Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong các loài cá nước ngọt, các loài thuộc họ cá quả Channidae (bộ Anabantiformes) được quan tâm do kích thước lớn, chất lượng thịt và sức sống cao. Tại các quốc gia trong khu vực như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Philippines, Ấn Độ và Malaysia, nhiều loài cá quả đã được nghiên cứu sinh học, sản xuất giống và phát triển thành đối tượng nuôi quy mô công nghiệp (Muntaziana et al., 2013). Tại Việt Nam, giống Channa gồm 12 loài, trong đó cá lóc đen (C. striata) và cá lóc bông (C. micropeltes) đã được nuôi phổ biến (Nguyễn Huấn và Dương Nhựt Long, 2008); gần đây cá dày (C. lucius) và cá chành dục (C. gachua) cũng đã được nghiên cứu đặc điểm sinh học và sản xuất giống (Tiền Hải Lý, 2016; Hồ Mỹ Hạnh, 2017).

Cá chuối hoa (Channa maculata Lacepède, 1801) là đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao, thịt thơm ngon nhưng phân bố tự nhiên bị suy giảm, từng được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam (2007) ở bậc EN. Hiện nay loài này thuộc danh mục được phép sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ khảo sát phân loại hình thái, phân bố và thử nghiệm sơ bộ về sản xuất giống (Mai Đình Yên, 1978; Nguyễn Thái Tự, 1983; Nguyễn Văn Hảo, 2005; Nguyễn Đình Vinh và nnk., 2015; Tạ Thị Bình và nnk., 2015). Việc thiếu hụt các dẫn liệu cơ bản về sinh học dinh dưỡng, giải phẫu ống tiêu hóa, sinh học sinh sản và hệ thống thông số kỹ thuật chuẩn hóa trong sinh sản nhân tạo, ương nuôi con giống tạo nên khoảng trống khoa học cần giải quyết nhằm phục vụ đa dạng hóa đối tượng nuôi và bảo tồn nguồn gen.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu tổng quát: Cung cấp những luận cứ khoa học về một số đặc điểm sinh học và một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất giống cá chuối hoa (Channa maculata), góp phần xây dựng kỹ thuật sản xuất giống nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi, duy trì nguồn lợi và bảo vệ quỹ gen.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định được các đặc điểm dinh dưỡng, sinh sản của cá chuối hoa ngoài tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng kỹ thuật sản xuất giống và ương nuôi.
    • Xây dựng được một số thông số kỹ thuật trong sản xuất giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo (nuôi vỗ cá bố mẹ, kích thích sinh sản, ương cá bột lên cá hương và ương cá hương lên cá giống).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cá chuối hoa Channa maculata (Lacepède, 1801) ở các giai đoạn phát triển từ cá tự nhiên, cá bố mẹ nuôi vỗ, trứng, cá bột, cá hương đến cá giống.
  • Phạm vi không gian:
    • Địa bàn thu mẫu tự nhiên: Thu thập tại các thủy vực thuộc 5 huyện của tỉnh Thanh Hóa gồm Hà Trung, Vĩnh Lộc, Hậu Lộc, Nga Sơn và Hoằng Hóa.
    • Địa điểm phân tích sinh học và dinh dưỡng: Phòng thí nghiệm cơ sở Thủy sản, Viện Nông nghiệp và Tài nguyên, Trường Đại học Vinh; xử lý tiêu bản mô học tại Khoa Giải phẫu bệnh, Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An.
    • Địa điểm thực nghiệm sản xuất giống và ương nuôi: Trại Nuôi trồng thủy sản nước ngọt Hưng Nguyên, Trường Đại học Vinh.
  • Phạm vi thời gian: Toàn bộ nghiên cứu thực hiện từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2019. Trong đó, nội dung nghiên cứu sinh học ngoài tự nhiên thực hiện từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2018; nội dung xây dựng kỹ thuật sản xuất giống thực hiện từ tháng 03/2017 đến tháng 06/2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

