CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Y VĂN 1. Stress nghề nghiệp Theo Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) định nghĩa NVYT là tất cả những người tham gia vào các hoạt động chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân, NVYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế như bác sĩ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sĩ, kỹ thuật viên y học, những người quản lý và nhân viên khác không thuộc lĩnh vực y học (kế toán, cấp dưỡng, lái xe, hộ lý, kỹ sư khác.) đang làm việc trong cơ sở y tế [132]. Theo Bộ Y tế Việt Nam thì “NVYT là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tư, kể cả biên chế và hợp đồng lao động)” [1]. Năm 1967, Holmes và Rahe lần đầu đề cập đến khái niệm thế nào là stress và đề xuất một thang đo về stress [65].
Theo đó stress là một trạng thái kích thích, một phản ứng hay một tiến trình nối kết cả hai [50], [71], [72]. Năm 1989, Pearlin đã xác định khi tình trạng công việc quá tải cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress [102]. Đến năm 2003 trên tập san Work Organisation & Stress của WHO đã đưa ra một định nghĩa về stress nghề nghiệp một cách tổng quan nhất, stress nghề nghiệp được định nghĩa là phản ứng mà mọi người có thể gặp phải khi đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc không phù hợp với kiến thức và khả năng của họ, những thách thức và khả năng ứng phó của họ [75]. Tình trạng stress trở nên nguy hiểm khi nó cản trở khả năng của bạn sống một cuộc sống bình thường trong một thời gian dài.
Cá nhân có thể cảm thấy mệt mỏi, không thể tập trung hoặc khó chịu. Stress cũng có thể gây tổn hại sức khỏe thể chất của cá nhân [33]. Trong cuộc sống công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay, con người phải đối mặt với nhiều nỗi lo toan, áp lực từ công việc, gia đình và xã hội. Ngày nay, tỷ lệ gặp phải các vấn đề sức khỏe tâm lý ngày càng cao như stress, lo âu, trầm cảm.
Nhắc đến stress người ta thường nghĩ đến các vấn đề về sự căng thẳng, mệt mỏi, lo âu. Stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu, áp lực hay một yếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần. Các vấn đề gây căng thẳng trong cuộc sống như áp lực từ công việc, gia đình, bạn bè hay xã hội, những thay đổi hay biến cố trong cuộc đời, lo lắng về chi tiêu hay một điều lo lắng nào đó, không kiểm soát được các tình huống xảy ra trong cuộc sống hay cảm thấy thiếu trách nhiệm với gia đình, hoặc không có việc làm … là những yếu tố đều có thể tác động đến sự lo lắng, stress của con người [92]. Dấu hiệu đầu tiên và dễ nhận biết nhất của stress là mệt mỏi, tiếp đó người gặp phải vấn đề stress cảm thấy suy kiệt về tinh thần và thể lực, họ mất khả năng tự đánh giá mình và thường xuyên cáu giận, theo Viện sức khỏe tâm thần phân chia dấu hiệu của stress thành bốn thành tố [68]: Bảng 1.
Các dấu hiệu nhận biết stress Các biểu hiện về nhận thức Các biểu hiện về xúc cảm Gặp khó khăn trong các quá trình trí nhớ Ủ rũ, buồn rầu, dễ xúc động Không thể tập trung Cáu kỉnh, dễ nổi nóng Khả năng đánh giá, nhận định kém Bức bối, không xoa dịu được căng thẳng Tư duy chậm hoặc không muốn tư duy Dễ bị lây lan tình cảm theo hướng tiêu cực Có nhiều suy nghĩ âu lo Cảm thấy cô độc, bị cô lập và dễ bị tổn thương Ý nghĩ quanh quẩn Hân hoan cao độ rồi đột ngột buồn bã tột cùng Hồi tưởng lại những điều buồn phiền gần Cảm thấy vô vọng đây nhất Cảm thấy mất lòng tin, hay nghi ngờ Tự đổ lỗi cho bản than Chỉ nhìn thấy mặt tiêu cực của mọi vấn đề, Mất phương hướng đánh giá cao khó khăn, đánh giá thấp bản thân Không có khả năng đưa ra quyết định Bồn chồn, lo lắng và sợ hãi Các biểu hiện sinh lý Các biểu hiện hành vi Đau đầu, đau dạ dày, đau nửa đầu Ăn quá nhiều hoặc quá ít Đau ngực, tim đập nhanh Ngủ quá nhiều hoặc quá ít Bị tiêu chảy hay bị táo bón Không muốn năng động như bình thường Buồn nôn và chóng mặt Nói năng không rõ ràng, khó hiểu Nói liên tục về một sự việc, hay phóng đại Giảm hứng thú tình dục sự việc Ăn không ngon miệng Hay tranh luận Thu mình lại, rút lui, không muốn tiếp xúc Vả mồ hôi, ớn lạnh, run rẩy với người khác. Stress tuy là một phản ứng hoàn toàn bình thường của cơ thể, nhưng khi stress kéo dài và không được giải tỏa, stress có thể gây áp lực đến những vấn đề về thể chất và tinh thần như tăng cân hoặc sút cân, mất ngủ, cơ thể mệt mỏi, khó tập trung vào công việc từ đó dẫn đến nhiều khó khăn trong công việc. Nếu không tìm cách vượt qua stress, người gặp phải vấn đề dễ rơi vào vòng luẩn quẩn của nó và có thể dẫn đến nhiều bệnh lý tâm thần mà điển hình là trầm cảm, nguy hại hơn nữa là ý định tự tử. Ảnh hưởng của stress đến đời sống Ngoài những mặt tích cực của stress như thúc đẩy sự phấn đấu, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra và xử lý vấn đề nhanh chóng thì mặt tiêu cực của stress là khó tránh khỏi, như stress gây suy giảm trí nhớ, thường xuyên gây mất ngủ, dễ nổi nóng, giảm năng suất lao động nếu bị stress lâu dài, lo âu và trầm cảm, suy nghĩ chán nản cuộc sống và muốn giải thoát bằng ý định tự tử, gây hại cho bản thân và người khác.
