Luận án nghiên cứu sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa Channa maculata

Luận án nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa Channa maculata Lacepède 1801, góp phần bảo tồn và phát triển loài.

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2023

266
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN

1.1. Vị trí phân loại cá Chuối hoa

1.2. Tình hình nghiên cứu về cá chuối hoa trên thế giới

1.3. Tình hình nghiên cứu cá chuối hoa ở Việt Nam

1.3.1. Các công trình về phân loại học và phân bố

1.3.2. Các công trình về sinh thái và sinh học

1.3.3. Nghiên cứu về đặc điểm môi trường sống họ cá quả

1.3.4. Nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng họ cá quả

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu tổng quát

2.2. Mục tiêu cụ thể

3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá chuối hoa ngoài tự nhiên

3.1.1. Nghiên cứu đặc điểm dinh dưỡng

3.1.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh sản

3.2. Xây dựng kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo

3.2.1. Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ

3.2.2. Nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản

3.2.3. Nghiên cứu kỹ thuật ươm cá bột lên cá hương

3.2.4. Nghiên cứu kỹ thuật ươm cá hương lên cá giống

4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

4.1. Ý nghĩa khoa học

4.2. Ý nghĩa thực tiễn

5. ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cá chuối hoa Channa maculata

Cá chuối hoa (Channa maculata) là một trong những loài cá nước ngọt thuộc họ cá quả (Channidae). Loài cá này được biết đến với kích thước lớn, thịt ngon và sức sống cao, khiến nó trở thành đối tượng nuôi trồng thủy sản quan trọng. Cá chuối hoa chủ yếu sống ở các sông ngòi, ao hồ và đồng ruộng ngập nước, nơi có nhiều thực vật thủy sinh. Theo các nghiên cứu, cá chuối hoa có mặt ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Philippines. Tuy nhiên, nghiên cứu về loài cá này tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào đặc điểm phân loại và một số đặc điểm sinh học cơ bản. Việc nghiên cứu sâu hơn về cá chuối hoa không chỉ giúp bảo tồn nguồn gen mà còn góp phần vào việc phát triển nghề nuôi cá tại Việt Nam.

II. Đặc điểm sinh học của cá chuối hoa

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học của cá chuối hoa cho thấy loài này thuộc nhóm cá ăn động vật, với tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân trung bình là 0,58. Thành phần thức ăn chủ yếu của cá chuối hoa là động vật, chiếm 93,54% tổng thức ăn. Cá chuối hoa sinh sản chủ yếu vào tháng 4-6 hàng năm, với sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 3.283 trứng/con. Đặc biệt, chiều dài thành thục trung bình đầu tiên ở cá đực và cái là từ 20-25 cm. Những thông tin này không chỉ có giá trị trong việc phát triển kỹ thuật sản xuất giống mà còn giúp nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản.

III. Kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa

Việc xây dựng kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo là rất cần thiết. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong nuôi vỗ cá bố mẹ, nguồn thức ăn là cá tạp kết hợp với thức ăn viên công nghiệp có thể nâng cao sức sinh sản và chất lượng trứng. Thời gian tiêm cá đực trước liều quyết định cá cái 24 giờ và khoảng cách giữa liều quyết định và liều sơ bộ là 18 giờ. Kỹ thuật ương cá từ mới nở đến cá giống cũng cần được chú trọng, với mật độ 1,0-1,5 con/l và sử dụng thức ăn viên công nghiệp. Những kết quả này có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất giống cá chuối hoa, giúp cung cấp con giống cho người nuôi và thúc đẩy sự đa dạng hóa đối tượng nuôi thủy sản.

IV. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về cá chuối hoa không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Các dẫn liệu về đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản của cá chuối hoa sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo về họ cá quả. Đồng thời, việc bổ sung các thông số kỹ thuật trong sản xuất giống cá chuối hoa sẽ góp phần hình thành quy trình công nghệ sản xuất giống, đáp ứng nhu cầu con giống cho người nuôi và bảo tồn loài cá quý hiếm này. Điều này không chỉ giúp phát triển kinh tế mà còn bảo vệ đa dạng sinh học trong môi trường tự nhiên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Giới thiệu Trong các loài cá nƣớc ngọt, các loài thuộc họ cá quả Channidae (Anabantiformes) đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm do chúng có kích thƣớc lớn, thịt ngon và sức sống cao. Nhiều loài đã đƣợc nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm sinh học, sản xuất giống và phát triển thành đối tƣợng nuôi công nghiệp quan trọng ở các nƣớc trong khu vực nhƣ Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Phillipines, Ấn Độ và Malaysia (Muntaziana et al. Ở Việt Nam, họ cá quả chỉ có duy nhất một giống Channa gồm có 12 loài phân bố khắp các miền với nhiều tên gọi khác nhau theo tiếng địa phƣơng. striata) và cá lóc bông (C.