  1. Phân loại học, phân bố và di nhập: Các nghiên cứu của Herre (1924), Kottelat (2001), Water & James (2004) ghi nhận cá chuối hoa phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Bắc Việt Nam và được di nhập vào Nhật Bản, Hawaii, Madagascar. Ralf Britz (2002) tiến hành giám định mẫu cá lóc tại bảo tàng Bernice Pauahi Bishop và Viện Hàn lâm Khoa học California, đính chính các mẫu thu thập tại Madagascar và Hawaii trước đây bị định danh nhầm là Channa striata thực chất là Channa maculata.
  2. Khai thác và nuôi thương phẩm: Đánh giá tiềm năng thực phẩm của giống Channa được ghi nhận tại Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Nam Á (Pantulu, 1976; Wee, 1982). Cá chuối hoa là đối tượng nuôi quan trọng thứ hai tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc và được tiêu thụ tại Đài Loan, Philippines, các tỉnh Nara, Hyogo, Hiroshima của Nhật Bản (Okada, 1960; Liang et al., 1962; Hay & Hodgkiss, 1981; Uyeno & Akai, 1984 trích theo Water & James, 2004).
  3. Đặc điểm sinh học và sinh lý: Yamamoto & Tagawa (2000) xác định cá chuối hoa là loài ăn thịt (giáp xác, côn trùng, thân mềm, cá, mùn bã) với tỷ lệ chiều dài ống tiêu hóa so với chiều dài thân ở giai đoạn nhỏ là 0,36 và giai đoạn trưởng thành là 0,62. Sức sinh sản dao động 6.437 trứng ở cá có kích thước 27,2 - 31,5 cm (Lee & Ng, 1991). Nghiên cứu sinh lý của Ju & Woof (1987) chỉ ra cơ chế chuyển hóa kỵ khí và huy động lipid, glycogen dự trữ khi cá chịu điều kiện thiếu oxy cấp tính và kéo dài. Zhao et al. (2016) xác định hàm lượng lipid thích hợp cho tăng trưởng cá lai Channa argus x Channa maculata là 173 g/kg thức ăn. Chen (2012) phân lập vi khuẩn Aeromonas schubertii gây hoại tử gan, thận, lách ở cá chuối hoa nuôi tại Quảng Đông và Đài Loan. Chen (1976) mô tả sơ bộ kỹ thuật sinh sản nhân tạo loài này tại Đài Loan.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  1. Phân loại và phân bố: Mai Đình Yên (1978) ghi nhận 4 loài cá quả ở miền Bắc; Nguyễn Văn Hảo (2005) tổng hợp giống Channa ở Việt Nam có 12 loài (C. striata, C. micropeltes, C. lucius, C. gachua, C. marulius, C. melasoma, C. maculata, C. orientalis, C. asiatica, C. hoaluensis, C. ninhbinhensis, C. longistomata). Cá chuối hoa phân bố từ các tỉnh phía Bắc đến Thanh Hóa (Mai Đình Yên, 1978; Nguyễn Thái Tự, 1983; Nguyễn Văn Hảo, 2005).
  2. Đặc điểm sinh thái và dinh dưỡng cá họ cá quả: Dương Nhựt Long (2003) phân tích tính ăn dữ của cá lóc đen và cá lóc bông; Nguyễn Anh Tuấn và nnk. (2004) xác định phổ thức ăn của cá lóc bông; Tiền Hải Lý (2016) nghiên cứu hình thái tiêu hóa và phổ thức ăn cá dày (động vật chiếm 93,7%); Hồ Mỹ Hạnh (2017) xác định tỷ số RLG của cá chành dục là 0,38 ± 0,08; Phạm Văn Khánh (2003) và Qin et al. nghiên cứu sự biến đổi tính ăn theo kích thước cá.
  3. Sinh học sinh sản và sử dụng kích dục tố: Thang 6 bậc thành thục tuyến sinh dục áp dụng theo Nikonxki (1963) và Xakun & Buskia (1968). Các nghiên cứu sinh sản trên cá lóc bông (Nguyễn Anh Tuấn, 2004; Bùi Minh Tâm và nnk., 2008), cá lóc đen (Phạm Văn Khánh, 2003; Bui Minh Tam, 2006; Hossain et al., 2008), cá dày (Tiền Hải Lý, 2016), cá chành dục (Hồ Mỹ Hạnh, 2017) đã thử nghiệm các loại kích dục tố HCG, LHRHa kết hợp Domperidon (DOM), não thùy thể cá chép.
  4. Ương nuôi cá con và dinh dưỡng cá bố mẹ: Nghiên cứu nuôi vỗ bố mẹ và thức ăn ương của Lại Văn Hùng (2004), Tucker (2000), Vũ Ngọc Út (2012), Sarowar et al. (2010), Muntaziana et al. (2013), Ngô Minh Dung (2010), Nguyễn Thị Ngọc Lan (2004), Qin & Fast (1996b, 1997).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công bố quốc tế và trong nước về cá chuối hoa còn rời rạc. Chưa có công trình nào nghiên cứu cấu tạo giải phẫu và mô học hệ tiêu hóa, phổ dinh dưỡng tự nhiên chi tiết, tuổi và kích thước thành thục lần đầu, biến thiên hệ số thành thục (GSI) theo mùa của cá chuối hoa. Trong kỹ thuật sản xuất giống, các thông số về thức ăn và khẩu phần nuôi vỗ cá bố mẹ, thời gian tiêm kích dục tố giữa cá đực và cá cái, liều lượng não thùy thể, thời điểm chuyển đổi thức ăn ương và mật độ ương nuôi cá hương lên cá giống chưa được chuẩn hóa.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, phân loại và thang đánh giá

