ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là một tài nguyên có khả năng tự tái tạo nếu nhƣ con ngƣời biết khai thác, lợi dụng đúng mức. Tuy nhiên, do áp lực dân số và nhu cầu lâm sản tăng để phát triển kinh tế - xã hội, con ngƣời đã khai thác rừng ồ ạt, vƣợt quá khả năng tái sinh của rừng nên cân bằng trong hệ sinh thái bị phá vỡ, làm ảnh hƣởng nghiêm trọng đến môi trƣờng sống. Đứng trƣớc tình hình trên vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát triển kinh tế - xã hội nhƣng không làm suy thoái môi trƣờng sống? hay nói cách khác làm thế nào để có các mô hình sản xuất hợp lý, đạt hiệu quả kinh tế nhƣng đảm bảo đƣợc sự bền vững sinh thái và ổn định xã hội trong kinh doanh rừng. Điều đó có nghĩa là mô hình sản xuất lâm nghiệp phải đem lại thu nhập về lâm sản cao và ổn định, giải quyết việc làm cho nhân dân địa phƣơng, đầu tƣ hợp lý và đƣợc ngƣời dân chấp nhận.
Đồng thời, mô hình cũng có khả năng bảo vệ nguồn nƣớc, duy trì độ phì của đất, bảo vệ đa dạng sinh học. Văn Bàn là huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam tỉnh Lào Cai, cách thành phố Lào Cai 75 km theo tỉnh lộ 151 về phía Đông Nam. Huyện Văn Bàn có tổng diện tích tự nhiên 142.608,3 ha; trong đó diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp là 114.702,6 ha, chiếm 80,4% tổng diện tích tự nhiên. Vì vậy tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng, đa dạng sinh học và phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung.
Trong những năm qua Huyện ủy, UBND huyện và ngành nông, lâm nghiệp huyện đã không ngừng đầu tƣ xây dựng và phát triển rừng, mà kết quả là xác định loài cây trồng nói chung, cây trồng rừng nói riêng song mới chỉ đáp ứng đƣợc mục đích phủ xanh đất trồng đồi núi trọc và cải thiện một phần cuộc sống của ngƣời tham gia nghề rừng. Những kết quả đạt đƣợc chƣa tƣơng xứng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 với tiềm năng và thế mạnh đất đai tài nguyên rừng. Diện tích đất lâm nghiệp phân bố ở nơi có địa hình tƣơng đối bằng ph ng, độ dốc thấp, không bị chia cắt phức tạp, đại bộ phận đồng bào là dân tộc Kinh, Tày, Mông, Dao tất cả những lợi thế, tiềm năng trên vẫn chƣa đƣợc phát huy làm cho đời sống ngƣời dân c n nhiều khó khăn. Từ năm 1992 đến nay, diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện không ngừng tăng lên do sự đầu tƣ của các dự án 327, 661,.
Cùng với sự tăng lên của diện tích rừng, nhiều mô hình rừng trồng đƣợc triển khai vào sản xuất, trong đó có nhiều mô hình thành công nhƣng cũng không ít mô hình đã bị thất bại. Từ thực tế trên, nghiên cứu sinh trƣởng của các mô hình rừng trồng, nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao lƣợng tăng trƣởng cũng nhƣ giá trị kinh tế của rừng là một nhu cầu cấp bách của sản xuất, nhằm nâng cao thu nhập của ngƣời trồng rừng. Từ yêu cầu của thực tế sản xuất, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng của một số mô hình rừng trồng tại huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Phát huy hiệu quả rừng trồng nói chung và rừng trồng sản xuất nói riêng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng sản xuất ở các nƣớc phát triển đã tƣơng đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác động, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp. (1982) [69] đã có những khảo nghiệm về Keo có xuất xứ từ Úc và Papua New Guinea, các giống Lõi thọ ở các địa phƣơng khác nhau thuộc Mindanao; trên cơ sở đó lựa chọn những xuất xứ tốt nhất để xây dựng vùng sản xuất giống. Để thực hiện thành công việc tạo ra những sản phẩm cây rừng một cách nhanh nhất và rẻ nhất, bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật trong tạo rừng cũng rất đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Theo tác giả Plocek,T. (1998) [72] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã đặc biệt lƣu ý đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loài. (2000) [71] đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu. Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính.
Qua đó có thể kh ng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trƣớc khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết. Những nghiên cứu về phƣơng thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khác cũng đã đƣợc thực hiện ở nhiều nƣớc trên thế giới, tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng rừng sản xuất trong thời gian qua. Đời sống trƣớc mắt của ngƣời dân tham gia phát triển rừng trồng sản xuất cũng là một vấn đề đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhất là tại những nƣớc nghèo. (1995) [68], để bảo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 vệ đất đồng thời phát triển kinh tế cho những hộ gia đình nghèo, ở Fuji ngƣời ta trồng một số loài tre luồng trên đồi mang lại hiệu quả cao; ở Indonesia, ngƣời ta áp dụng phƣơng thức nông lâm kết hợp với cây Tếch, Đây là một trong những hƣớng đi rất phù hợp đối với vùng đồi núi ở một số nƣớc khu vực Đông – Nam châu Á.
