Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về sai sót liên quan đến thuốc 1. Khái niệm sai sót liên quan đến thuốc Theo Hội đồng điều phối Quốc gia Hoa Kỳ về báo cáo và phòng tránh sai sót liên quan đến thuốc (The National Coordinating Council for Medication Error Reporting and Prevention-NCC MERP): sai sót liên quan đến thuốc (SSLQĐT) (Medication Error-ME) là bất kỳ biến cố có thể phòng tránh nào có khả năng gây ra hoặc dẫn đến việc sử dụng thuốc không hợp lý, hoặc gây hại cho người bệnh trong khi thuốc được kiểm soát bởi nhân viên y tế, người bệnh, hoặc người sử dụng [47]. Các chuyên gia ước tính rằng có tới 98000 ca tử vong mỗi năm do sai sót y tế xảy ra tại các bệnh viện.
Số người tử vong vì SSLQĐT nhiều hơn so với tai nạn giao thông, ung thư vú hoặc AIDS (Acquired Immuno Deficiency Syndrom – Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) - ba nguyên nhân nhận được nhiều sự chú ý của cộng đồng hơn [48]. Phân loại sai sót liên quan đến thuốc Phân loại theo giai đoạn: - Sai sót trong kê đơn (Prescribing error): lựa chọn thuốc không chính xác (dựa vào chỉ định, chống chỉ định, tiền sử dị ứng thuốc, các thuốc đã được sử dụng và các yếu tố khác), là các sai sót về liều dùng, đường dùng, dạng bào chế, số lượng, nồng độ thuốc, hướng dẫn sử dụng của thuốc trong đơn hay thẩm quyền kê đơn của bác sĩ, đơn thuốc hoặc các chữ viết tắt không đọc được dẫn đến dùng sai thuốc hoặc sai người bệnh. - Sai sót trong cấp phát thuốc (Deteriorated drug error): cấp phát các thuốc đã hết hạn hoặc chất lượng không đảm bảo cho người bệnh. 4 - Sai sót trong giám sát thuốc (Monitoring error): thất bại trong việc kê đơn theo phác đồ điều trị cho phù hợp với chẩn đoán hay thất bại trong đánh giá người bệnh thông qua các dữ liệu lâm sàng hoặc các xét nghiệm phù hợp [1], [18].
Phân loại theo biến cố - Dùng thuốc không được kê trong đơn (Unauthorized drug error): cho người bệnh dùng thuốc không được kê trong đơn/bệnh án - Sai về thời điểm dùng thuốc (Wrong time error): dùng thuốc không đúng theo thời gian quy định của thuốc - Sai liều (Improper dose error): cho người bệnh sử dụng thuốc với liều lượng lớn hơn hoặc ít hơn theo yêu cầu của người kê đơn hoặc cho người bệnh dùng liều bị trùng lặp. - Sai dạng thuốc (Wrong dosage-form error): cho người bệnh dùng thuốc khác dạng bào chế theo yêu cầu của người kê đơn - Sai sót trong pha chế thuốc (Wrong drug preparation error): thuốc được pha chế không đúng hoặc thao tác không đúng trước khi sử dụng. - Sai kỹ thuật trong thực hiện thuốc (Wrong administrate technique error): sai quy trình hoặc kỹ thuật trong sử dụng thuốc. - Sai sót trong tuân thủ điều trị (Compliance error): người bệnh không hợp tác và không tuân thủ dùng thuốc theo quy định [1], [18].