  • Vị trí phân loại học: Dựa theo hệ thống phân loại của Eschmeyer (2018):
    • Giới: Animalia
    • Ngành: Chordata
    • Lớp: Actinopteri
    • Bộ: Anabantiformes
    • Phân bộ: Channoidei
    • Họ: Channidae
    • Giống: Channa
    • Loài: Cá chuối hoa Channa maculata (Lacepède, 1801).
  • Cơ sở phân loại hình thái: Phương pháp nghiên cứu cá của Pravdin (1961, bản dịch 1973), Mai Đình Yên (1978), Kottelat (2001), Nguyễn Văn Hảo (2005).
  • Tiêu chuẩn tính ăn: Theo Das & Moitra (1963), cá thuộc nhóm ăn dữ khi thành phần thức ăn nguồn gốc động vật chiếm trên 80%. Chỉ số tương quan chiều dài ruột và chiều dài thân (RLG = chiều dài ruột / chiều dài thân).
  • Thang đo thành thục sinh dục: Thang phân chia 6 giai đoạn phát triển buồng trứng và tinh sào theo Xakun & Buskia (1968).
  • Cơ chế tác động của kích dục tố: Dựa trên vai trò của GnRH-A (LHRHa) kích thích tuyến yên tiết gonadotropin (GtH I, GtH II), phối hợp chất kháng dopamine (Domperidon - DOM) nhằm bất hoạt chất ức chế phóng thích kích dục tố GRIF (Lin & Peter, 1996; Phạm Quốc Hùng, 2014); cơ chế sử dụng kích dục tố ngoại sinh chiết xuất từ não thùy cá chép và HCG (Swanson et al., 2003; Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009).

