Luận án về sơ chế và bảo quản rong nho Caulerpa lentillifera sau thu hoạch

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu sơ chế và bảo quản rong nho caulerpa lentillifera j agardh 1837 sau thu hoạch, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại học Nha Trang

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
203
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ RONG NHO

1.1.1. Tình hình nghiên cứu rong nho ngoài nước

1.1.1.1. Giới thiệu về rong nho
1.1.1.2. Hình thức sinh sản
1.1.1.3. Nuôi trồng ở Nhật Bản (Okinawa)
1.1.1.4. Nuôi trồng tại Philippin
1.1.1.5. Thu hoạch rong nho
1.1.1.6. Lưu giữ rong nho sau thu hoạch
1.1.1.7. Giá trị dinh dưỡng của rong nho
1.1.1.8. Công nghệ sơ chế và bảo quản rong nho

Tóm tắt

I. Giới thiệu về rong nho Caulerpa lentillifera

Rong nho (Caulerpa lentillifera) là một loài rong biển có giá trị kinh tế cao, thuộc chi rong Cầu lục. Loài này phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Rong nho được biết đến từ thế kỷ 16 và hiện nay được nuôi trồng ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, và Việt Nam. Tại Việt Nam, rong nho được phát hiện ở các vùng ven biển và được nuôi trồng đầu tiên tại Khánh Hòa. Rong nho chứa nhiều vitamin và khoáng chất cần thiết cho cơ thể, bao gồm vitamin A, B, C, và các khoáng vi lượng như sắt, iod, và calcium. Đặc biệt, rong nho còn chứa caulerpin, một chất có hoạt tính sinh học giúp giảm cholesterol và kháng ung thư. Nhu cầu tiêu thụ rong nho ngày càng tăng, đặc biệt là ở thị trường Nhật Bản, nơi giá rong nho tươi có thể lên đến 10 USD/kg. Tuy nhiên, rong nho tươi có hàm lượng nước cao và dễ bị hư hỏng, do đó việc nghiên cứu các phương pháp bảo quản là rất cần thiết.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận án là xây dựng quy trình sơ chế và bảo quản rong nho tươi trên 10 ngày. Nội dung nghiên cứu bao gồm: (1) Nghiên cứu sơ chế rong nho trước khi bảo quản; (2) Nghiên cứu bảo quản rong nho bằng phương pháp điều chỉnh khí (MAP); (3) Đánh giá sự biến đổi chất lượng của rong nho theo thời gian bảo quản; (4) Đề xuất quy trình sơ chế và bảo quản rong nho theo phương pháp MAP. Những mục tiêu này không chỉ giúp kéo dài thời gian bảo quản rong nho mà còn cung cấp dữ liệu khoa học về giá trị dinh dưỡng và sinh học của loài rong này.

III. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại để đánh giá chất lượng rong nho trong quá trình bảo quản. Phương pháp điều chỉnh khí (MAP) được áp dụng để kéo dài thời gian bảo quản rong nho tươi. Nghiên cứu cũng bao gồm việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng rong nho như nhiệt độ, độ ẩm, và thành phần khí trong môi trường bảo quản. Các mẫu rong nho sẽ được thu thập và phân tích định kỳ để đánh giá sự biến đổi về chất lượng trong suốt thời gian bảo quản. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho việc phát triển quy trình bảo quản hiệu quả hơn.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận án không chỉ cung cấp dữ liệu khoa học mới về giá trị dinh dưỡng và sinh học của rong nho mà còn xây dựng quy trình sơ chế và bảo quản hiệu quả. Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong nước và xuất khẩu rong nho, nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm này. Việc phát triển quy trình bảo quản cũng góp phần tạo ra đầu ra ổn định cho nghề trồng rong nho, từ đó giúp xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương. Đánh giá đầy đủ về giá trị của rong nho sẽ là cơ sở để phát triển các sản phẩm từ rong nho, mở rộng thị trường tiêu thụ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Rong nho (Caulerpa lentillifera J. Agardh, 1837) là một loài rong có giá trị kinh tế, thuộc chi rong Cầu lục (Caulerpa), rất phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [57], [109], [110], [115]. Trên thế giới, rong nho được biết đến từ những năm 70 của thế kỷ 16 và ngày nay rong nho được nuôi trồng ở một số nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Philippin và Việt Nam. Những năm đầu của thế kỷ 20, các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện một số loài của chi rong cầu Lục ở các vùng triều ven biển, ven các đảo như đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Phú Quốc ( Kiên Giang).

