CHƯƠNG I: LICH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN DE STRESS VA STRESS NGHỀ NGHIỆP 1.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ STRESS Ở NƯỚC NGOÀI 1.1 Những nghiên cứu đầu tiên về stress ở Phương Đông Sự sống của loài người bắt đầu trên trái đất cũng là lúc stress xuất hiện. Tổ tiên ta đã luôn phải ở trong tinh trạng căng thẳng, lo hãi trước sức mạnh của thin linh, trước sự kỳ bi của thiên nhién. Stress đã trở thành một hiện tượng được quan tâm ngay từ thời cổ đại, dù rằng không phải đưới tên gọi stress. Chúng ta có thể xem đó là những nghiên cứu dau tiên về stress bởi nó gan với khái niệm stress được hình thành ở thé kỷ XX, Người Hy Lạp cổ đã cho ring “tinh than và thể xác phải thống nhất với nhau ".
Cả hai phụ thuộc chat chẽ vào nhau, không thể tách rời sức khỏe thể chất với sức khỏe tâm trí. Aristot cũng đã khẳng định “cơ thể và tâm hẳn hợp thành một thể thống nhất”. Khi sự thống nhất bị phá v là lúc con người bi một số nhân tố tic động vào, ma ngày nay ta gọi là các nhân tổ gây stress. Cuốn y lý Trung Hoa đời Xuân thu chiến quốc “Nội kinh tố vấn” đã nêu bệnh tật có 3 căn nguyên duy nhất là: - Do các tác nhân bên trong: rối loan 7 loại cảm xúc (vui sướng, giận di, u buồn, tư lu, sầu thảm, sợ hãi và khiếp đảm).
- Các tác nhãn bên ngoài với 6 đặc trưng biểu tượng cho khí hậu, thời tiết, mỗi trường (gió, rét, nắng, ẩm, kho hanh, nóng). - Các tác nhân không thuộc bén trong cũng không thuộc bên ngoài như tai nan, ngã, chấn thương, rắn rết cin, ăn uống nhằm chất độc. Sách cũng đã chỉ rõ những ảnh hưởng của xúc cảm quá mức lên các tạng phủ của con người như uất giận hại gan, quá khoái hại tim, lo nghĩ hao tì vị, buén rau thương phổi, sợ hãi làm thận hư. Hệ thống triết học này đưa ra nguyên lý trong âm có dương, trong dương có âm, âm dương tác động qua lại lẫn nhau giữa vạn vật trong thế giới tự nhiên; nguyên lý về mối quan hệ tương sinh tương khắc của 3 thành phan căn bản: kim, mộc, thủy, hỏa, thé.
Theo triết ly của đạo Lão, cuộc sống của con người phụ thuộc vào sự cân bằng của âm dương và 5 yếu tố cơ sở. Nếu 2 yếu tổ âm dương của cơ thể bi mất cân bằng thì sẽ gây ra bệnh tật. Khi con người bị tác động bởi các nhân tố mà các nhãn tố này cần trở những năng lượng tự nhiễn — gọi là “cực” hay “khí” — tỏa đi khắp cơ thể. Khi dòng năng lượng bi chặn lại, sự cân bằng của cơ thể bị đảo lận và có thể din đến ốm đau, suy giảm tinh than, thể chất.
{ 16} Ngoài ra triết học phương Đông cũng đã để ra những phương pháp nhằm giúp con người giữ được sự cân bằng của thể chất và tinh thẩn, mà cho đến ngày nay đó vẫn là những phương pháp làm giảm stress hiệu quả: châm cứu nhằm làm thông dong năng lượng bên trong cơ thể (cực) có tác dung giảm đau đớn, để cho cơ thể tự hỗi phục tổn thương: matxa làm tỉnh táo trí óc, thân thể, giảm căng thẳng và mệt mỗi; thiển giúp thư giãn đầu óc và loại bỏ những cảm xúc dang quấy rẫy v.2 Những nghiên cứu về stress ở phương Tây 1.1 Nghiên cửu về stress dưới géc độ sinh lý học Khách quan mà so sánh, kể cả về y lý lẫn cách điều trị, phương Đông đã bước trước phương Tây. Bởi lẽ y học Tây phương mới công nhận tâm lý là tác nhân gây bệnh từ thế ky XVIII, bắt đầu từ Cullen (1776) với tên “Loạn than kinh cơ năng", để chỉ một bệnh không có sốt, khám mọi tạng phủ déu bình thường, nhưng người bệnh rất đau khổ với các chứng đau dau dai ding, mất ngủ kéo dài, hỗi hộp phấp phỏng, budn lo man mắc, võ duyên cd, hay quên. dé cáu ban, dim dứt đau lưng.[7] Trong xã hội hiện đại với những biến đổi siêu tốc khiến con người bị kích thích quá đô, không kịp thích nghỉ. Đặc biệt trong thế kỹ XX là thời điểm stress được các nhà khoa học nhiễu chuyên ngành, trước hết là y học quan tâm nghiên cứu.
Mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX, nhờ công trình nghiên cứu của nhiều thay thuốc như Briquet, Charcot, Javet. người ta mới giải thích được sự xung đột cảm xúc, tự kỷ ám thị trên những con người thin kinh yếu, dễ tin và tưởng tượng hoang đường, làm ức chế một khu vực nào đó của não gây ra nhiều bệnh khác nhau. Nhưng chỉ cin dùng liệu pháp tâm lý, gây ám thị ngược lại, có thể làm người bệnh khỏi mà không cẩn dùng thuốc. Người có công phát triển khái niệm stress hiện đại là nhà sinh học TIEƯỜI Canada Han Hugo Brunno Selye, tiến sĩ y khoa, tiến sĩ khoa học, cha dé của những học thuyết hiện đại về căng thẳng than kinh.
Han Selye bắt đầu nghiên cửu từ năm 1925. Năm 1936 ông gọi phản ứng-chung, không đặc hiệu của cơ thể bằng thuật ngữ stress. Lúc đầu, thuật ngữ này có tên là “hội chứng”, sau đó được hiểu là “hội chứng thích nghi chung” (General Adaptation Syndrome: GAS), là phan ứng nhằm giúp cho cơ thể thích nghi với môi trường luôn thay đổi. Đây là quá trình diễn ra 3 giai đoạn kế tiếp nhau: báo động, cim cự, kiệt qué.
Biểu hiện của giai đoạn này là sự tăng cường rỗi suy kiệt của hệ thống thắn kinh — nội tiết: đưới đổi - tuyến yên — vd thượng thận. Phản ứng này kéo dài hơn do tic động của hormon vỏ thượng thận (Corticoid). Như vậy học thuyết của Han Selye đã vạch rõ rằng cơ thé chúng ta có kha năng duy trì một thể chất khỏe mạnh, can bằng với những căng thẳng than kinh và thể chất thông thường. Nhưng nếu sự căng thẳng tiếp tục tăng lên sẽ đẫn đến tình 10 trang mệt mỏi của cơ thể khiến hệ thống miễn dịch bi tổn thương tạo ra những cú sốc và những chứng bệnh.
Han Selye tiếp tục những công trình nghiên cứu của ông về stress với hàng tram trang luận cứ khoa học và 39 cuốn sách, Công trình nghiên cứu của Han Selye còn được tiếp tục thông qua trường đại học Selye - Toffler, một viện nghiên cứu tư nhin được sáng lập với nhà chiêm tinh học Alvin Toffler, để cing xem xét vấn dé được gọi là “ba vấn để thách thức nhất của xã hội: căng thẳng than kinh và thể xác, sự thay đổi và tương lai” trong một môi trường học tập tuần cầu. Ngoài ra một số tác giả khác cũng có những công trình nghiên cứu về stress dưới góc độ sinh lý học như: Tiến sĩ Bob Montgomery, tiến si Lynette Evans trong “Những phương cách hữu hiệu phòng chống stress” cho rằng Cholesterol là một loại hocmon thải ra dưới tác động của stress sẽ dẫn đến nguy cơ cao hơn về bệnh tim mạch.Kitaepxmux (Liên Xô cũ) phát hiện được sự tương quan giữa mức độ căng thẳng tinh thần với việc thải Corticoit. Khi chúng ta bị căng thẳng, hormon Corticoid được cơ thể sản xuất ra.Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng nhóm người có mức Corticoid cao có tổn thương trí nhớ và chức năng trí tuệ, tổn thương này sẽ giảm đi khi lượng hormon Corticoid giảm. {25} Judith Lazaraus tắc giả cuốn sách “Cách giảm stress tốt nhất”, nhận thấy rằng stress xdy ra tức là trạng thái cân bằng bình thường của cơ thể chúng ta bị phá vỡ.
