Tổng quan luận án
Luận án Tiến sĩ Y học với đề tài "Nghiên cứu sử dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị khuyết phần mềm phức tạp vùng cổ bàn chân" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Dung (khóa 35) thực hiện tại Trường Đại học Y Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Thiết Sơn, thuộc chuyên ngành Ngoại khoa (Chấn thương chỉnh hình và tạo hình), mã số 9720104, bảo vệ năm 2024.
Vùng cổ bàn chân có cấu trúc giải phẫu đặc thù với lớp da và mô dưới da phân bố không đồng đều theo từng vùng chức năng: vùng cổ chân, mu chân có lớp da mỏng, ít mỡ dưới da, khi bị khuyết hổng dễ làm lộ các cấu trúc gân, xương, khớp và bó mạch thần kinh; ngược lại, vùng gan chân và gót chân có lớp da dày, gắn chặt vào xương, chịu trọng lực trực tiếp của cơ thể và ma sát mài mòn cao khi vận động. Khuyết phần mềm (KPM) phức tạp tại vùng này thường phát sinh do tai nạn giao thông, tai nạn lao động lột găng, vết thương hoại tử nhiễm khuẩn, sau phẫu thuật cắt bỏ u (như sarcoma xơ nhầy) hoặc sẹo co kéo, loét mạn tính. Việc phục hồi đòi hỏi phải vừa che phủ kín các thành phần giải phẫu quan trọng, vừa khôi phục chức năng chịu lực, vận động khớp và đảm bảo tính thẩm mỹ để người bệnh có thể mang giày dép bình thường. Các kỹ thuật truyền thống như ghép da, vạt tại chỗ, vạt lân cận hay vạt chéo chân thường bị hạn chế bởi diện tích nhỏ, không áp dụng được cho vùng tì đè hoặc tổn thương lộ gân xương rộng. Trong khi đó, vạt tự do vi phẫu là giải pháp phù hợp, trong đó vạt đùi trước ngoài (ĐTN) sở hữu nhiều ưu điểm về độ dài cuống mạch, đường kính mạch máu, tính đa dạng của thành phần tổ chức và ít để lại di chứng tại nơi cho. Tuy nhiên, việc hệ thống hóa chỉ định và áp dụng linh hoạt các biến thể của vạt ĐTN cho từng dạng tổn khuyết phức tạp cụ thể ở cổ bàn chân vẫn cần được nghiên cứu toàn diện.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung:
- Mô tả khuyết phần mềm vùng cổ bàn chân và đề xuất chỉ định sử dụng vạt đùi trước ngoài trong điều trị khuyết phần mềm phức tạp.
- Đánh giá kết quả tạo hình các khuyết phần mềm phức tạp vùng cổ bàn chân bằng vạt đùi trước ngoài.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu bao gồm 162 bệnh nhân có tổn thương khuyết phần mềm vùng cổ bàn chân được tiếp nhận, phẫu thuật và theo dõi lâm sàng tại Khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ - Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu giải phẫu và kỹ thuật tạo hình khuyết hổng phần mềm chi dưới trên thế giới và tại Việt Nam:
- Về các kỹ thuật vạt tự do kinh điển: Kỹ thuật chuyển vạt vi phẫu đầu tiên được Harii và cộng sự ứng dụng bằng vạt bẹn tự do vào năm 1975 để tái tạo tổn khuyết mạn tính vùng gót chân. Vạt cơ lưng rộng (LD) được Tansini mô tả năm 1896 và Watson cùng cộng sự ứng dụng dạng tự do tái tạo chi dưới vào năm 1979; vạt cánh tay ngoài được Brandt và Khouri mô tả và mở rộng từ những năm 1980 để che phủ tổn thương mu bàn chân.