Nguồn tư liệu và mẫu vật nghiên cứu

  • Mẫu vật sinh học tự nhiên: Thu thập 820 mẫu cá chuối hoa tự nhiên từ ngư dân đánh bắt tại 5 huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2018.
Địa điểm thu mẫu Dải kích thước (cm) Số lượng mẫu (con) Nội dung nghiên cứu chuyên biệt Dải kích thước (cm) Số lượng mẫu (con)
Hà Trung 4,30 - 46,05 256 Phân tích đặc điểm hình thái 15,24 - 39,50 186
Vĩnh Lộc 4,50 - 44,50 176 Phân tích đặc điểm dinh dưỡng 4,50 - 34,50 344
Hậu Lộc 8,70 - 35,77 142 Tiêu bản mô học 30,70 - 38,67 30
Nga Sơn 10,60 - 42,15 127 Phân tích đặc điểm sinh sản 17,60 - 46,05 560
Hoằng Hóa 6,60 - 44,15 119 - - -
Tổng cộng 4,30 - 46,05 820 Tổng số lượt phân tích - 1.120
  • Đàn cá bố mẹ thực nghiệm: Tuyển chọn 96 cặp cá bố mẹ khỏe mạnh có khối lượng > 500 g từ nguồn tự nhiên Thanh Hóa, nuôi vỗ tại Trại Nuôi trồng thủy sản Hưng Nguyên.
  • Nguồn thức ăn thí nghiệm: Thành phần dinh dưỡng thức ăn được phân tích tại phòng thí nghiệm:
Thành phần dinh dưỡng Thức ăn viên CN (bố mẹ) Thức ăn viên CN (cá bột) Thức ăn viên CN (cá hương) Thức ăn chế biến (TACB) Thịt cá tạp Giun chỉ (Limnodrilus hoffmeisteri) Moina (Moina brachiata) Moi (tép biển)
Protein (%) 40,0 43,0 40,0 42,2 78,6 57,64 56,2 49,2
Lipid (%) 9,0 7,0 6,0 3,2 3,2 10,0 20,1 9,8
Chất tro (%) 13,0 13,0 16,0 5,4 5,8 9,17 10,7 12,1
Xơ (%) 5,0 5,0 6,0 - - - - -

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Nghiên cứu hình thái học và mô học: Giải phẫu cấu tạo hệ tiêu hóa (miệng, răng, lược mang, thực quản, dạ dày, ruột). Cố định mẫu mô bằng dung dịch Bouin, Formalin 10% và cồn 70°, thực hiện kỹ thuật cắt lớp nhuộm mô học tại cơ sở chuyên khoa giải phẫu bệnh.
  2. Phương pháp đánh giá chỉ tiêu sinh sản (Bromage, 1995):
    • Kiểm tra tỷ lệ thành thục qua que thăm trứng; xác định tỷ lệ cá đẻ sau tiêm.
    • Sức sinh sản tương đối = Tổng số trứng thu được / Khối lượng cá cái tiêm (trứng/kg).
    • Tỷ lệ trứng nổi, tỷ lệ thụ tinh (xác định ở giai đoạn phôi vị sau đẻ 5 giờ), tỷ lệ nở, tỷ lệ dị hình cá bột, tỷ lệ sống cá bột 3 ngày tuổi.
    • Mật độ ấp trứng: 9 - 12 trứng/cm², oxy hòa tan duy trì ≥ 6 mg/L, nhiệt độ 28 - 30°C.
  3. Bố trí thí nghiệm sản xuất giống và ương nuôi:
    • Nuôi vỗ cá bố mẹ: Thử nghiệm 3 dạng thức ăn (100% cá tạp; 50% cá tạp + 50% TAVCN; 100% TAVCN) và 4 mức khẩu phần (5%, 7%, 9%, 11% khối lượng thân/ngày).