Tuy nhiên giống rong nho phát hiện ở Việt Nam có kích thước nhỏ nên không được phát triển nuôi trồng. Rong nho (Caulerpa lentillifera J. Agardh, 1837) được PGS. Nguyễn Hữu Đại di nhập từ Nhật Bản về nuôi trồng đầu tiên tại Khánh Hòa.

Hiện nay rong nho được phát triển nuôi trồng tại các địa phương Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Phú Yên [6], [8], [9]. Rong nho là loài có giá trị về sinh học và dinh dưỡng. Rong nho chứa nhiều vitamin nhóm A, nhóm B, nhóm C, polyphenol, chlorophyll, các khoáng vi lượng (như sắt, iod, calcium.) cần thiết cho cơ thể con người. Rong nho chứa hàm lượng protein và lipit thấp nhưng lại chứa các axit amin và axit béo thiết yếu cần thiết mà cơ thể con người không tự tổng hợp được.

Đặc biệt, rong nho còn chứa caulerpin - một chất có hoạt tính sinh học giúp giảm cholesterol toàn phần trong huyết thanh, điều hòa huyết áp, kháng ung thư, chống đông máu, kháng virus, chống oxy hóa, … [6], [61], [63], [88], [93], [95], [108, [100]. Ngày nay nhu cầu tiêu thụ rong nho tại Việt Nam và trên thế giới ngày càng tăng. Giá rong nho tại thị trường Nhật Bản khoảng 10USD/kg rong nho tươi, còn ở Việt Nam khi nhập vào Nhật khoảng 5USD/kg. Một số nước Đông Nam Á coi rong nho như một món rau cao cấp và được đánh giá như “trứng cá Hồi xanh” [111].

Rong nho tươi có hàm lượng nước cao lên đến 94% và có cấu trúc mô rong lỏng lẻo, sắc tố dễ bị hủy hoại bởi các tác nhân vật lý nên rong nho tươi nhanh chóng bị hư hỏng trong quá trình bảo quản ở điều kiện tự nhiên. Do vậy, khả năng phát triển thương mại sản phẩm rong nho tươi bị hạn chế. Vì thế việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp kéo dài thời gian lưu giữ rong nho tươi là cần thiết. Vì vậy, Luận án tiến hành “Nghiên cứu sơ chế và bảo quản rong nho (Caulerpa lentillifera J.

Agardh 1837) sau thu hoạch”. 1 Mục tiêu Luận án Xây dựng được quy trình sơ chế và bảo quản rong nho tươi trên 10 ngày. Nội dung nghiên cứu của Luận án 1) Nghiên cứu sơ chế rong nho tiền bảo quản. 2) Nghiên cứu bảo quản rong nho bằng phương pháp điều chỉnh khí (MAP).

3) Nghiên cứu đánh giá sự biến đổi về chất lượng của rong nho theo thời gian bảo quản. 4) Đề xuất quy trình sơ chế, bảo quản rong nho theo phương pháp điều chỉnh khí MAP. Ý nghĩa khoa học Luận án cung cấp thêm các dữ liệu khoa học về giá trị dinh dưỡng, sinh học của rong nho. Mặt khác Luận án cũng xây dựng được quy trình sơ chế, bảo quản rong nho theo phương pháp điều chỉnh khí MAP và đánh giá được sự biến đổi về chất lượng của rong nho theo thời gian bảo quản,.

Kết quả nghiên cứu của Luận án là dữ liệu khoa học mới về rong nho, phục vụ trong công tác giảng dạy, nghiên cứu tại Trường Đại học Nha Trang cũng như một số các Trường và Viện nghiên cứu khác. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả của Luận án góp phần hỗ trợ thêm cơ sở khoa học cho doanh nghiệp kinh doanh rong nho trong nước và xuất khẩu. - Nâng cao giá trị kinh tế cho rong nho, tạo đầu ra ổn định cho nghề trồng rong nho, góp phần xóa đói giảm nghèo. - Đánh giá một cách đầy đủ về giá trị của rong nho, làm cơ sở để phát triển các sản phẩm từ rong nho.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ RONG NHO 1. Tình hình nghiên cứu rong nho ngoài nước  Giới thiệu về rong nho Rong nho biển (Caulerpa lentillifera J. Agardh, 1837) lần đầu tiên được J.