- Về giải phẫu và phát triển vạt ĐTN: Vạt ĐTN lần đầu tiên được Song Y.G. và cộng sự mô tả vào năm 1984 như một vạt nhánh xuyên cân da xuất phát từ nhánh xuống của động mạch (ĐM) mũ đùi ngoài (MĐN). Các nghiên cứu sau đó của Wei F.C., Kimata Y., Xu, Sung-Weon Choi, Kawai đã xác định đặc điểm giải phẫu nhánh xuyên (tỷ lệ nhánh xuyên cơ chiếm khoảng 60%, xuyên vách gian cơ chiếm 12 - 48%, phân bố chủ yếu trong vòng tròn bán kính 3 cm tại trung điểm đường nối gai chậu trước trên với bờ ngoài xương bánh chè). Tại Việt Nam, vạt ĐTN lần đầu được sử dụng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; các tác giả trong nước như Trần Đăng Khoa (nghiên cứu 226 mạch xuyên trên 60 tiêu bản xác, trung bình 3,7 nhánh xuyên/tiêu bản) và Phạm Thị Việt Dung (nghiên cứu trên 22 bệnh nhân và 12 mẫu xác) đã làm rõ đặc điểm giải phẫu của vạt ở người Việt Nam.
- Về ứng dụng vạt ĐTN theo từng vùng giải phẫu cổ bàn chân:
- Vùng gan chân trước và gót chân chịu lực: Chen và cộng sự (2020) sử dụng vạt ĐTN da cân dày cho 8 bệnh nhân khuyết gan chân trước và 1 bệnh nhân khuyết toàn bộ gan gót chân; Zhou và cộng sự (2022) phối hợp 7 vạt chùm da cơ ĐTN tự do kết hợp ghép da dày toàn bộ từ gan chân đối diện. Lee và cộng sự, Ding Pan và cộng sự (2018) giới thiệu thiết kế vạt dạng lượn sóng (chữ Z) lấy kèm thần kinh (TK) bì đùi ngoài; Olivan và cộng sự (2015) dùng vạt chùm da cơ cho 25 bệnh nhân; He và cộng sự (2022) dùng vạt chùm da - da kèm cơ cho 16 bệnh nhân tổn khuyết gót chân.
- Vùng mu chân, cổ chân: El-Gammal và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 42 trẻ em; Koshima, Kim, Rajacic nghiên cứu kỹ thuật làm mỏng vạt sơ cấp (tỉa mỏng xung quanh mạch xuyên 2,5 - 3 cm, vùng rìa mỏng 3 - 4 mm); Kimura, Yang và cộng sự ứng dụng kỹ thuật làm mỏng vi phẫu tích dưới kính hiển vi trên 18 bệnh nhân; Crosio và cộng sự (2014) sử dụng vạt cân mỡ ĐTN kết hợp ghép da nhằm tạo bề mặt trượt cho gân duỗi.
- Vùng sau gót chân mất đoạn gân Achille: Lee và cộng sự (2000), Kuo Y.R. và cộng sự (2003, trên 4 bệnh nhân dùng vạt phức hợp ĐTN cuộn cân đùi tái tạo gân), Youn và cộng sự (2015, trên 7 bệnh nhân dùng cân mạc cơ rộng ngoài/cơ thẳng đùi gấp 2-3 lần), Liang Yao và cộng sự (2022, dùng vạt ĐTN lấy kèm cân đùi khâu Krakow cải tiến kết hợp nối TK cảm giác), Trần Thiết Sơn và cộng sự (2022) lần đầu sử dụng vạt ĐTN dạng chùm da - cân (vạt da làm mỏng vi phẫu, vạt cân gấp 2-3 lần khâu nối hai đầu gân Achille, chung cuống mạch nuôi nhưng tách rời để tăng độ trượt).
- Tổn khuyết có khoang chết: Hsu và cộng sự (2020) sử dụng thiết kế vạt ĐTN dạng chùm da - da - cơ rộng ngoài để lấp đầy khoang chết.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là xác lập một hệ thống chỉ định hoàn chỉnh, kết nối giữa các biến thể hình thái của vạt ĐTN (vạt da cân, vạt làm mỏng thì đầu, vạt cân mỡ ghép da, vạt phức hợp da cơ, vạt chùm da - cơ, vạt chùm da - da, vạt chùm da - cân) với 7 tiểu đơn vị giải phẫu và tính chất phức tạp của tổn thương vùng cổ bàn chân.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khung phân loại
Luận án dựa trên các phân loại giải phẫu và bệnh học:
- Phân vùng giải phẫu cổ bàn chân:
- Phân loại 4 vùng của Banzet P.: Vùng cổ chân (vùng 1); Vùng gân Achille và mặt sau xương gót (vùng 2); Vùng gan gót chân (vùng 3); Vùng bàn chân trước (vùng 4).