    • Kích thích sinh sản: Thử nghiệm thời điểm tiêm cá đực (0, 8, 16, 24 giờ trước liều quyết định cá cái); khoảng cách liều quyết định và liều sơ bộ ở cá cái (6, 12, 18, 24 giờ); thử nghiệm liều lượng não thùy thể (đối chứng, 9, 10, 11, 12, 13 mg/kg); so sánh các loại kích dục tố (HCG 3.500 UI/kg; LHRHa 60 µg + 15 mg DOM/kg; Não thùy 12 mg/kg; Đối chứng nước muối 0,5 ml/kg).
    • Ương cá bột lên cá hương (4 - 30 ngày tuổi): Thử nghiệm 3 loại thức ăn (Moina + TAVCN, Moina + Giun chỉ, Moina + Moi) và 6 thời điểm bắt đầu chuyển đổi sang TACB (ngày thứ 7, 9, 11, 13, 15, 17 sau khi ương). Mật độ 2 - 3 con/L.
    • Ương cá hương lên cá giống: Thử nghiệm 4 mật độ ương (1,0; 1,5; 2,0; 2,5 con/L) và 5 mức khẩu phần ăn TAVCN 40% protein (3%, 6%, 9%, 12%, 15% khối lượng thân/ngày).
  4. Công thức tính toán sinh trưởng và tỷ lệ sống (Hoàng Tùng, 2006):
    • Tăng trưởng bình quân ngày: $\text{ADG} = \frac{W_t - W_0}{t}$ (g/ngày) hoặc $\frac{L_t - L_0}{t}$ (cm/ngày).
    • Tốc độ tăng trưởng đặc biệt: $\text{SGR} = 100 \times \frac{\ln(W_2) - \ln(W_1)}{t}$ (%/ngày).
    • Hệ số phân đàn: $\text{CV} = \left(\frac{\text{SD}}{\bar{\chi}}\right) \times 100$ (%).
    • Tỷ lệ sống: $\text{SR} = 100 \times \frac{\text{Số cá thu hoạch} + \text{Số cá chết do thu mẫu}}{\text{Số cá thả ban đầu}}$ (%).
    • Hệ số chuyển đổi thức ăn: $\text{FCR} = \frac{W_{\text{tasd}}}{W_G}$.
    • Kiểm tra sốc cơ học: Đánh giá tỷ lệ sống khi vớt cá vào thau nước sau 20 ngày và 28 ngày ương.
  5. Kỹ thuật xử lý số liệu: Tính toán giá trị trung bình và sai số trên Microsoft Excel 2010. Phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) và kiểm định Duncan trên phần mềm SPSS 16.0 với mức ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết các công trình nghiên cứu về cá chuối hoa và các loài thuộc họ Channidae trên phạm vi thế giới và tại Việt Nam. Nội dung tập trung phân tích vị trí phân loại học, vùng phân bố tự nhiên và đặc điểm sinh thái vùng nước ngọt, nước lợ thấp. Chương 1 làm rõ cơ chế dinh dưỡng biến đổi theo lứa tuổi, tập tính bắt mồi ăn thịt, cấu trúc ống tiêu hóa và quy luật thành thục sinh dục 6 giai đoạn. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về cơ chế tác động của các kích dục tố nội tiết (GnRH-A, HCG, não thùy thể), chất kháng dopamine, ảnh hưởng của loại thức ăn sống (Moina, giun chỉ, moi) và thức ăn công nghiệp đến tỷ lệ sống và sự phân đàn trong quá trình ương nuôi ấu trùng họ cá quả được hệ thống hóa chi tiết.

