PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong ngành nông nghiệp của nước ta. Kim ngạch xuất khẩu giá trị khoảng 3,9 tỷ USD năm 2021, đứng thứ 2 về sản lượng xuất khẩu cà phê trên toàn thế giới. Kim ngạch xuất khẩu chiếm 3,2% GDP vào năm 2021 (Vicofa, 2022).
Với nhiều lợi thế từ điều kiện tự nhiên, nguồn lao động có kinh nghiệm, các vùng trồng diện tích lớn. Tính đến năm 2021 trên cả nước có 710 nghìn ha (Vicofa, 2021), trong đó gần 700 nghìn hộ nông dân trồng cà phê, có thể nói đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các doanh nghiệp chế biến. Ngành cà phê đem lại nhiều lợi ích về tăng trưởng kinh tế, giải quyết vấn đề lao động việc làm cho số lượng lớn các lao động khu vực Tây Nguyên, các vùng nông nghiệp trồng cà phê và các lĩnh vực khác trên phạm vi cả nước. Cà phê là mặt hàng xuất khẩu lớn, tạo cân bằng thương mại, nguồn thu ngoại tệ và là động lực phát triển các ngành kinh tế khác.
Chúng ta luôn là quốc gia xuất khẩu hàng đầu về cà phê trên thế giới, đối với thị trường trong nước có tốc độ phát triển nhanh, đang dần hình thành văn hóa cà phê đặc trưng, thói quen tiêu dùng cà phê với các chuỗi thương hiệu cà phê có uy tín, được đầu tư lớn, xây dựng bài bản, quy mô và chuyên nghiệp. Có thể dễ dàng nhận thấy mặt hàng cà phê đang là sản phẩm mũi nhọn, chủ lực trong ngành nông nghiệp của Việt Nam. Những thành công đáng kể cả về thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước hiện nay là tín hiệu đáng mừng, tạo động lực xây dựng phát triển ngành cà phê Việt Nam đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, có vị trí cạnh tranh trên bản đồ cà phê toàn cầu. Tuy nhiên, việc phát triển bền vững ngành cà phê là vấn đề gặp nhiều khó khăn, và cần những giải pháp hiệu quả, kịp thời, bởi thực tế những hạn chế đối với ngành, lĩnh vực này là rất lớn.
Từ khâu trồng trọt, chăm bón, canh tác, thu hái, chế biến, xuất khẩu, tiêu thụ trong nước …v.v đều tồn tại những hạn chế không hề nhỏ. Đối với hoạt động trồng trọt, trên 90% là các nông hộ sản xuất cà phê, đa phần quy mô nhỏ, rất nhỏ, trồng phân tán và theo phương pháp canh tác truyền thống, mặc dù có nhiều kinh nghiệm trong trồng trọt, sản xuất cà phê, nhưng lối canh tác cũ nhiều hạn chế về chất lượng hạt cà phê thô, chi phí tốn kém, công tác thu gom nhỏ lẻ, phân tán gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp chế biến cà phê. Đối với thị trường xuất khẩu hiện nay các DN chủ yếu xuất khẩu sản phẩm cà phê thô (chưa qua chế biến), có đến 90% sản lượng xuất khẩu chưa qua chế biến, dưới 5% sản phẩm cà phê đặc sản, chúng ta là nước xuất khẩu thứ hai thế giới tính theo sản lượng, nhưng giá trị thấp. Thực tế này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó việc hạn chế trong khâu chế biến, thiếu các công nghệ tinh chế, máy móc, thiết bị lạc hậu, năng suất chế biến thấp, chất lượng cà phê chế biến chưa cao, chưa tạo hương sắc riêng.
Tư duy đầu tư trang thiết bị hiện đại ở đa số các DNCB chưa thực sự được quan tâm, vẫn tâm lý nóng vội, thu hồi vốn nhanh, v.v… 2 Chưa hình thành liên kết, hợp tác và tính chuyên nghiệp, thiếu hướng đi lâu dài cho phát triển ngành. Để nâng cao giá trị xuất khẩu cà phê, điểm mấu chốt chính là khâu chế biến sâu. Các sản phẩm cà phê qua chế biến sâu có giá trị cao hơn rất nhiều, vì vậy việc tập trung vào khâu chế biến hiện nay là giải pháp quan trọng nâng cao giá trị hạt cà phê Việt Nam. Đới với DNCB, một mắt xích quan trọng đó là chuỗi đầu vào của các DNCB cà phê, vì thực tế cho thấy rằng cà phê nguyên liệu quyết định phần lớn tới chất lượng sản phẩm chế biến đầu ra, nếu thiết bị công nghệ chế biến lạc hậu, đầu tư quy trình không hiệu quả, hạt cà phê thô không đảm bảo chất lượng thì các sản phẩm cà phê sau chế biến kém chất lượng, cũng như không đáp ứng được các điều kiện thử nếm, cũng như tiêu chuẩn trong kiểm định cà phê.
Cùng với đó đảm bảo nguồn cung ứng ổn định, kịp thời và hiệu quả là yếu tố quyết định tới sản lượng chế biến, thời gian chế biến và tối ưu hóa chi phí chế biến. Chính vì vậy có thể nhận thấy khâu đầu vào hiện nay chính là vấn đề cơ bản mà các DNCB cà phê cần giải quyết trước, đặc biệt đối với mặt hàng cà phê thô. Để giải quyết bài toàn này việc liên kết trong sản xuất, thu gom, chế biến và tiêu thụ là hết sức cần thiết, vấn đề này cũng đã được khẳng định trong nghị định 98/2018/ NĐ-CP của chính phủ, ký ngày 05/07/2018. Đặc biệt việc nhấn mạnh vào khâu thu mua và sản xuất, chế biến cà phê.