- Phân loại 7 tiểu đơn vị của Hallock G.: Vùng 1 (ngón chân), Vùng 2 (gan chân trước), Vùng 3 (giữa gan chân), Vùng 4 (gót chân), Vùng 5 (mu chân), Vùng 6 (cổ chân gồm mắt cá trong và ngoài), Vùng 7 (sau gót chân gồm gân Achille).
- Phân loại mức độ tổn thương:
- Tiêu chuẩn Hidalgo và Shaw: Độ I (< 3 cm² đơn thuần); Độ II (> 3 cm² kèm/không kèm mỏm cụt ngoại vi, không lộ gân xương); Độ III (tổn khuyết rộng kèm gãy hở mắt cá, xương gót hoặc đầu xa xương cẳng chân).
- Phân loại tổn thương mô mềm và xương của Santanelli và cộng sự:
| Ký hiệu |
Loại tổn thương |
Đặc điểm chi tiết |
| ST-0 |
Mô mềm (Soft tissue) |
Không có tổn thương phần mềm |
| ST-I |
Mô mềm |
Tổn thương phần mềm diện tích < 3 cm² |
| ST-II |
Mô mềm |
Tổn thương phần mềm diện tích > 3 cm² |
| BT-0 |
Xương (Bone tissue) |
Không có tổn thương xương |
| BT-P |
Xương |
Tổn thương xương đốt ngón chân (Phalanx 1 - 5) |
| BT-M |
Xương |
Tổn thương xương đốt bàn chân (Metatarsal 1 - 5) |
| BT-T |
Xương |
Tổn thương khối tụ cốt cổ chân (Tarsal) |
| BT-C |
Xương |
Tổn thương xương gót (Calcaneal) |
- Phân loại giai đoạn tổn thương theo Godina: Tổn khuyết cấp tính (< 72 giờ), bán cấp (72 giờ - 90 ngày), mạn tính (> 90 ngày). Tình trạng ổ khuyết gồm vết thương sạch và vết thương bẩn (hoại tử, cấy vi khuẩn dương tính).
- Giải phẫu ứng dụng vạt ĐTN: Cuống mạch chính là nhánh xuống ĐM MĐN với chiều dài 8 - 15 cm (có thể tới 20 cm), đường kính ĐM 2 - 4 mm, đi kèm 2 tĩnh mạch (TM) đường kính 1,4 - 2,5 mm và TK bì đùi ngoài. Nhánh xuyên ra da đi qua cơ rộng ngoài hoặc vách gian cơ.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp tiến cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng.
- Quy trình nghiên cứu:
- Giai đoạn chuẩn bị nền nhận: Cắt lọc tổ chức hoại tử, lấy bỏ xương chết; điều trị hút áp lực âm (HALA/VAC); dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ (với Staphylococcus aureus phối hợp Vancomycin 15 mg/kg/12 giờ + Linezolid 600 mg/12 giờ; với Pseudomonas aeruginosa phối hợp Cefepime 2 g/12 giờ + Linezolid 600 mg/12 giờ; thời gian 10 - 14 ngày cho mô mềm và tối thiểu 6 tuần cho viêm tủy xương); chăm sóc thay băng kích thích mô hạt.
- Quy trình phẫu thuật: Thiết kế vạt đùi trước ngoài theo kích thước tổn khuyết (chiều dài dao động 4 - 35 cm, chiều rộng 4 - 25 cm); bộc lộ bó mạch chày trước hoặc chày sau làm mạch nhận; phẫu tích cuống mạch và các nhánh xuyên; áp dụng kỹ thuật làm mỏng vi phẫu hoặc phẫu tích dạng vạt chùm (chimeric flap) tùy theo yêu cầu vị trí; nối vi phẫu ĐM tận - tận hoặc tận - bên, nối 1 hoặc 2 TM tùy hành; đóng nơi cho vạt trực tiếp hoặc bằng vạt mạch xuyên tại chỗ.