Chương 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết quy trình thu thập và xử lý 820 mẫu cá tự nhiên tại 5 huyện tỉnh Thanh Hóa, kỹ thuật thuần dưỡng và nuôi vỗ 96 cặp cá bố mẹ tại Trại Nuôi trồng thủy sản Hưng Nguyên. Tác giả trình bày phương pháp giải phẫu và nhuộm mô học hệ tiêu hóa, buồng trứng; các công thức tính toán chỉ tiêu sinh sản theo Bromage (1995); phương pháp đo lường môi trường (nhiệt độ, pH, DO); thiết kế bố trí các khối thí nghiệm nuôi vỗ, kích thích sinh sản bằng kích dục tố, chuyển đổi thức ăn và mật độ ương nuôi cá con; các công thức xác định chỉ số sinh trưởng ADG, SGR, CV, SR, FCR theo Hoàng Tùng (2006) và quy trình xử lý thống kê bằng SPSS 16.0 (ANOVA, Duncan test).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3 trình bày các số liệu thực nghiệm và kết quả phân tích về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống:

1. Đặc điểm giải phẫu và mô học hệ tiêu hóa

  • Miệng và răng: Miệng rộng hướng trước, hàm trên dài hơn hàm dưới, nhiều răng nhỏ nhọn mọc thành nhiều hàng trên hai hàm và xương lá mía tạo thành hình vòng cung liên tục; lưỡi nhọn dài, môi trên dày.
  • Lược mang: Xếp 2 hàng trên xương cung mang, có các núm gai cứng. Số lượng lược mang ở cung mang thứ nhất dao động 19 - 24, trung bình $22,33 \pm 1,01$.
  • Thực quản: Ngắn, vách dày, lòng trong có nhiều nếp gấp màu trắng. Vách cấu tạo 3 lớp: màng bao ngoài (mô liên kết), vách cơ vân (gồm cơ vòng dày ở ngoài chiếm ưu thế và cơ dọc ở trong xếp thành bó), lớp niêm mạc (dưới niêm mạc mỏng và niêm mạc trong cùng chứa biểu mô dày, mô mỡ và tế bào tiết dịch nhầy).
  • Dạ dày: Dạng hình chữ U ngắn, kích thước lớn, vách dày, mặt trong nhiều nếp gấp sâu. Cấu tạo gồm màng bao liên kết, vách cơ trơn (lớp cơ vòng dày gấp đôi lớp cơ dọc) và lớp niêm mạc có nhiều mao mạch xen kẽ nếp gấp.
  • Ruột và manh tràng: Ruột thẳng, ngắn, vách dày, nối tiếp dạ dày. Tỷ số chiều dài ruột/chiều dài thân (RLG) trung bình đạt 0,58 (dao động từ 0,38 đến 0,79). Thành phần thức ăn phân tích từ ống tiêu hóa gồm 93,54% nguồn gốc động vật và 6,46% thức ăn khác.

2. Đặc điểm sinh học sinh sản tự nhiên

  • Mùa vụ sinh sản tập trung từ tháng 4 đến tháng 6 dương lịch.
  • Chiều dài thành thục sinh dục lần đầu ở cả cá đực và cá cái dao động trong khoảng 20 - 25 cm.
  • Trứng thuộc dạng trứng nổi, có giọt dầu. Sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 3.283 trứng/cá thể; sức sinh sản tương đối dao động từ 9.799 đến 15.000 trứng/kg cá cái.

3. Kỹ thuật nuôi vỗ và kích thích sinh sản nhân tạo

  • Thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ: Nghiệm thức kết hợp 50% cá tạp + 50% TAVCN mang lại hiệu quả thành thục, sức sinh sản, tỷ lệ trứng nổi, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ sống của cá bột cao hơn nghiệm thức dùng 100% cá tạp hoặc 100% TAVCN. Khẩu phần ăn nuôi vỗ tối ưu là 9% khối lượng thân/ngày.
  • Phác đồ kích thích sinh sản:
    • Thời điểm tiêm cá đực tối ưu là trước liều quyết định của cá cái 24 giờ (liều tiêm bằng 1/2 cá cái).
    • Khoảng cách thời gian tiêm giữa liều sơ bộ và liều quyết định ở cá cái tối ưu là 18 giờ (liều sơ bộ bằng 1/3, liều quyết định bằng 2/3 tổng liều).
    • Thử nghiệm liều lượng não thùy thể cá chép ở mức 12 mg/kg cá cái cho tỷ lệ cá đẻ và chất lượng trứng tốt nhất trong các dải liều thăm dò (9 - 13 mg/kg).
    • Kích dục tố LHRHa kết hợp Domperidon (liều 60 µg LHRHa + 15 mg DOM/kg cá cái) và HCG (3.500 UI/kg) kích thích cá sinh sản đạt tỷ lệ đẻ, tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở cao.

4. Kỹ thuật ương nuôi cá con

  • Giai đoạn cá bột lên cá hương (4 - 30 ngày tuổi): Sử dụng kết hợp Moina - Giun chỉ hoặc Moina - Moi cho tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và khả năng chịu sốc cơ học cao hơn thức ăn viên.
  • Thời điểm chuyển đổi thức ăn: Bắt đầu tập cho cá ăn thức ăn chế biến (TACB) từ ngày ương thứ 15 (thay thế dần 20% mỗi ngày) giúp hạn chế tối đa hao hụt và phân đàn.
  • Giai đoạn cá hương lên cá giống: Ương ở mật độ 1,0 - 1,5 con/lít, sử dụng thức ăn viên công nghiệp (40% protein) với khẩu phần ăn 9% khối lượng thân/ngày đạt tốc độ tăng trưởng, hệ số phân đàn thấp (CV thấp) và tỷ lệ sống cao nhất.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học