Dù bị stress trong khoảng thời gian ngắn hay lâu dài cũng gây ra nhiều ảnh hưởng nhất định, cụ thể như: - Về mặt sức khỏe cá nhân: Nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng stress, lo âu và trầm cảm kéo dài gây ra những ảnh hưởng toàn bộ cơ thể, tim mạch, hệ tuần hoàn, thần kinh, hô hấp và tiêu hóa… [7], [59]. Stress nhẹ có thể đóng góp tích cực vào việc giúp con người thích nghi với sự thay đổi hoàn cảnh, nhưng nếu stress nặng và kéo dài dễ gây ra nhiều rối loạn khá phức tạp như gây thiếu máu, thoái hóa mao mạch dẫn đến xuất huyết, những bệnh lý tim mạch (cơn đau thắt ngực, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim), bệnh da liễu (rụng tóc, chàm bội nhiễm), bệnh nội tiết (suy tuyến thượng thận)… [7]. - Về mặt xã hội: Có thể làm giảm năng suất lao động của người lao động, làm tăng gánh nặng về chi phí để chăm sóc sức khỏe. Một báo cáo tại Anh quốc cho thấy có khoảng 12,8 triệu ngày công lao động trong 1 năm bị mất do người lao động phải nghỉ bệnh do sức khỏe bị ảnh hưởng bởi tình trạng stress, lo âu và trầm cảm [107].
Kết quả điều tra đặc thù về sức khỏe nghề nghiệp và lao động của NVYT tại Việt Nam cho thấy tình trạng stress trong công việc ảnh hưởng đến sức khỏe của NVYT. Biểu hiện chủ yếu của tình trạng stress sau khi làm việc mỗi ngày của NVYT là mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ và thường xuyên gặp ác mộng, hoa mắt chóng mặt, dễ. bị kích động, dễ nổi nóng, đau đầu, đau dạ dày, đau mỏi xương khớp, cảm thấy bận rộn và không hứng thú với công việc khi đi làm… [5]. Các yếu tố liên quan đến stress nghề nghiệp 1.
Các yếu tố về công việc, gia đình và cá nhân Theo Amit Gupta và Rajesh Chandwani, có ba yếu tố được cho là có thể gây ra tình trạng stress trong công việc [34]: Yếu tố về tổ chức Stress công việc Yếu tố Yếu tố cá nhân con người gia đình – công việc Hình 1. Mô hình các yếu tố gây ra căng thẳng trong công việc - Yếu tố về tổ chức: Stress có thể xuất phát từ yếu tố bên trong của công việc, ví dụ như điều kiện làm việc thiếu thốn trang thiết bị, sự quá tải của công việc hoặc sự áp lực về thời gian làm việc. Người lao động không biết rõ vai trò của mình trong tổ chức, cảm thấy mơ hồ và khó xác định được đâu là trách nhiệm và đâu là công việc do không có đủ những thông tin cần thiết liên quan đến mục tiêu, không nắm rõ quyền hạn của bản thân trong quá trình làm việc, dẫn đến phát sinh nhiều xung đột với cấp trên, cấp dưới và cả với đồng nghiệp của mình, từ đó làm cho người lao động gặp phải tình trạng stress do công việc. Tình trạng không phù hợp với công việc cũng tác động đến nguy cơ bị stress, tình trạng thiếu an toàn tại nơi làm việc và những rào cản trong quá trình phấn đấu để phát triển nghề nghiệp của mình.
Theo tác giả Rayner và Hoel (1997) đưa ra giả thuyết cho rằng những mối quan hệ tại nơi làm việc giữa người lao động với sếp và đồng nghiệp vẫn luôn tồn tại tình trạng “ma cũ bắt nạt ma mới” tại nơi làm việc, đây cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng stress. Ở cấp độ tổ chức, cơ cấu và môi trường, mức độ sự tham gia vào việc đưa ra những quyết định. và tham gia vào những “quyết định trong nội bộ văn phòng làm việc” có thể dẫn đến một bầu không khí gây nên stress [34], [105]. - Yếu tố về gia đình tác động đến công việc: Sự tác động giữa các thành viên trong gia đình do cả hai bên đều có khả năng tạo ra thu nhập, sự tham gia của phụ nữ vào thị trường lao động trong nhiều lĩnh vực ngành nghề cũng đã làm thay đổi cách mà các đôi vợ chồng quản lý công việc và trách nhiệm với gia đình.
Sự trộn lẫn giữa công việc và gia đình có thể dẫn đến nhiều tác động tiêu cực (tức là những xung đột giữa công việc và gia đình) và những tác động tích cực (tức là cùng nhau phát triển công việc và xây dựng gia đình hạnh phúc). Những xung đột giữa công việc và gia đình có thể xảy ra theo hai hướng: “Công việc với gia đình” hay “Gia đình với công việc”, bạn phải lựa chọn ưu tiên giữa “Gia đình” hay “Công việc”.