Agardh, 1837 mô tả, là một loài rong thuộc chi Cầu lục Caulerpa, một chi rong phổ biến và đa dạng loài, sống ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm. Chi rong này được Lamouroux mô tả năm 1809 với các đặc điểm có màu xanh đậm, gồm phần thân bò chia nhánh có hình trụ tròn, đường kính 1-2mm, trên thân bò mọc ra nhiều thân đứng, trên thân đứng mọc ra nhiều nhánh nhỏ, tận cùng là các khối hình cầu, giống quả nho, đường kính 1,5-3 mm, mọc dày kín xung quanh các thân đứng. Đây là phần có giá trị sử dụng, trên thân bò có nhiều “rễ giả” phân nhánh thành chùm như lông tơ, bám sâu vào đáy bùn. Đặc điểm rong nho có dạng mọc bò gồm phần thân bò mọc dài, phân nhánh vào vật bám nhờ hệ thống rễ.

Từ phần thân bò sẽ mọc ra các thân đứng. Phần này rất đa dạng và nhờ đó phân biệt các loài với nhau. Chúng có thể có dạng phiến, có răng cưa hay không, hình lông chim hoặc có dạng những quả cầu nhỏ. Các nhánh đứng này có thể phân nhánh.

Hiện nay có hơn 30 loài và dưới loài của chi rong này được tìm thấy ở Philippin, 20 loài và dưới loài được tìm thấy ở Nhật Bản, 14 loài và dưới loài được tìm thấy ở Việt Nam, 11 loài và dưới loài được tìm thấy ở Thái Lan và 9 loài và dưới loài được tìm thấy ở Hawaii [3], [14], [16]. Về mặt phân loại, rong nho thuộc chi rong cầu lục Caulerpa thuộc họ Caulerpaceae, bộ Caulerpales, lớp Chlorophyceae, ngành rong lục Chlorophyta, là chi rong biển rất phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thành phần loài của chúng rất đa dạng nhưng trong đó rong nho là loài có giá trị nhất. Theo Yoshida, hệ thống phân loại rong nho như sau: Ngành Chlorophyta; Lớp Chlorophyceae; Bộ Caulerpales; Họ Caulerpaceae; Chi Caulerpa; Loài Caulerpa lentillifera [112], [113]. Agardh 1837, Caulerpa lentillifera là một loài thực vật thân bò có thể phát triển chiều cao lên đến 10cm.

Phân nhánh bò lan, cắt ngang phần thân bò đo được đường kính là 1-1,5mm, rong nho có một thân bò, các thân đứng mọc từ thân bò, thân đứng được bao phủ bởi các tiểu cầu xung quanh, đường kính tiểu cầu đo được từ 1- 3mm, rong nho thường được tìm thấy trên bãi cát lẫn bùn, nơi có dòng nước chảy nhẹ. Hình ảnh rong nho (Caulerpa lentillifera J. Agardh, 1837)  Hình thức sinh sản: Theo nghiên cứu của Trono và Granzon – Fortes (1988), rong nho sinh sản bằng cả hai hình thức là sinh sản hữu tính và sinh sản sinh dưỡng, nhưng chủ yếu là sinh sản sinh dưỡng [42], [71], [113].  Sinh sản sinh dưỡng: Tất cả các bộ phận dinh dưỡng của rong nho đều có thể phát triển thành cây rong mới.

Trong hình thức sinh sản sinh dưỡng của rong nho, phần thân bò sẽ mọc dài ra, phân nhánh và mọc ra các nhánh đứng. Các nhánh nhỏ hình cầu này cũng có thể tái sinh lại toàn bộ thành một cây rong mới. Cách sinh sản sinh dưỡng của rong nho thao tác dễ dàng, ít tốn kém và nhất là có hiệu quả cao nên đã được áp dụng rất rộng rãi. Sau khi được trồng bằng hình thức sinh sản sinh dưỡng từ các đoạn rong nho đã bị cắt khúc, rong nho sẽ phát triển và có thể đạt tốc độ tăng trưởng chiều dài của các nhánh đứng khoảng 2cm/ngày trong điều kiện thuận lợi.