- Đánh giá kết quả: Đánh giá kết quả sớm (sức sống vạt, biến chứng tắc mạch, tụ máu, hoại tử một phần); đánh giá kết quả xa sau 6 tháng về thẩm mỹ, độ dày vạt, khả năng mang giày dép cùng số, sự phục hồi chức năng vận động/cảm giác và tình trạng sẹo nơi cho vạt.
- Xử lý số liệu và y đức: Số liệu được thu thập theo bệnh án mẫu thống nhất, phân tích bằng phần mềm thống kê y học. Nghiên cứu tuân thủ các quy chuẩn đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng kết giải phẫu vùng cổ bàn chân bao gồm khung xương (xương sên, xương gót, xương thuyền, xương hộp, 3 xương chêm, 5 xương đốt bàn và các đốt ngón; các khớp Chopart, Lisfranc), hệ thống cơ gân duỗi/gấp và mạng lưới mạch máu nuôi dưỡng (ĐM chày trước tiếp nối thành ĐM mu chân cho nhánh mu đốt bàn I và nhánh gan chân sâu; ĐM chày sau chia thành ĐM gan chân trong và gan chân ngoài; hệ TM nông gồm TM hiển lớn và TM hiển bé). Chương 1 phân tích cơ chế và bệnh học các tổn khuyết do chấn thương, sau cắt bỏ sẹo co kéo, sau cắt u sarcoma xơ nhầy, loét đái tháo đường mạn tính; điểm lại các kỹ thuật xử lý vết thương (cắt lọc, HALA, kháng sinh trị liệu) và so sánh các phương pháp tạo hình che phủ (ghép da, vạt tại chỗ, vạt cuống liền như vạt gan chân trong, vạt sural, vạt chéo chân và các vạt tự do LD, bẹn, cánh tay ngoài, ĐTN). Tác giả tổng quan chi tiết giải phẫu ứng dụng cuống mạch ĐTN, hệ thống nhánh xuyên và các dạng biến thể lâm sàng của vạt ĐTN trên thế giới cũng như tại Việt Nam.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân (có tổn khuyết phần mềm phức tạp vùng cổ bàn chân lộ gân, xương, khớp, khuyết gân Achille hoặc có khoang chết, được chỉ định tạo hình bằng vạt ĐTN) và tiêu chuẩn loại trừ (bệnh lý toàn thân không cho phép phẫu thuật kéo dài, tổn thương mạch máu nuôi dưỡng chính của chân nhận không thể phục hồi). Chương này mô tả thiết kế nghiên cứu tiến cứu, quy trình phẫu tích vạt ngược dòng, kỹ thuật bộc lộ nhánh xuyên, kỹ thuật làm mỏng sơ cấp quanh cuống mạch, kỹ thuật tạo hình vạt chùm da - cân hoặc da - cơ, quy trình khâu nối vi phẫu và chăm sóc hậu phẫu, xử trí biến chứng tắc mạch sớm trong 36 giờ đầu, cùng các tiêu chí đánh giá lâm sàng chức năng và thẩm mỹ tại thời điểm 6 tháng sau mổ.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 trình bày các số liệu lâm sàng thu thập được:
- Đặc điểm tổn thương: Thống kê phân bố tuổi, giới, nguyên nhân tổn thương (chiếm tỷ lệ cao do tai nạn giao thông), vị trí tổn khuyết theo 7 tiểu đơn vị của Hallock và phân loại chịu trọng lực. Diện tích tổn khuyết được phân nhóm (< 4 cm², 4 - 20 cm², 20 - 50 cm², 50 - 200 cm² và > 200 cm²).