  • Cung cấp hệ thống dữ liệu sinh học dinh dưỡng của cá chuối hoa ngoài tự nhiên: xác định cá chuối hoa là loài cá ăn động vật điển hình với chỉ số RLG trung bình là 0,58 (0,38 - 0,79); phổ thức ăn tự nhiên có 93,54% là động vật; mô tả cấu tạo vi thể và giải phẫu hệ tiêu hóa (số lượng lược mang cung thứ nhất 19 - 24; cấu trúc 3 lớp của thực quản và dạ dày với tầng cơ vòng phát triển).
  • Cung cấp dẫn liệu về sinh học sinh sản tự nhiên của loài: cá đẻ tập trung vào tháng 4 - 6 dương lịch; kích thước thành thục lần đầu từ 20 - 25 cm; xác định dạng trứng nổi và sức sinh sản tuyệt đối từ 3.283 trứng/con, sức sinh sản tương đối từ 9.799 đến 15.000 trứng/kg cá cái.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp kỹ thuật đề xuất

  • Xác định công thức thức ăn nuôi vỗ cá bố mẹ phù hợp: phối hợp 50% cá tạp với 50% thức ăn viên công nghiệp, khẩu phần cho ăn đạt 9% khối lượng thân/ngày giúp nâng cao chất lượng sản phẩm sinh dục.
  • Chuẩn hóa phác đồ sử dụng kích dục tố: xác định thời gian tiêm cá đực trước liều quyết định cá cái 24 giờ; khoảng cách giữa liều sơ bộ và liều quyết định ở cá cái là 18 giờ; xác định liều lượng não thùy thể 12 mg/kg cá cái hoặc LHRHa (60 µg/kg) + DOM (15 mg/kg) kích thích sinh sản đạt hiệu quả cao.
  • Xây dựng quy trình ương cá giống: xác định loại thức ăn tươi sống thích hợp (Moina kết hợp giun chỉ hoặc moi), xác lập mốc thời gian chuyển đổi thức ăn chế biến bắt đầu từ ngày thứ 15; xác định mật độ ương cá hương lên giống từ 1,0 - 1,5 con/L và khẩu phần thức ăn viên công nghiệp 9% khối lượng thân/ngày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Các dữ liệu sinh học tự nhiên mới chỉ được thu thập trên phạm vi địa bàn tỉnh Thanh Hóa; các thử nghiệm sản xuất giống và ương nuôi tập trung trong hệ thống bể composite, bể xi măng và giai lưới đặt trong ao tại khu vực Bắc Trung Bộ (Nghệ An), chưa thực hiện mở rộng trên các quy mô nuôi thương phẩm ở các loại hình thủy vực khác nhau.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục hoàn thiện và nhân rộng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa ở quy mô công nghiệp tại các vùng sinh thái khác nhau.
    • Nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng chi tiết (axit amin, khoáng chất, vitamin) để xây dựng công thức thức ăn công nghiệp chuyên biệt cho từng giai đoạn sinh trưởng của cá chuối hoa.
    • Nghiên cứu các mô hình nuôi thương phẩm thâm canh và bán thâm canh kết hợp các biện pháp phòng trừ dịch bệnh truyền nhiễm (đặc biệt là bệnh do vi khuẩn Aeromonas schubertii).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Thủy sản, Sinh học: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật về đặc điểm giải phẫu mô học hệ tiêu hóa, cơ chế nội tiết sinh sản và kỹ thuật thực nghiệm trên nhóm cá quả Channidae.
  • Đối với cán bộ kỹ thuật và các trung tâm giống thủy sản: Cung cấp các thông số kỹ thuật (liều lượng hormone, thời gian tiêm, chế độ chuyển đổi thức ăn, mật độ và khẩu phần ương) có thể ứng dụng trực tiếp để sản xuất giống cá chuối hoa nhân tạo.
  • Đối với cơ quan quản lý và bảo tồn nguồn lợi: Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch mùa vụ khai thác hợp lý ngoài tự nhiên (tránh khai thác vào mùa sinh sản tháng 4 - 6), hỗ trợ các chương trình bảo tồn quỹ gen loài thủy sản quý hiếm thuộc Sách Đỏ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cấu tạo giải phẫu và mô học hệ tiêu hóa của cá chuối hoa phản ánh tính ăn như thế nào?