Trong nghị định này cũng chỉ ra doanh nghiệp chế biến là đầu mối liên kết các khâu trong cả quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê. Trong nghị định này chỉ ra bảy hình thức liên kết, trong bảy hình thức này việc liên kết các yếu tố đầu vào, thu mua và chế biến cà phê là chủ yếu. Thể hiện tầm quan trọng đặc biệt của các yếu tố đầu vào của các DNCB cà phê. Quản lý nguồn cung và hoạt động mua hàng của doanh nghiệp là khâu đầu tiên trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp đó, nó quyết định đến chiến lược toàn diện của chuỗi cung ứng sản phẩm.
Các hoạt động cung ứng hàng hóa đầu vào cho phép DN tối ưu hóa giá trị cho toàn chuỗi cung ứng của mình. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau theo các bậc của mua từ tác nghiệp, chiến thuật và quản lý nguồn cung. Mua hàng luôn có vị trí quyết định tới chất lượng, số lượng, thời gian và hiệu quả chi phí quản lý nguyên liệu đầu. “Cùng với các quyết định ở bậc tác nghiệp, các quyết định chiến lược, quản lý quan hệ nhà cung cấp, quản lý rủi ro nguồn cung, …v.v, sẽ tạo nên chất lượng nguồn cung ổn định, cạnh tranh cho các DN” (Monczka, 2021).
Ở hầu hết các doanh nghiệp quản lý nguồn cung và hoạt động mua hàng là một bộ phận không thể thiếu, nó quyết định tới hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bộ phận này có thể có vị trí và mức độ quan trọng khác nhau với từng doanh nghiệp. Tuy nhiên trong xu hướng hiện nay, bộ phận này được xem là những quyết định ở tầm chiến lược, sự tham gia sớm của bộ phận quản lý nguồn cung và hoạt động mua hàng thể hiện sự cần thiết 3 trong xây dựng kế hoạch chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Ở đó các quyết định mua hàng, xây dựng thiết kế chiến lược nguồn cung là một phần trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.
Sự cần thiết để phát triển ngành cà phê của Việt Nam, với nhiều lợi thế nhưng chưa phát triển đúng tiềm năng của ngành. Những hạn chế từ chính những khâu, mắt xích trong ngành cà phê từ hộ nông dân, HTX người sản xuất cà phê, DNCB cà phê và vị trí vai trò của công tác quản lý nguồn cung trong doanh nghiệp nói chung và DNCB cà phê nói riêng. Những phân tích này cho thấy trong rất nhiều giải pháp tăng khả năng cạnh tranh của DNCB cà phê, trong đó giải pháp tối ưu hóa hoạt động mua và quản lý nguồn cung là một trong các giải pháp hữu hiệu, khi nguồn cung đầu vào đối với các DNCB có tính chất quyết định tới toàn bộ quá trình từ chế biến cho tới tiêu thụ thị trường đáp ứng các nhu cầu của khách hàng. Ở Việt Nam đa phần các DNCB thường đảm nhận các khâu chế biến và tiêu thụ, bao gồm cả xuất khẩu và tiêu thụ tr0ng nước.
Vì vậy việc liên kết, hợp tác nhà cung cấp, liên kết chuỗi hỗ trợ rất nhiều cho DNCB tham gia vào các thị trường lớn, các yêu cầu khắt khe về số lượng, cũng như chất lượng sản phẩm. Những phân tích trên cho thấy, đề tài luận án “Quản lý nguồn cung và hoạt động mua hàng của các doanh nghiệp chế biến cà phê tại Việt Nam” được lựa chọn nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó có đánh giá nghiên cứu thực trạng đề xuất mô hình hỗ trợ các DNCB cà phê có những lựa chọn và giải pháp hoàn thiện hiệu quả hơn công tác QLNC và HĐ mua hàng. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố 2a) Các công trình nghiên cứu về quản lý nguồn cung và hoạt động mua hàng Những góc độ tiếp cận, quan điểm khác nhau về quản lý nguồn cung và mua hàng, những xu hướng gần đây khái niệm tìm nguồn cung ứng toàn cầu, liên minh chiến lược và đổi mới chung với các nhà cung cấp (Monczka & ctg, 2021) đã chỉ ra những nội dung cơ bản của quản lý nguồn cung và mua hàng.
Qua đó hoạt động quản lý nguồn cung và mua hàng có thể được hiểu là việc gia tăng hiệu suất tìm kiếm nguồn hàng tiềm năng với mục tiêu tiết kiệm chi phí, đáp ứng nhu cầu về hàng hóa và tối ưu hóa mức dịch vụ của doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu cũng đã kiểm tra các tiền đề khác nhau của việc mua hiệu suất cao như điều chỉnh chiến lược kinh doanh và mua hàng (Watts & ctg, 1993), cơ cấu tổ chức mua hàng (Johnson & ctg, 2002), quản lý quan hệ nhà cung ứng và cơ sở cung ứng như là một bậc cao trong quyết định mua hàng (Krause & ctg, 2007). Những nghiên cứu này đều góp phần vào sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của chức năng mua và làm thế nào nó có thể ảnh hưởng đến hiệu suất, hiệu quả của quá trình mua trong doanh nghiệp. Theo tác giả Burt (2006) chỉ ra khái niệm mua sắm là một quá trình có hệ thống để quyết định mua gì, khi nào và bao nhiêu; hành động 4 của mua nó; và quá trình đảm bảo rằng những gì được yêu cầu được nhận đúng thời hạn về số lượng và chất lượng quy định. Chất lượng số lượng và giá thành của các mặt hàng đã mua ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của công ty, khả năng sản xuất nó, năng suất và quan trọng nhất là lợi nhuận của công ty.