micropeltes) đã đƣợc nghiên cứu nhiều và phát triển nghề nuôi do chúng có kích cỡ lớn và giá trị kinh tế cao (Nguyễn Huấn và Dƣơng Nhựt Long, 2008). Gần đây, cá dày (C. lucius) cũng đã đƣợc nghiên cứu đặc điểm sinh học và sản xuất giống (Tiền Hải Lý, 2016). gachua) kích thƣớc nhỏ nhƣng cũng đã đƣợc nghiên cứu đặc điểm sinh học và sản xuất giống (Hồ Mỹ Hạnh, 2017).

Trong khi đó cá chuối hoa (C. maculata) cũng là một đối tƣợng nuôi có tiềm năng nhƣng lại chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều. Cá chuối hoa đƣợc đƣa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, bậc EN. Hiện nay, cá chuối hoa nằm trong danh mục các loài đƣợc phép sản xuất kinh doanh vì đây cũng là một trong những loài cá có giá trị kinh tế cao, có thịt thơm ngon đƣợc sử dụng rộng rãi trong nội địa.

Trong tự nhiên, cá chuối hoa chủ yếu sống ở các sông ngòi, ao hồ, đồng ruộng ngập nƣớc, nơi có nhiều thực vật thủy sinh và có mặt ở hầu khắp các thuỷ vực ở miền núi, đồng bằng cả ở vùng nƣớc lợ nơi có nồng độ muối thấp (Mai Đình Yên, 1978; Nguyễn Văn Hảo, 2005). Chúng cũng phân bố tự nhiên ở ở nhiều quốc gia nhƣ Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan và Phillipines (Water and James, 2004). Hiện nay, nghiên cứu về cá chuối hoa ở trong nƣớc mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm phân loại, một số đặc điểm sinh học và nghiên cứu sơ bộ về sản xuất giống nhân tạo (Nguyễn Thái Tự, 1983; Mai Đình Yên, 1978; Nguyễn Văn Hảo, 2005; Nguyễn Đình Vinh và nnk., 2015; Tạ Thị Bình và nnk. Vì vậy, việc nghiên cứu một số đặc điểm sinh học làm cơ sở cho việc cho đẻ nhân tạo, xây dựng kỹ thuật sản xuất cá giống và đƣa vào nuôi loài cá này là hết sức cần thiết nhằm góp phần đa dạng hóa đối tƣợng nuôi, duy trì và phát triển nguồn lợi, 1 bảo vệ quỹ gen, bảo tồn đa dạng sinh học.

Tuy nhiên, theo Pravdin (1973) muốn thuần hóa và đƣa vào nuôi một loài cá có hiệu quả thì phải hiểu biết về đặc điểm sinh học của chúng. Chính vì vậy, đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và xây dựng kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa Channa maculata (Lacepède, 1801) ” đƣợc thực hiện. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu tổng quát Cung cấp những luận cứ khoa học về một số đặc điểm sinh học và một số yếu tố kỹ thuật trong sản xuất giống cá chuối hoa. Thành công của đề tài sẽ góp phần rất lớn cho việc xây dựng kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa nhằm đa dạng hóa đối tƣợng nuôi, duy trì và phát triển nguồn lợi, bảo vệ quỹ gen, bảo tồn đa dạng sinh học.

Mục tiêu cụ thể Xác định đƣợc các đặc điểm dinh dƣỡng, sinh sản của cá chuối hoa ngoài tự nhiên làm cơ sở khoa học cho việc xây kỹ thuật sản xuất giống và ƣơng nuôi loài cá này. Xây dựng đƣợc một số thông số kỹ thuật trong sản xuất giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo. Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá chuối hoa ngoài tự nhiên - Nghiên cứu đặc điểm dinh dƣỡng - Nghiên cứu đặc điểm sinh sản Xây dựng kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo - Nghiên cứu kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ - Nghiên cứu kỹ thuật kích thích sinh sản - Nghiên cứu kỹ thuật ƣơng cá bột lên cá hƣơng - Nghiên cứu kỹ thuật ƣơng cá hƣơng lên cá giống Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án Ý nghĩa khoa học Các dẫn liệu về đặc điểm dinh dƣỡng và đặc điểm sinh sản của cá chuối hoa ngoài tự nhiên sẽ là nguồn tài liệu tham khảo tốt cho các nghiên cứu tiếp theo về các loài thuộc họ Channidae. - Luận án cũng bổ sung thêm các dẫn liệu về các thông số kỹ thuật góp phần hình thành quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo.