Cấu tạo giải phẫu cho thấy cá có miệng rộng hướng trước, nhiều hàng răng nhỏ nhọn trên hàm và xương lá mía; số lượng lược mang ở cung thứ nhất ngắn và ít ($22,33 \pm 1,01$); thực quản và dạ dày có vách cơ vòng rất dày, lòng trong có nhiều nếp gấp sâu cho phép co giãn nuốt con mồi lớn; ruột thẳng và ngắn với chỉ số RLG trung bình 0,58 (0,38 - 0,79). Kết hợp với phân tích thức ăn tự nhiên (động vật chiếm 93,54%), các đặc điểm này khẳng định cá chuối hoa là loài ăn động vật (ăn thịt dữ) theo tiêu chuẩn của Das & Moitra (1963).

2. Phác đồ tiêm kích dục tố tối ưu cho cá chuối hoa sinh sản nhân tạo được xác định như thế nào?

Cá đực được tiêm trước liều quyết định của cá cái 24 giờ với liều lượng bằng 1/2 liều cá cái. Cá cái được tiêm 2 lần (liều sơ bộ 1/3 và liều quyết định 2/3 tổng liều), khoảng cách giữa 2 liều là 18 giờ. Về loại kích dục tố, có thể sử dụng não thùy thể cá chép với liều lượng 12 mg/kg cá cái hoặc phối hợp 60 µg LHRHa + 15 mg DOM/kg cá cái, hoặc HCG với liều 3.500 UI/kg cá cái.

3. Chế độ dinh dưỡng và khẩu phần nuôi vỗ cá bố mẹ được khuyến nghị như thế nào?

Nguồn thức ăn phối hợp giữa 50% cá tạp tươi và 50% thức ăn viên công nghiệp mang lại tỷ lệ thành thục, sức sinh sản và chất lượng trứng tốt nhất so với việc sử dụng đơn lẻ một loại thức ăn. Khẩu phần ăn nuôi vỗ phù hợp nhất là 9% khối lượng thân/ngày.

4. Thời điểm và phương thức tập chuyển đổi thức ăn trong giai đoạn ương cá bột lên cá hương diễn ra ra sao?

Cá bột sau khi tiêu hết noãn hoàng (4 ngày tuổi) được cho ăn thức ăn tươi sống gồm Moina kết hợp giun chỉ hoặc moi. Thời điểm bắt đầu tập chuyển đổi sang thức ăn chế biến (TACB) thích hợp nhất là ngày ương thứ 15. Quá trình chuyển đổi thực hiện bằng cách thay thế dần tỷ lệ TACB tăng thêm 20% mỗi ngày (kết hợp giảm giun chỉ tương ứng) cho đến khi cá ăn hoàn toàn TACB vào ngày thứ 20.

5. Mật độ và khẩu phần cho ăn tối ưu ở giai đoạn ương cá hương lên cá giống là bao nhiêu?

Giai đoạn ương cá hương lên cá giống (từ cỡ 2,4 - 2,5 cm) đạt kết quả tốt nhất ở mật độ ương 1,0 - 1,5 con/lít, sử dụng thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng protein 40% và cho ăn với khẩu phần 9% khối lượng thân/ngày, chia làm 2 lần/ngày (7 giờ và 16 giờ).


Kết luận

Luận án đã giải quyết được các khoảng trống khoa học về đặc điểm sinh học dinh dưỡng, giải phẫu ống tiêu hóa và quy luật sinh sản tự nhiên của cá chuối hoa (Channa maculata Lacepède, 1801). Nghiên cứu đã xác lập các thông số kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, phác đồ kích thích sinh sản bằng kích dục tố, kỹ thuật chuyển đổi thức ăn và mật độ ương nuôi cá giống. Các phát hiện của đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu cho chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản, đồng thời đóng góp quy trình kỹ thuật phục vụ sản xuất giống nhân tạo, đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi và bảo tồn nguồn gen loài cá chuối hoa tại Việt Nam.