- Ứng dụng các dạng vạt ĐTN: Kết quả sử dụng đa dạng các hình thái vạt ĐTN gồm vạt da cân, vạt da cơ, vạt cân mỡ kết hợp ghép da, vạt làm mỏng sơ cấp, vạt chùm da - da, vạt chùm da - cơ và vạt chùm da - cân tái tạo đồng thời gân Achille; ghi nhận số lượng nhánh xuyên cấp máu (1 đến nhiều nhánh), bó mạch nhận (ĐM chày trước, ĐM chày sau), kỹ thuật nối ĐM và số lượng mối nối TM.
- Kết quả điều trị sớm và xa: Tỷ lệ vạt sống hoàn toàn, tỷ lệ biến chứng sớm (như tắc tĩnh mạch vạt được phát hiện ở giờ thứ 36 và được phẫu thuật cấp cứu lấy huyết khối, khâu nối lại thành công; chậm liền vết mổ; hoại tử một phần vạt hoặc phần da ghép bổ sung). Kết quả sau 6 tháng ghi nhận mức độ thẩm mỹ, tỷ lệ bệnh nhân đi giày dép cùng cỡ hai bên, mức độ hồi phục vận động cổ bàn chân, khả năng làm mỏng thứ cấp (hút mỡ kết hợp phẫu tích) và tình trạng sẹo tại nơi cho vạt.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 phân tích các đặc điểm lâm sàng của khuyết hổng phần mềm cổ bàn chân, so sánh hiệu quả của vạt ĐTN với các vạt tự do khác (vạt cơ lưng rộng thường cồng kềnh khó kiểm soát độ dày, vạt bẹn có cuống mạch ngắn và không hằng định, vạt cánh tay ngoài có diện tích hạn chế). Tác giả bàn luận sâu về tính ưu việt của phân vùng 7 tiểu đơn vị Hallock trong việc định hướng dạng vạt ĐTN:
- Vùng tì đè chịu lực (gan chân trước, gót chân): cần lớp đệm dày, chống mài mòn, ưu tiên dùng vạt da cân dày hoặc vạt chùm da - cơ lấp đầy khoang chết sau cắt u xương gót.
- Vùng mu chân, cổ chân: cần độ mỏng để tái tạo đường viền giải phẫu và trượt gân, ưu tiên vạt làm mỏng vi phẫu hoặc vạt cân mỡ kết hợp ghép da.
- Vùng sau gót mất đoạn gân Achille: bàn luận về các kỹ thuật tái tạo bằng vạt phức hợp có cân đùi cuộn so với vạt chùm da - cân (tách rời da và cân), chứng minh vạt chùm giúp tăng biên độ trượt của gân và cho kết quả thẩm mỹ tốt hơn ở vùng mắt cá.
- Bàn luận về kỹ thuật vi phẫu, kỹ thuật làm mỏng sơ cấp/thứ cấp, xử trí tắc mạch vi phẫu cấp cứu và các yếu tố đảm bảo an toàn nơi cho vạt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa mối liên quan giữa 7 tiểu đơn vị giải phẫu vùng cổ bàn chân theo Hallock G. với các dạng biến thể lâm sàng của vạt đùi trước ngoài, xác lập cơ sở khoa học cho việc phân loại và lựa chọn chất liệu che phủ vi phẫu.
- Đề xuất sơ đồ và bảng chỉ định sử dụng các dạng vạt ĐTN (vạt da cân, vạt làm mỏng sơ cấp, vạt cân mỡ ghép da, vạt chùm da - cơ, vạt chùm da - da, vạt chùm da - cân) phù hợp cho từng tổn khuyết cụ thể dựa trên tính chất chịu lực, khoang chết và tổn thương gân xương phối hợp.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Ứng dụng thành công kỹ thuật sử dụng vạt ĐTN dạng chùm da - cân để tái tạo đồng thời khuyết da và mất đoạn gân Achille trong cùng một thì mổ: phần cân được gấp 2 - 3 lần thay thế đoạn gân đứt giúp gân trượt độc lập dưới vạt da đã làm mỏng, hạn chế hiện tượng dính gân và co kéo sẹo.