2 Ý nghĩa thực tiễn Bổ sung các thông số kỹ thuật về sinh sản cá chuối hoa trong điều kiện nhân tạo góp phần hình thành quy trình công nghệ sản xuất giống nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho ngƣời nuôi, cũng nhƣ đa dạng hóa đối tƣợng nuôi nƣớc ngọt có giá trị kinh tế, đồng thời bảo tồn và phát triển đƣợc loài cá quý hiếm này. Điểm mới của luận án Luận án xác định đƣợc đặc điểm cơ bản trong sinh học dinh dƣỡng và sinh học sinh sản của cá chuối hoa nhƣ: cá chuối hoa thuộc nhóm cá ăn động vật với các đặc điểm nhƣ: tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân trung bình 0,58 (trong khoảng 0,38 -0,79). Thành phần thức ăn có nguồn gốc động vật chiếm 93,54% thức ăn khác chiếm 6,46%. Trong năm, cá sinh sản tập trung vào tháng 4-6 (dƣơng lịch).

Chiều dài thành thục trung bình đầu tiên ở cá đực và cái là từ 20-25 cm. Trứng cá thuộc dạng trứng nổi, sức sinh sản tuyệt đối dao động từ 3.283 trứng/con và sức sinh sản tƣơng đối dao động từ 9,799-15. Luận án xác định đƣợc một số yếu tố kỹ thuật quan trọng trong sản xuất giống cá chuối hoa. Đó là, trong nuôi vỗ cá bố mẹ, nguồn thức ăn là cá tạp 50% kết hợp TAVCN 50% góp phần nâng cao sức sinh sản, chất lƣợng trứng và cá bột mới nở.

Khẩu phần thức ăn cho cá bố mẹ với tỷ lệ cho ăn 9% khối lƣợng thân là phù hợp để cải thiện chất lƣợng sinh sản cá chuối hoa; Thời gian tiêm cá đực trƣớc liều quyết định cá cái 24h giờ, khoảng cách giữa liều quyết định cách liều sơ bộ 18h, sử dụng não thùy với liều lƣợng 12mg/kg cho kết quả thăm dò kích thích cá sinh sản tốt nhất, sử dụng LHRHa +DOM kích thích cho cá bố mẹ sinh sản đạt hiệu quả sinh sản cao; Trong giai đoạn ƣơng cá từ mới nở đến 30 ngày tuổi sử dụng thức ăn Moina - Giun chỉ hoặc Moina - Moi cải thiện đáng kể tỷ lệ sống, khả năng chịu sốc, tốc độ tăng trƣởng và có kích cỡ đồng đều. Thời điểm thích hợp để bắt đầu chuyển đổi thức ăn sống sang thức ăn chế biến là từ ngày ƣơng thứ 15; Giai đoạn ƣơng cá hƣơng lên cá giống ƣơng cá ở mật độ 1,0--1,5 con/l và dùng thức ăn viên công nghiệp với khẩu phần ăn 9% BW có tỷ lệ sống và tốc độ tăng trƣởng tốt nhất. Các kết quả đạt đƣợc có thể ứng dụng vào thực tế sản xuất giống loài cá chuối hoa, chủ động cung cấp con giống, thúc đẩy sự đa dạng hóa đối tƣợng nuôi thủy sản. Vị trí phân loại cá Chuối hoa Theo hệ thống phân loại Eschmeyer (2018) thì cá chuối hoa Channa maculata (Lacepède, 1801) đƣợc xác định nhƣ sau: Giới: Động vật - Animalia.

Ngành: Dây sống - Chordata. Lớp: Vây tia - Actinopteri. Bộ: Cá Rô - Anabantiformes. Phân bộ: Cá quả - Channoidei.

Họ: Cá quả - Channidae. Giống: Cá quả - Channa. Loài: Cá chuối hoa - Channa maculata (Lacepède, 1801) Hình 1. Tình hình nghiên cứu về cá chuối hoa trên thế giới và Việt Nam 1.

