lời mở đầu của bộ sách có nói mục đích soạn sách bởi: “Nước có chính sử, ghi chép công tốt, để lại lâu dài. […]; cho nên chép theo việc ghi truyện thực, để truyền lại đời sau, tỏ rõ công lao từ đây” [79, tr. Song vượt lên trên đó, Đại Nam thực lục là nguồn tài liệu quý giá để nghiên cứu về nhà Nguyễn nói riêng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và xã hội Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 1558 đến năm 1888 trên tất cả các phương diện chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, tài chính, ngoại giao, khí tượng… Đại Nam thực lục được viết theo thể biên niên, chia thành 2 phần Tiền biên và Chính biên. Đại Nam thực lục tiền biên (còn được gọi là Liệt thánh thực lục tiền biên) ghi chép về sự nghiệp của 9 chúa Nguyễn, bắt đầu từ Thái tổ Gia Dụ hoàng đế Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558 đến hết đời Duệ tông Hiếu định hoàng đế Nguyễn Phúc Thuần (1777).
Đại Nam thực lục tiền biên được khởi soạn năm Tân Mão, (1821), làm xong và hoàn thành việc khắc in năm Giáp Thìn (1844). Tổng tài của bộ sách Đại Nam thực lục tiền biên là Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn. Đại Nam thực lục chính biên ghi chép về lịch sử vương triều Nguyễn, từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỷ, mỗi kỷ là một đời vua1. Kỷ thứ nhất - Đời Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh) từ 1778 đến 1819, gồm 60 quyển và 2 quyển mục lục, được biên soạn từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đến năm Thiệu Trị thứ 7 (1847).
Tổng tài gồm có Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn. Kỷ thứ hai - Đời Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) từ 1820 đến 1840, gồm 220 quyển và 2 quyển mục lục, được biên soạn từ năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đến năm Tự Đức thứ 14 (1861). Tổng tài lần lượt có Trương Đăng Quế rồi đến Phan Thanh Giản. Kỷ thứ ba - Đời Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông) từ 1841 đến 1847, gồm 72 quyển và 2 quyển mục lục.
Sách khắc in năm Tự Đức 32 (1879). Tổng tài gồm có Trương Đăng Quế, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản. Kỷ thứ tư - Đời Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhiệm) từ 1847 đến 1883, gồm 70 quyển và 1 quyển mục lục. Sách được biên soạn xong vào năm Thành Thái 1 Thực tế, Đại Nam thực lục còn phần Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên và Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ.
Trong đó, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên ghi chép về hai đời vua Thành Thái (1889-1907) và Duy Tân (1907-1916) được biên soạn từ năm 1922 đến năm 1942, gồm 29 quyển đóng thành 13 tập với hơn 1. Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ ghi chép về vua Khải Định (1916-1925) được biên soạn từ năm 1932 đến năm 1939, gồm 10 quyển với hơn 1. Hiện nay, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên và Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ đã được Cao Tự Thanh dịch và Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ xuất bản vào năm 2012. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng tài gồm có Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình, Nguyễn Trọng Hợp. Kỷ thứ năm - Năm cuối đời Tự Đức và đời Kiến Phúc (Nguyễn Phúc Ưng Đăng) từ 1883 đến 1885, gồm 8 quyển và 1 quyển mục lục. Sách biên soạn xong vào năm Thành Thái 12 (1900), khắc in xong năm Thành Thái 14 (1902). Tổng tài là Trương Quang Đản.
Kỷ thứ sáu - Đời Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch) và Đồng Khánh (Nguyễn Phúc Ưng Xụy) từ 1885 đến 1888, gồm 11 quyển và 1 quyển mục lục. Sách biên soạn và khắc in xong năm Duy Tân 3 (1909). Tổng tài là Cao Xuân Dục) [46, tr. Hiện nay Đại Nam thực lục còn lưu lại một số bản in dưới dạng bản in chữ Hán và bản in chữ Việt.
Bản in chữ Hán, tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội lưu hai bản in mang ký hiệu A.2772/1-67 là đầy đủ nhất, bản A.27/1- 66 thiếu phần Đệ lục kỷ. Ngoài ra, bản in tiếng Hán của bộ Đại nam thực lục còn được lưu giữ ở Thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ ở Paris, Cộng hòa Pháp, mang ký hiệu MF. Đây là hai bản được sao lại từ bản A., 31x20, do đó cũng thiếu phần Đệ lục kỷ. Từ năm 1961 đến năm 1981 tại Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Ngữ văn và Văn hóa thuộc Đại học Keio đã cho in và xuất bản bộ Đại Nam thực lục với 20 tập, 8.131 trang bằng chữ Hán.
Mặc dù có tên chung là Đại Nam thực lục, nhưng kiểm tra toàn bộ 20 tập cho thấy bộ sách này gồm Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên (từ Đệ nhất kỷ (Gia Long) đến Đệ lục kỷ (Đồng Khánh)), Đại Nam liệt truyện tiền biên và Đại Nam liệt truyện chính biên. Đối với bản tiếng Việt, năm 1962 Viện Sử học cho dịch Đại Nam thực lục. Đây là một công trình dịch thuật đồ sộ của Tổ phiên dịch Viện Sử học với các thành viên như Đào Duy Anh, Phạm Huy Giu, Đỗ Mộng Khương, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nguyễn Doanh Chiên, Ngô Hữu Tạo… Sau 16 năm làm việc (1962-1978), và với 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự hợp tác của Nhà xuất bản Khoa học Xã Hội, Viện Sử học hoàn thành việc dịch và xuất bản trọn bộ Đại Nam thực lục gồm 38 tập. Từ năm 2002 đến năm 2006, Viện Sử học và Nhà xuất bản Giáo dục hợp tác cho tái bản bộ Đại Nam thực lục với 10 tập, trong đó có 9 tập với hơn 9.000 trang nội dung và 1 tập tra cứu.