- Hoàn thiện quy trình ứng dụng kỹ thuật làm mỏng vạt vi phẫu tích thì đầu và kỹ thuật làm mỏng thứ cấp (phối hợp hút mỡ và phẫu tích trực tiếp), tạo điều kiện cho bệnh nhân phục hồi đường viền cổ bàn chân và mang vừa giày dép bình thường cùng kích cỡ.
- Xây dựng quy trình xử trí tổn thương kết hợp: cắt lọc triệt để, kiểm soát nhiễm khuẩn bằng kháng sinh phối hợp và liệu pháp HALA, đóng kín nơi cho vạt bằng vạt nhánh xuyên tại chỗ giúp giảm thiểu di chứng nơi lấy vạt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Kỹ thuật bóc tách vạt ĐTN và làm mỏng vi phẫu tích đòi hỏi phẫu thuật viên có kỹ năng vi phẫu chuyên sâu và trang thiết bị kính hiển vi hiện đại; thời gian phẫu thuật kéo dài; một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân có giải phẫu nhánh xuyên biến đổi đòi hỏi phải chuyển đổi phương án thiết kế vạt trong mổ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi dài hạn mức độ phục hồi cảm giác bảo vệ sâu của bàn chân (đặc biệt khi có nối thần kinh bì đùi ngoài); mở rộng nghiên cứu đánh giá áp lực tì đè bàn chân khi vận động bằng các thiết bị đo động lực học; hoàn thiện kỹ thuật làm mỏng siêu vi phẫu thì đầu nhằm giảm tối đa tỷ lệ phải phẫu thuật chỉnh sửa làm mỏng thứ cấp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Phẫu thuật viên Tạo hình - Tái tạo và Chấn thương chỉnh hình: Tham khảo quy trình phẫu tích vạt ĐTN, kỹ thuật thiết kế vạt chùm (chimeric flap) và kỹ thuật tạo hình tái tạo gân Achille bằng cân mạc trong một thì phẫu thuật.
- Học viên sau đại học (Bác sĩ nội trú, Cao học, Nghiên cứu sinh ngành Ngoại khoa): Nắm vững phương pháp tiếp cận có hệ thống trong đánh giá tổn khuyết phức tạp chi dưới theo tiểu đơn vị giải phẫu, các phác đồ vi phẫu nối mạch máu và kỹ thuật xử trí biến chứng tắc mạch hậu phẫu.
- Các cơ sở y tế chuyên khoa ngoại và vi phẫu: Ứng dụng bảng đề xuất chỉ định vạt ĐTN để nâng cao tỷ lệ bảo tồn chi thể, hạn chế chỉ định cắt cụt chi ở các tổn thương dập nát phức tạp vùng cổ bàn chân.
Câu hỏi thường gặp
1. Vạt đùi trước ngoài (ĐTN) được cấp máu bởi hệ mạch nào và có đặc điểm giải phẫu gì thuận lợi cho vi phẫu?
Vạt ĐTN được nuôi dưỡng bởi các nhánh xuyên cơ da hoặc xuyên vách gian cơ xuất phát từ nhánh xuống của động mạch mũ đùi ngoài (MĐN). Cuống mạch có chiều dài từ 8 - 15 cm (có thể đạt 20 cm), đường kính động mạch từ 2 - 4 mm, đi kèm 2 tĩnh mạch tùy hành (đường kính 1,4 - 2,5 mm) và nhánh thần kinh bì đùi ngoài. Kích thước mạch lớn và cuống mạch dài tạo điều kiện thuận lợi cho việc khâu nối vi phẫu với các mạch nhận tại vùng cổ bàn chân (như ĐM chày trước, ĐM chày sau).