Phân loại theo nguyên nhân - Sai sót do bỏ sót liều - Liều không chính xác - Sự khác biệt trong quá trình sử dụng thuốc [14]. 5 Phân loại theo mức độ nghiêm trọng [46] Bảng 1.1: Phân loại sai sót liên quan đến thuốc theo mức độ nghiêm trọng Mức độ Mô tả Chưa gây A Sự cố có khả năng gây sai sót sai sót B Sai sót đã xảy ra nhưng không ảnh hưởng tới người bệnh Sai sót, Sai sót đã xảy ra ảnh hưởng tới người bệnh nhưng không C không gây tổn hại gây tổn Sai sót đã xảy ra ảnh hưởng tới người bệnh, yêu cầu giám hại D sát và báo cáo kết quả có tổn hại đến người bệnh không hoặc có biện pháp can thiệp làm giảm tổn hại. Sai sót đã xảy ra gây tổn hại tạm thời đến người bệnh, yêu cầu E có can thiệp Sai sót, Sai sót đã xảy ra gây tổn hại tạm thời đến người bệnh, yêu F gây tổn cầu nằm viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện. hại G Sai sót đã xảy ra gây tổn hại vĩnh viễn đến người bệnh Sai sót đã xảy ra, yêu cầu tiến hành các can thiệp cần thiết H để duy trì cuộc sống của người bệnh.
Sai sót dẫn đến I Sai sót đã xảy ra gây tử vong. Nguyên nhân gây ra sai sót liên quan đến thuốc Theo Dược điển Mỹ 1997, 10 nguyên nhân hàng đầu dẫn đến SSLQĐT bao gồm: hiệu suất kém, không tuân thủ quy trình, thông tin sai lệch, phiên âm thuốc không chính xác hoặc bị bỏ sót, tài liệu không phù hợp, sai sót về hệ thống phân phối thuốc, thiếu kiến thức, sai sót trong tính toán/nhập thông tin vào máy tính và thiếu các biện pháp bảo vệ hệ thống [20]. Theo Viện thực hành y học an toàn, các nguyên nhân gây SSLQĐT bao gồm: giao tiếp không thành công, đơn thuốc viết tay hoặc y lệnh miệng, thuốc có tên tương tự nhau, thiếu hoặc đặt sai dấu số 0 và dấu thập phân, sử dụng các từ viết tắt không chuẩn, thực hành phân phối thuốc kém, kỹ thuật thiết kế phức tạp và kém, không có dược sĩ tiếp cận với thuốc, vấn đề môi trường nơi làm việc dẫn đến tăng căng thẳng trong công việc, tính toán sai liều lượng, thiếu thông tin về bệnh nhân, bệnh nhân thiếu hiểu biết về chế độ điều trị của họ [14]. Việc phát hiện và báo cáo SSLQĐT rất quan trọng để cải thiện việc thực hành an toàn thuốc, nhận biết được nguyên nhân và đưa ra các phương án, biện pháp can thiệp giáo dục để ngăn chặn SSLQĐT [14].
Một số phương pháp phát hiện và báo cáo SSLQĐT được liệt kê ở Bảng 1.2: Các phương pháp phát hiện và báo cáo SSLQĐT Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm - Không thể thực hiện báo cáo trừ khi chắc chắn sai sót có xảy ra. - Ngay cả khi phát hiện sai sót, điều dưỡng không có khả năng Tự báo cáo ẩn danh Không tốn kém thông báo sai sót đó nếu có một hoặc nhiều yếu tố: bác sĩ khuyên không nên báo cáo, điều dưỡng tin rằng sai sót đó vô hại, sai sót bị bỏ sót hoặc sai thời gian. Tạo thành quy trình Sai sót phải được thừa nhận và Báo cáo sự cố báo cáo tại bệnh tâm lý lo sợ bị đổ lỗi. viện Ghi chép các báo Thông tin thu thập Sai lệch và khó khăn trong xử cáo quan trọng đầy đủ và mang lý dữ liệu, phát triển phương tính chủ quan pháp Phương pháp quan Tốn kém chi phí, mệt mỏi và Hiệu quả và khách sát ảnh hưởng bởi người quan sát quan [14] Tác giả Handler và cộng sự năm 2007 cho rằng rào cản trong việc phát hiện và báo cáo sai sót như sau: - Các rào cản liên quan đến cá nhân + Thiếu kiến thức về tính hữu ích của việc báo cáo SSLQĐT + Sợ bị kỷ luật 8 + Sợ bị đổ lỗi + Sợ trách nhiệm pháp lý hoặc kiện tụng.