Adrenaline (còn gọi là Epinephrine) là một hocmon gây căng thẳng than kinh dẫn tới nhịp tim đập dén, áp suất máu tăng, nhịp thd tăng, mắt giãn ra, các cơ căng ra, tất cả những phan ứng của cơ thể để chống lại hay rút lui. { 16] Như vậy khi có thể bị đặt trong trạng thái stress, cơ thể sẽ tiết ra một số hocmon như Cholesterol, Corticoid, Adrenaline. Ban thân các hocmon này ngay từ dau không phải là “độc được”, ngược lại nó giúp cơ thể tập trung nhận thức cao độ để tin tại. Chỉ khi những kích thích cứ tiếp điễn thì cơ thể phải tiếp tục cố gắng thích nghỉ với căng thẳng và áp lực gia tăng.
Cuối cùng là sự sụp để: tình trạng kiệt sức, đủ loại các chứng đau ốm và thậm chi là cái chết — là hậu quả stress quá mức không được ngăn chặn. Tại trường đại học quốc gia Ohio (OSU) giáo sư Janice Kiecolt Glaser và tiến sĩ y hoc Ronald Glaser đã thực hiện những nghiên cứu có tính đột phá về ảnh hưởng của stress đối với sự miễn địch, Họ đã chỉ ra rằng stress làm giảm hiệu quả các loại vacxin, làm suy giảm hệ thống miễn dịch ở những bệnh nhân ung thư, làm vết thương về răng lợi lâu khỏi hơn và nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng khác. Tiến sĩ y học của trường đại học Carnegic Mellon là Sheldon Cohen đã tiến hành trên virus cảm lạnh vào hàng trăm người khde mạnh và nhận thấy rằng những người được lưu ý là bị stress thì để nhiễm virus và mắc bệnh. (16) Qua một số nghiên cứu trên đã khẳng định stress có mặt trong nhiều bệnh và sự bất ổn về thể chất, bởi hocmon do stress sinh ra làm suy yếu hệ miễn dich của cơ thể.
Ngay cả khi mắc stress về tâm lý thì dấu hiệu dau tiên cũng phát ra ở cơ thể.N Rôgiddêxtdvenxcaia (1980) cùng cộng sự qua thực nghiệm đã nhân xét khả nang làm việc giảm sút khi có stress do miệt mỗi nảy sinh ở những người có hệ thần kinh yếu sớm hon những người có hệ thần kinh mạnh. Nhưng tắc giả cũng lại nói thêm rằng “khả năng làm việc khi có stress không phụ thuộc một cách tuyệt đối vào độ mạnh của hệ thần kinh”. Nếu những tác nhân gây stress là đơn điệu, kéo dài thì người có hệ thần kinh mạnh có thể bị stress mạnh hơn, người có hệ thần kinh yếu có xác suất nhỏ hơn. Như vậy sự khác biệt của stress ở từng cá nhân không chỉ phụ thuộc vào độ mạnh yếu của quá trình thin kinh mà còn phụ thuộc vào tình huống gây stress, cùng nhiễu yếu tố khác như nhận thức, bản lĩnh của chủ thể.2 Nghiên cửu về stress — stress nghề nghiệp dưới góc độ tâm lý học.
Nếu như trước đây, những tài liệu khoa học đã công bố về stress phẩn lớn thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học thì những năm gắn đây cằầng có nhiều tác giả nghiên cứu về stress ở góc độ tâm lý học, bao gồm các vấn để như những nguyên nhãn gay stress, ảnh hưởng về mặt tâm lý và các phương pháp giảm thiểu stress. Bên cạnh những ảnh hưởng thể chất Han Selye còn nhận thấy stress ảnh hưởng rất lớn đến mặt tâm lý.