2. Sự khác biệt giữa phân vùng Banzet P. và phân vùng Hallock G. trong đánh giá tổn khuyết cổ bàn chân là gì?
Phân loại Banzet chia cổ bàn chân thành 4 vùng: cổ chân (vùng 1), gân Achille và sau gót (vùng 2), gan gót chân (vùng 3), bàn chân trước (vùng 4). Phân loại Hallock G. chi tiết hóa thành 7 tiểu đơn vị: ngón chân (1), gan chân trước (2), giữa gan chân (3), gót chân (4), mu chân (5), cổ chân (6), sau gót chân gồm gân Achille (7). Phân loại của Hallock tách riêng mu chân và ngón chân, chia gan chân thành 3 vùng chịu lực và không chịu lực, giúp xác định chính xác chất liệu vạt cần sử dụng (vạt mỏng, vạt dày đệm lực hay vạt chùm).
3. Phương pháp tạo hình khuyết da kèm mất đoạn gân Achille bằng vạt ĐTN dạng chùm da - cân được thực hiện như thế nào?
Kỹ thuật của GS. Trần Thiết Sơn và cộng sự sử dụng vạt ĐTN dạng chùm da - cân chung một cuống mạch nuôi nhưng tách rời hai thành phần: thành phần cân được gấp lại 2 - 3 lần để tái tạo đoạn gân Achille bị mất và khâu nối vào hai đầu gân đứt; thành phần da được làm mỏng vi phẫu tích để che phủ bề mặt bên ngoài. Thiết kế tách rời giúp gân tái tạo trượt độc lập dưới da mà không bị dính, đồng thời phục hồi đường viền thẩm mỹ vùng mắt cá chân.
4. Kỹ thuật làm mỏng vạt ĐTN được thực hiện theo những hình thức nào để tái tạo mu chân và cổ chân?
Luận án mô tả hai hình thức:
- Làm mỏng sơ cấp (thì đầu): Tỉa bớt lớp mỡ dưới da trong lúc mổ, giữ lại độ dày khoảng 1 cm xung quanh nhánh xuyên trong bán kính 2,5 - 3 cm, vùng rìa có thể tỉa mỏng đến 3 - 4 mm; hoặc áp dụng kỹ thuật làm mỏng vi phẫu tích dưới kính hiển vi bóc tách lớp mỡ sát hạ bì.
- Làm mỏng thứ cấp (thì hai): Thực hiện sau khi vạt đã sống ổn định, phối hợp giữa kỹ thuật hút mỡ vạt và phẫu tích cắt bỏ mô mỡ trực tiếp để vạt đạt độ mỏng tương thích với bề mặt mu chân.
5. Quy trình chuẩn bị nền nhận trước khi phẫu thuật chuyển vạt ĐTN bao gồm những biện pháp nào?
Nền nhận được xử lý qua các bước: cắt lọc triệt để tổ chức hoại tử và lấy bỏ xương viêm chết; áp dụng hút áp lực âm (HALA) để làm sạch dịch tiết và kích thích mô hạt phát triển; sử dụng kháng sinh theo kháng sinh đồ (với phác đồ phối hợp Vancomycin + Linezolid cho tụ cầu vàng hoặc Cefepime + Linezolid cho trực khuẩn mủ xanh từ 10 ngày đến 6 tuần tùy mức độ tổn thương mô mềm hay xương); đảm bảo nền nhận sạch, hết giả mạc trước khi chuyển vạt.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Thị Dung đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở giải phẫu và lâm sàng của 162 trường hợp khuyết phần mềm phức tạp vùng cổ bàn chân, đề xuất thành công sơ đồ chỉ định các dạng vạt đùi trước ngoài theo 7 tiểu đơn vị giải phẫu của Hallock. Nghiên cứu khẳng định tính an toàn và hiệu quả của các biến thể vạt ĐTN (vạt da cân, vạt làm mỏng vi phẫu, vạt chùm da - cơ và vạt chùm da - cân) trong việc che phủ tổn khuyết rộng, lấp đầy khoang chết và tái tạo đồng thì mất đoạn gân Achille. Kết quả sau 6 tháng theo dõi ghi nhận tỷ lệ sống của vạt cao, phục hồi tốt chức năng đi lại, khả năng mang giày dép cùng kích cỡ và đạt yêu cầu thẩm mỹ, đóng góp nguồn tư liệu lâm sàng có giá trị cho chuyên ngành phẫu thuật tạo hình vi phẫu tại Việt Nam.