Là một bộ thông sử của triều Nguyễn, Đại Nam thực lục trình bày về tất cả các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự… của nhà nước Đại Nam. Với tư cách là cơ quan quản lý hành chính cấp trung ương, Vũ khố được trình bày xuyên suốt trong toàn bộ các tập của Đại Nam thực lục từ các vấn đề cơ cấu tổ chức, cơ cấu nhân sự cho đến chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Vũ khố. Minh Mệnh chính yếu Chính yếu là những chính sách thiết yếu của một triều vua lần lượt được phụng tấu và phê chuẩn. Thể loại sách “Chính yếu” có nguồn gốc từ Trung Hoa, ghi chép lại những điều răn dạy, được lấy làm đạo trị nước, hướng cho người dân noi theo.
Minh Mệnh chính yếu là bộ sách lớn do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn nhằm ghi chép những việc quan trọng, thiết yếu của nền chính trị đất nước: hình luật, lễ nhạc, ngoại giao, trị an, khai hoang, khẩn hóa… dưới triều vua Minh Mệnh. Minh Mệnh chính yếu được soạn ra với mục đích “Chính sự thi hành phải có giềng mối, có pháp độ, có thể chế công bằng và ngay thẳng. Nếu giữ vững được yếu chỉ ấy thì chẳng phải khó nhọc bao nhiêu mà trị đạo thành công” [74, tr.8], nên ngay từ ban đầu, triều đình nhà Nguyễn đã ghi chép lại những điều có thực, thiết yếu trong triều đại vua Minh Mệnh, để lấy đó làm mực thước, cho mọi người noi theo. Với cách thức biên soạn “phàm những việc lớn thì nên chép rõ, còn những việc nhỏ chỉ chép lược mà thôi”, và “những việc thuộc triều đại Gia Long, không liên quan đến chính thể thì bỏ”, vì vậy Minh Mệnh chính yếu đề cập một cách khái quát các việc đã xảy ra trong thời kỳ trị vì của vua Minh Mệnh.
Minh Mệnh chính yếu được bắt đầu biên soạn từ năm Đinh Dậu (1837) đến năm Canh Tý (1840) gồm 25 quyển với 22 thiên, ghi chép các chính sách quan trọng dưới triều Minh Mệnh. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo thống kê trong tập II sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - thư mục đề yếu, bản chữ Hán sách Minh Mệnh chính yếu gồm có 7 bản, được lưu trữ ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Thư viện Khoa học và Thư viện của trường Viễn Đông Bác Cổ, Paris, Cộng hòa Pháp, mang các ký hiệu: 1) VHv. Hiện nay, bản dịch tiếng Việt sách Minh Mệnh chính yếu có 2 bản: 1) Bản thứ nhất do Ủy ban Dịch thuật của Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên của chính phủ Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam xuất bản từ năm 1972 đến năm 1974. Bộ sách này gồm 6 tập1.
2) Năm 1994, Nhà xuất bản Thuận Hóa đã dựa vào bản dịch của Ủy ban Dịch thuật do Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên xuất bản năm 1972-1974 ở Sài Gòn, để hiệu chỉnh lại và in thành 3 tập2. Năm 2009, Nhà xuất bản Thuận Hóa đã cho tái bản thành và đóng thành 1 cuốn sách với hơn 2125 trang sách (bao gồm cả chữ Hán và chữ tiếng Việt), khổ 24x16. Trong 22 thiên với 25 quyển của Minh Mệnh chính yếu, Vũ khố được trình bày ở các thiên thứ 6 (kiến quan), quyển 4; thiên thứ 7 (cần chánh), quyển 5; thiên thứ 10 (sùng kiệm), quyển 10; thiên thứ 13 (chế binh), quyển 14; thiên thứ 14 (thận 1 6 tập bao gồm: Tập I: từ quyển 1 đến quyển 4, gồm 224 trang tiếng Việt và 407 trang chữ Hán, khổ 26x15, do Hoàng Du Đồng, Hà Ngọc Xuyển dịch. Tập II: từ quyển 5 đến quyển 7, gồm 146 trang tiếng Việt và 364 trang chữ Hán, khổ 26x15, do Vũ Quang Khanh và Võ Khắc Văn dịch.
Tập III: từ quyển 8 đến quyển 13, gồm 309 trang tiếng Việt và 422 trang chữ Hán, khổ 26x15, do Võ Khắc Văn và Lê Phục Thiện dịch. Tập IV: từ quyển 14 đến quyển 17, gồm 213 trang tiếng Việt và 246 trang chữ Hán, khổ 26x15, do Đào Vũ Luyện và Thiện Trai Hồ Tánh dịch. Tập V: từ quyển 18 đến quyển 21, gồm 217 trang tiếng Việt và 362 trang chữ Hán, khổ 26x15, do Hà Ngọc Xuyển và Đào Vũ Luyện dịch. Tập VI: từ quyển 22 đến quyển 25, gồm 397 trang tiếng Việt và 332 trang chữ Hán, khổ 26x15, do Hoàng Văn Hòe và Nguyễn Quang Tô dịch.
2 3 tập gồm: Tập I: từ quyển 1 đến quyển 7, 374tr., khổ 22x14 Tập II: từ quyển 8 đến quyển 17, 475tr., khổ 22x14 Tập III: từ quyển 18 đến quyển 25, 412tr. 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình), quyển 16; thiên thứ 15 (tài chánh và thuế khóa), quyển 17; thiên thứ 16 (pháp độ), quyển 18.