đặt vấn đề quản lý, khai thác nguồn lợi biển dao của triều Nguyễn trong mối quan hệ ứng xử của vương triều đối với nguồn tài nguyên biên đảo ở Dai Nam thé kỷ XIX (quản ly tài nguyên, khai thác tài nguyên) và đối với hoạt động khai thác tài nguyên biên đảo của các chủ thể khác (cu dân Dai Nam và các nước). Phương pháp nghiên cứu Luận án quán triệt các nguyên tắc phương pháp luận mác xít về tiếp cận và nghiên cứu lịch sử. Theo đó, các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng trong toàn bộ quá trình triển khai nghiên cứu luận án. Các van dé, các sự kiện lịch sử liên quan đến đề tài của luận án được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với lịch sử Việt Nam giai đoạn này, đặt lịch sử Việt Nam trong mối quan hệ nhiều mặt với khu vực và thế giới và trong sự vận động theo thời gian.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm phương pháp lịch sử, phương pháp lôgích, phương pháp mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp khu vực học, phương pháp chuyên gia, phương pháp hệ thống, cấu trúc, tổng hợp, thống kê. Các phương pháp mô tả, lịch sử, lôgíc được sử dụng dé phác dung lại một cách cụ thé, sinh động hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều 14 Nguyễn với các hoạt động, sự kiện, diễn biến lịch sử theo trật tự thời gian từ năm 1802 đến năm 1884. Phương pháp so sánh ở cả hai chiều kích: lịch đại (đặt hoạt động quản lý, khai thác biển đảo của triều Nguyễn trong sự đối sánh với các nhà nước quân chủ Việt Nam trước triều Nguyễn, hay trong sự so sánh giữa các triều vua Nguyễn, cũng như so sánh giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX với nửa đầu thế kỷ này) và đồng đại (đặt hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo trong hoạt động quản lý, điều hành đất nước nói chung của triều Nguyễn; trong lát cắt địa lý của vùng biển, hải đảo, duyên hải ở các tỉnh, các vùng miễn Bắc, Trung, Nam). Khi miêu tả để so sánh, luận án cũng kết hợp với phương pháp khu vực học, giúp làm nổi bật đặc trưng của đối tượng nghiên cứu ở những lát cắt địa lý, dé có được cái nhìn khách quan, toàn diện, cụ thé và sâu sắc hơn về van dé.
Phương pháp chuyên gia, phương pháp hệ thống, cau trúc, tong hợp, thống kê, phân tích cũng được sử dụng hiệu qua dé trình bay, phân tích, đánh giá những van dé đặt ra. Trong đó, phương pháp thống kê được sử dụng chủ yếu trong việc xử lý, thông kê các bảng số liệu liên quan đến hoạt động quan lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn ở thế kỷ XIX, kết quả có được sẽ giúp khái quát được đặc trưng của tổng thể. Phương pháp chuyên gia tham vấn ý kiến, đánh giá của một số chuyên gia nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên quan đến biển đảo Việt Nam thời trung đại, hay chuyên gia nghiên cứu về triều Nguyễn thế kỷ XIX, dé đánh giá van dé quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của Vương triều được sâu sắc, đúng đắn và toàn diện hơn. Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp bồ trợ nhưng không kém phần quan trọng, như kết hợp các phương pháp của ngành khoa học quản lý (quản lý công) và ngành kinh tế học.
Các phương pháp của hai ngành khoa học trên được áp dụng một cách phù hợp vào tìm hiểu, đánh giá hoạt động quản lý, khai thác nguồn lợi biển đảo của triều Nguyễn dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế. Luận án đặt các phương pháp này vào thời điểm lịch sử thế kỷ XIX, với đặc trưng của chủ thể quản lý là thiết chế chính trị quân chủ trung ương tập quyền triều Nguyễn, để tìm hiểu bộ máy quản lý, công cụ quan lý, cách thức triển khai hoạt động quan lý trong thực tiễn, các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến chính sách, biện 15 pháp, hoạt động quản lý, khai thác biển đảo của Nhà nước Nguyễn. Bộ máy chính quyền triều Nguyễn (bộ máy quản lý nhà nước) từ trung ương đến địa phương đảm trách quản lý khai thác và đảm bảo an toàn khai thác nguồn lợi biển đảo được tìm hiểu dưới góc độ là chủ thể quản lý. Các công cụ chính sách (công cụ quản lý nhà nước) cũng được soi chiếu vào hoạt động quản lý khai thác của triều Nguyễn: (1).Quản lý bằng pháp luật, lệ định (regulation instruments; thé hiện trong Hoàng Việt luật lệ: Kham định Dai Nam hội điển sự lệ); (2).Quan lý bằng động cơ tài chính/kinh tế ((financial incentive instruments) như kiểm soát, khuyến khích, hỗ trợ; gồm: (a).Quản lý bang thuế (regulatory taxes instrument; thu thuế, miễn giảm thuế thuyền buôn, thuyền đánh cá của cư dân Đại Nam); (b).Quản lý băng thị trường (market instrument; triều Nguyễn độc quyền giao thương một số loại hàng hóa, độc quyền khai thác, sử dụng một số loại sản vật biển và hải đảo, quy định hàng cấm xuất - nhập khau.Quan ly bang hỗ trợ kinh tế (subsidies instrument; trợ cấp vốn nhằm hỗ trợ sinh kế cho ngư dân Đại Nam, cấp phát vũ khí cho thuyền dân tham gia đảm bảo an toàn khai thác).