- Các rào cản về tổ chức + Thiếu hệ thống hoặc biểu mẫu báo cáo SSLQĐT sẵn có + Thiếu thông tin về cách thông báo SSLQĐT + Thiếu phản hồi cho người báo cáo hoặc cơ sở y tế về các SSLQĐT đã được báo cáo + Hệ thống hoặc biểu mẫu được sử dụng để báo cáo SSLQĐT rất lâu và tốn nhiều thời gian + Thiếu định nghĩa thống nhất về SSLQĐT + Thiếu hệ thống báo cáo SSLQĐT ẩn danh + Thiếu nhận biết rằng đã xảy ra SSLQĐT + Thiếu văn hóa báo cáo SSLQĐT + Kéo dài thời gian liên quan đến việc ghi lại SSLQĐT [31]. Can thiệp đối với sai sót liên quan đến thuốc 1. Giải pháp mang tính hệ thống Cung cấp đầy đủ chính xác thông tin bệnh nhân - Trả kết quả xét nghiệm qua mạng - Thông báo về tiền sử dị ứng của bệnh nhân cho bác sĩ/dược sĩ trước khi cấp phát và giám sát sử dụng thuốc - Liệt kê các phản ứng dị ứng và chẩn đoán trên y lệnh hoặc đơn thuốc - Đeo vòng đeo tay đánh dấu bệnh nhân có tiền sử dị ứng - Luôn mang theo y lệnh khi gíam sát sử dụng thuốc, tư vấn cho bệnh nhân trước khi cấp phát thuốc - Yêu cầu theo dõi kĩ bệnh nhân có nguy cơ cao: béo phì, hen, ngưng thở khi ngủ… khi sử dụng thuốc nhóm opioids. Cung cấp đầy đủ thông tin thuốc cho bác sĩ, điều dưỡng 9 - Cập nhật kịp thời thông tin thuốc - Có dược sĩ tư vấn cho bệnh nhân về thuốc - Cung cấp thông tin dưới dạng biểu đồ, quy trình, hướng dẫn, checklist cho các thuốc có cảnh báo cao - Liệt kê liều tối đa của các thuốc có cảnh báo cao, thông tin dưới dạng phiếu yêu cầu hoặc cảnh báo thông qua hệ thống mạng của bệnh viện - Có dược sĩ xem xét các đề nghị sử dụng thuốc.
Đảm bảo trao đổi thông tin giữa các nhân viên y tế đầy đủ, chính xác - Sử dụng hệ thống kê đơn điện tử và hệ thống mạng bệnh viện - Sử dụng mẫu yêu cầu thuốc chuẩn và đầy đủ thông tin - Hạn chế yêu cầu thuốc qua điện thoại, đặc biệt các thuốc điều trị ung thư (trừ trường hợp khẩn cấp) - Đọc lại các yêu cầu về thuốc đảm bảo thông tin đầy đủ và chính xác. - Xây dựng quy trình, thống nhất từng bước tiến hành khi yêu cầu thuốc - Gửi tất cả các yêu cầu thuốc cho khoa dược, kể cả các thuốc có sẵn hay các thuốc không có sẵn. Đảm bảo tên thuốc, nhãn thuốc và dạng đóng gói rõ ràng, đúng quy cách - Lưu ý các thuốc nhìn giống nhau hoặc tên thương mại giống nhau - Cấp phát cho khoa lâm sàng thuốc có tên thuốc, hàm lượng. - Dán nhãn cho tất cả các thuốc, làm nổi bật tên thuốc và hàm lượng - Trong khoa lâm sàng, các thuốc uống được bảo quản trong hộp đến tận khi cấp phát cho bệnh nhân.