 Sinh sản hữu tính: Từ mùa xuân đến mùa hè hàng năm, ở thời điểm này thời tiết thường ấm áp, khi đó rong nho sinh sản theo hình thức hữu tính, các tế bào sinh dưỡng ở vùng vỏ của các nhánh nhỏ hình cầu tích lũy đầy chất dinh dưỡng, biến thành các tế bào sinh sản đực và cái hay còn gọi là giao tử đực và giao tử cái, có 2 roi có thể bơi lội được. Những giao tử này được phóng thích vào môi trường nước và sẽ kết hợp với nhau thành hợp tử, hợp tử sẽ bám trên sỏi, đá và nảy mầm phát triển thành cây con.  Nuôi trồng ở Nhật Bản (Okinawa) [83], [105]: Kỹ thuật nuôi trồng rong nho tại đây là sử dụng cách sinh sản sinh dưỡng với phương pháp trồng treo. Các đoạn rong dài chừng 10cm, nặng 10g, được treo trong các túi lưới hình trụ và các túi lưới này được treo trong nước biển.

Nếu vùng nuôi quá nông không thể treo được, có thể sử 4 dụng các mảnh lưới có kích cỡ mắt lưới dày như lưới muỗi, kích thước 1x 10 mét, căng sát nền đáy và trên đó cột các nhánh rong khoảng 10g, cách nhau 0,5-1 mét. Các túi treo và dàn lưới được yêu cầu phải làm vệ sinh thường xuyên. Khi độ mặn hạ thấp do mưa (dưới 25‰), phải hạ các túi rong xuống sâu hơn để bảo đảm độ mặn. Các thân đứng của rong trong các túi được khai thác.

Phần thân bò còn lại sẽ tiếp tục phát triển và lại được khai thác sau này. Dòng chảy rất cần thiết cho việc phát triển của rong. Điều này đã được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và cũng được xác minh ngoài tự nhiên. Các nhánh hình cầu cũng sẽ mọc dày hơn trong môi trường có dòng chảy mạnh và sẽ thưa hơn trong môi trường nước yên tĩnh hay dòng chảy yếu.

Sản phẩm có chất lượng cao khi dòng chảy đạt tốc độ 20-30cm/giây. Sau 2 tháng nuôi theo các phương pháp trên, tốc độ tăng trưởng ở các lô thí nghiệm có thể đạt từ thấp nhất là 1,54%/ngày cho đến cao nhất là 3,16%/ngày. Độ tăng trưởng của rong nho nuôi theo các hình thức khác nhau tại Nhật Bản Hình thức và nơi thí Trọng lượng giống Thời gian thí Tốc độ tăng nghiệm ban đầu (Wo: g/m2) nghiệm (ngày) trưởng (%/ngày) Nuôi treo bằng túi lưới - 100 62 3,12 Vịnh Yokohama Nuôi trong bể xi măng – 100 92 2,76 Okinawa  Nuôi trồng tại Philippin [55]: Ở Philippin, việc nuôi trồng loài rong nho được tiến hành từ những năm đầu của thập niên 50 ở đảo Mactan, tỉnh Cebu. Lúc đầu rong nho được trồng trong các ao đìa nuôi tôm hoặc cá như một nguồn thu thứ cấp.

Nhưng sau đó, lợi nhuận thu được từ nuôi trồng rong nho cao hơn so với nuôi cá, tôm nên người dân địa phương đã chuyển đổi từ nuôi tôm, cá sang trồng rong nho. Đến năm 1988, tại đảo Mactan, tỉnh Cebu có khoảng 400ha ao đìa nuôi trồng rong nho.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Sơ chế và bảo quản rong nho Caulerpa lentillifera sau thu hoạch" của PGS. Nguyễn Hữu Đại tại Trường Đại học Nha Trang tập trung vào việc nghiên cứu các phương pháp sơ chế và bảo quản rong nho, một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và có giá trị kinh tế cao. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình thu hoạch, chế biến và bảo quản rong nho, từ đó giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và kéo dài thời gian sử dụng. Những thông tin này không chỉ hữu ích cho các nhà sản xuất mà còn cho người tiêu dùng, giúp họ hiểu rõ hơn về giá trị dinh dưỡng và cách bảo quản thực phẩm.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm liên quan, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ, nơi phân tích các mô hình nuôi trồng thủy sản khác nhau, hay Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng và phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam, cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển bền vững trong ngành thủy sản. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị Thủy Sản Tỉnh Nghệ An, giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị kinh tế của sản phẩm thủy sản trong khu vực. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về ngành thủy sản và các vấn đề liên quan.