Tình hình nghiên cứu cá chuối hoa trên thế giới Trên thế giới đã có những nghiên cứu vùng phân bố của cá chuối hoa và các nhà nghiên cứu đã phát hiện loài này có ở các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới nhƣ Trung Quốc, Đài Loan, Phillipines và Bắc Việt Nam; ngoài ra chúng còn đƣợc di nhập vào Nhật Bản, Hawai và Madagascar (Water & James, 2004) Kết quả nghiên cứu của Herre (1924) về sự phân bố của các loài cá nƣớc ngọt ở Philippines cho thấy, họ Channidae có hai giống và phân bố ở Đài Loan, Philippines và Halmahera đến Hindustan, Ceylon và Châu Phi nhiệt đới. Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng cá chuối ở Hawaii có nguồn gốc từ miền Nam Trung Quốc. Kottelat (2001) khẳng định, ở Châu Á chỉ có một giống là Channa với số loài đã đƣợc tìm thấy cho đến nay là 9 loài. Trong các tác giả nghiên cứu về giống 4 Channa ở các nƣớc thuộc Đông Dƣơng đã ghi nhận đƣợc 5 loài ở Lào: Channa orientalis, C.

striata, có 6 loài ở Campuchia: Channa orientalis, C. Theo Ralf Britz (2002) đã khẳng định rằng loài cá lóc đen (C. striata) phân bố ở Madagascar là không đúng, mà đó là loài cá chuối hoa. Ông cũng đã tiến hành kiểm tra mẫu của loài Channa striata (ký hiệu USNM 126588) đƣợc thu thập bởi Jordan và Evermann ở Oahu, Hawaii năm 1901 và khẳng định rằng loài này là loài Channa maculata.

Hai mẫu đƣợc mƣợn từ bảo tàng Bernice Pauahi Bishop ở Honolulu đƣợc thu thập từ những năm đầu 1900 ở Oahu và ghi tên loài Channa striata là Channa maculata. Sau đó, các mẫu thu thập ở Oahu, Hawaii đƣợc bảo quản tại Viện Hàn lâm Khoa học California cũng chứng minh là loài Channa maculata và không phải là Channa striata. Tại nhiều quốc gia, một số loài thuộc giống Channa đƣợc đánh giá cao về giá trị thực phẩm đặc biệt là ở Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc. Từ rất lâu, chúng đã trở thành đối tƣợng quan trọng trong nghề đánh bắt cá và trong những thập kỷ gần đây, một số loài đã đƣợc đƣa vào nuôi phổ biến nhƣ cá lóc đen (Channa striata), cá lóc bông (Channa micropeltes) ở Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, cá chành dục (Channa gachua) ở Trung Quốc và Đông Nam Á, cá lóc Channa argus, cá chuối hoa (Channa maculata) ở Trung Quốc (Pantulu, 1976; Wee, 1982).

Cá chuối hoa là loài cá nuôi quan trọng thứ hai và đƣợc nuôi tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Đông, nơi mà nó tập trung phân bố nhiều. Trong năm 2001, nhập khẩu của cá chuối hoa từ Quảng Đông vào Hoa Kỳ tăng. Hiện nay, cá chuối hoa đƣợc coi là một trong những nguồn cung cấp thực phẩm tại Đài Loan; Nara, Hyogo, Hiroshima (Nhật Bản) và Philippines (Okada, 1960; Liang et al., , 1962; Hay & Hodgkiss, 1981; Uyeno & Akai, 1984 trích theo Water & James, 2004). Theo Yamamoto & Tagawa (2000) thì cá chuối hoa là loài cá ăn thịt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án nghiên cứu sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá chuối hoa Channa maculata" của các tác giả Nguyễn Huấn, Dương Nhựt Long, và nhóm nghiên cứu tại Trường Đại Học Nông Lâm, Thành Phố Hồ Chí Minh, tập trung vào việc nghiên cứu các phương pháp sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cho loài cá chuối hoa. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm sinh học của Channa maculata mà còn đề xuất các kỹ thuật nuôi trồng hiệu quả, từ đó giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trong ngành nuôi trồng thủy sản. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về quy trình sản xuất giống, cũng như các ứng dụng thực tiễn trong ngành thủy sản.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá ngạnh Cranoglanis bouderius tại Nghệ An, nơi nghiên cứu các kỹ thuật tương tự trong sản xuất giống cá, hoặc So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật giữa mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ, giúp bạn hiểu thêm về các mô hình nuôi trồng thủy sản khác nhau. Cuối cùng, Luận Án Về Phân Tích Chuỗi Giá Trị Thủy Sản Tỉnh Nghệ An sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về giá trị kinh tế trong ngành thủy sản, liên quan mật thiết đến nghiên cứu sản xuất giống cá.