culture), môi trường tự nhiên ( the destination’s natural enviro nment) va khí hậu (climate).