Ở Việt Nam Trong những năm qua, cùng với sự đổi mới của đất nƣớc, sự quan tâm của Nhà nƣớc, ngành lâm nghiệp ƣớc ta đã có những bƣớc chuyển biến đáng kể trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh những đổi mới căn bản về công tác tổ chức quản lý, hoạt động nghiên cứu khoa học về xây dựng và phát triển rừng cũng đã đƣợc quan tâm hơn. Hàng loạt các chƣơng trình, dự án về trồng rừng đã đƣợc hực hiện trong khắp cả nƣớc, nhiều mô hình rừng trồng sản xuất quy mô lớn đã đƣợc thiết lập, biện pháp kỹ thuật đã đƣợc đúc rút xây dựng thành quy trình, quy phạm, Liên quan đến đề tài này xin đề cập tới một số công trình nghiên cứu quan trọng sau đây. Các công trình nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh chủ yếu tập trung vào nghiên cứu một số ít các loài cây nhƣ Mỡ, Bồ đề, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, cùng với những tiến bộ về nghiên cứu giống cây rừng, chúng ta đã đi sâu nghiên cứu các loài cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu cho Quế, Keo tai tƣợng, Bạch đàn urophylla, Thông Caribê, Các công trình quan trọng có thể kể đến là: Hoàng Xuân Tý và các cộng sự (1996) [53] về nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng Bồ đề, Mỡ, Keo và sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và nâng cao sản lƣợng rừng.
Mai Đình Hồng (1997) xây dựng mô hình Mỡ thâm canh năng suất cao, Báo cáo khoa học, Trung tâm nghiên cứu cây nguyên liệu giấy Phù Ninh – Phú Thọ [19]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Phạm Thế Dũng (1998) [10] về nghiên cứu ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học để xây dựng mô hình trồng rừng năng suất cao làm nguyên liệu giấy, dăm. Đặc biệt Đỗ Đình Sâm và Phạm Văn Tuấn cùng các cộng sự (2001) [44] nghiên cứu xây dựng mô hình trồng rừng công nghiệp năng suất cao. Các tác giả đã tập trung nghiên cứu năng suất rừng trồng Bạch đàn urophylla, Bạch đàn camaldulensis và tereticornis, Keo mangium, Quế, tại vùng Đông Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Kết quả là đã giải quyết khá nhiều các vấn đề về cơ sở khoa học cho thâm canh rừng trồng nhƣ làm đất, bón phân, phƣơng thức, kỹ thuật trồng, qua đó nâng cao đƣợc năng suất rừng trồng. Phạm Văn Tuấn (2001) [54] đã xây dựng mô hình rừng trồng công nghiệp phục vụ nguyên liệu bằng một số dòng Keo, Mõ kết quả cho thấy Keo sinh trƣởng đạt năng suất từ 25-30 m3/ha/năm tại một số vùng (Bầu Bàng – Bình Dƣơng, Sông Mây – Đồng Nai), Mỡ sinh trƣởng đạt 18-20 m3/ha/năm ở nhiều vùng thí nghiệm (Vĩnh Phúc, Ba Vì, Quảng Trị, ) Nghiên cứu phƣơng thức trồng rừng hỗn giao cũng đƣợc nhiều tác giả quan tâm nhƣ Phùng Ngọc Lan (1991) [28] thí nghiệm gây trồng hệ sinh thái rừng hỗn loài Thông đuôi ngựa, Keo lá tràm và Bạch đàn trắng ở Núi Luốt – Xuân Mai. Nguyễn Hữu Vĩnh, Phạm Thị Huyền, Nguyễn Quang Việt (1994) đã nghiên cứu cơ sở khoa học của phƣơng thức trồng rừng hỗn loài Mỡ + Keo lá tràm [64]. Các cây bản địa trong thời gian qua cũng đã đƣợc chú ý nghiên cứu hơn nhƣ nghiên cứu của các tác giả Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất (1997- 1998) đã chọn lựa tập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng quy trình, hƣớng dẫn kỹ thuật trồng cho 20 loài cây (Lát hoa, Dầu rái, Muồng đen, Trám LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997) [35] trong cuốn “Nghịch lý cơ bản về cây bản địa” đã nêu rõ những thuận lợi khó khăn khi đƣa cây bản địa vào trồng rừng ở nƣớc ta; Phạm Đình Tam (2000) [49] nghiên cứu kỹ thuật gây trồng Trám trắng phục vụ cho nguyên liệu gỗ dán; Trần Quang Việt (2001) [62] nghiên cứu kỹ thuật trồng Hông, tuy chƣa đƣa ra mô hình trồng tập trung đạt kết quả nhƣng cũng đã có khuyến nghị phát triển loài cây này theo hƣớng nông - lâm kết hợp hoặc trồng phân tán; Nguyễn Xuân Quát và cộng sự (1985) [42] đã đƣa ra mô hình trồng hỗn giao Bồ đề + Dó giấy, Từ kết quả của những nghiên cứu trên, hàng loạt các quy trình, quy phạm và hƣớng dẫn kỹ thuật trồng đã đƣợc ban hành và áp dụng trồng rừng thành công ở nhiều nơi, góp phần đáng kể vào công tác phát triển rừng trồng sản xuất ở nƣớc ta trong thời gian qua. Tuy nhiên, khâu chuyển giao và dịch vụ kỹ thuật còn yếu, đặc biệt là vấn đề thị trƣờng. Trồng rừng cung cấp nguyên liệu công nghiệp (chủ yếu là nguyên liệu giấy) đƣợc ƣu tiên phát triển, tập trung ở hai khu vực trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, một số loài cây ƣa sáng mọc nhanh đã đƣợc gây trồng nhƣ Bồ đề, Mỡ, Keo,. Nhƣng tỷ lệ thành rừng thấp chỉ đạt 40% – 60% theo diện tích trồng, năng suất bình quân đạt từ 4 – 6 m3/ha/năm với sản lƣợng bình quân đạt 40 – 60m3/ha [40] trong một chu kỳ kinh doanh.