Cách thức triển khai hoạt động quản lý theo trục dọc (từ trung ương đến địa phương) và trục ngang (giữa các cơ quan đồng cấp hoặc tương đương) cũng được triều Nguyễn thực hiện, với sự phối hợp, hỗ trợ, giám sát lẫn nhau của các cơ quan, lực lượng quản lý. Những điều chỉnh, thay đổi của chính sách, hoạt động và hiệu quả quản lý Nhà nước Nguyễn trong khai thác biển đảo chịu tác động của các yếu tố chủ quan (những thành công, hạn chế của bộ máy quan lý triều Nguyễn) và khách quan (nhất là yếu tố xâm lược phương Tây). Nguồn tài liệu Dé hoàn thành đề tài, tac giả tập hợp và nghiên cứu tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: tài liệu thành văn, tư liệu dân gian, tư liệu hiện vật và tài liệu thực tế. - Nghiên cứu một triều đại, nhất là về vẫn đề quản lý, trước hết phải dựa trên nguồn thư tịch cô ghi chép về triều đại đó.
Đây chính là cứ liệu lịch sử quan trọng nhất. Dưới triều Nguyễn, một khối lượng tư liệu đồ sộ có giá trị đã được biên chép, lưu giữ và bảo tồn đến ngay nay, gồm: dia bạ, châu bản, Hoang Việt luật lệ, cùng các bộ chính sử (Đại Nam thục lục, Khâm định Dai Nam hội điển sự lệ, Đại Nam 16 nhất thống chỉ, Quốc triều chính biên toát yếu, Kham định tiểu bình lưỡng kỳ nghịch phi phương lược chính biên, Minh Mệnh chính yếu, Đại Nam liệt truyén. Trong đó, tư liệu quan trọng nhất phục vụ cho nội dung đề tài gồm: Đại Nam thực lục là bộ sử lớn, ghi chép đầy đủ, hoàn chỉnh nhất về các triều vua Nguyễn theo thé biên niên. Trong Đại Nam thực lục tiền biên và chính biên (ghi chép từ năm 1778 đến 1888), những nhận thức, những chính sách về biển đảo của triều Nguyễn, nhất là những vị vua đầu triều, được khắc họa khá rõ nét.
Cũng giống như hạn chế của các bộ chính sử khác biên soạn dưới thời quân chủ, Dai Nam thực lục biên chép theo nhãn quan của nhà nước phong kiến, chưa vượt qua được hạn chế của thời đại. Những hạn chế trong cách biên chép này chỉ cho phép nghiên cứu các chính sách được ban hành, các biện pháp quản lý, khai thác và hiệu quả của việc thực hiện các chính sách, biện pháp từ phía các cơ quan hành chính mà khó có thé đánh giá một cách đầy đủ, khách quan hiệu quả thực hiện trong thực tế, đặc biệt là ở cấp vi mô, từ phía dân gian. Tuy còn những hạn chế đó nhưng Đại Nam thực lục đã cung cấp cho đề tài một nguồn tư liệu phong phú và tin cậy. Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cũng là một công trình lớn và giá trị, được Nội các triều Nguyễn biên soạn theo thé loại hội điển.
Mục đích của thé loại này là ghi chép có hệ thống các điển pháp, quy chuẩn và các dit kiện liên quan đến tinh chất, hoạt động của một triều đại, cũng như những chính sách trọng yeu cua Nha nước đã được thi hành. Châu ban triều Nguyễn gồm công văn do các bộ, nha, các địa phương. gửi lên triều đình, nhà vua trực tiếp xem và dùng bút son phê duyệt. Có những nội dung được phê duyệt trở thành quy định, chính sách của Nhà nước.
Trong số các châu bản đó có những văn bản liên quan đến hoạt động quản lý, khai thác biển đảo của triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí (được biên soạn dưới triều vua Tự Đức) là bộ sách địa lý học Việt Nam day đủ nhất dưới thời nhà nước quân chủ Việt Nam. Bộ sách không chỉ ghi chép những kiến thức về địa lý của đất nước từ Lạng Sơn đến Hà Tiên mà còn cung cấp những tư liệu quý về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn học nghệ 17 thuật. Dai Nam nhất thống chí cung cấp cho đề tài những tư liệu quý khi ghi chép về hệ thống các đảo, quần đảo với những đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm dân cư.
trên các đảo, quần đảo và hải phận. Đại Nam liệt truyện (tiền biên và chính biên) là bộ sách được Quốc sử quán triều Nguyễn khởi soạn từ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đến năm Duy Tân thứ 3 (1909). Sách chép về tiểu sử, sự nghiệp của các vị hậu phi, hoàng tử, công chúa, các bề tôi trung thành với chúa Nguyễn, quan lại có công với triều Nguyễn, những người tiết nghĩa. Trong sách cũng chép một số truyện về những người chống lại nhà Nguyễn và một số ghi chép về các tiéu quốc, vương quốc láng giéng, như Thủy Xá, Hỏa Xá, Vạn Tượng, Cao Miên, Xiêm La, Miến Điện.
Đây cũng là một nguồn tư liệu quan trọng, cung cấp nhiều thông tin về việc thực thi quản lý, khai thác biển đảo của các quan lại triều Nguyễn. - Ngoài ra, những tác phẩm do cá nhân quan lại triều Nguyễn biên soạn, các bản điều trần đề nghị cải cách ở nửa cuối thế kỷ XIX của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ.