Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu phương pháp xác định lượng vết một số dạng asen trong mẫu huyết thanh bằng phương pháp ghép nối hplc icp ms

Luận văn thạc sĩ phân tích hus nghiên cứu phương pháp xác định lượng vết một số dạng asen trong mẫu huyết thanh bằng phương, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp

Chuyên ngành

Hóa Phân Tích

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

100
7
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quang về Asen

1.2. Trạng thái và nguồn gốc Asen trong tự nhiên

1.3. Asen trong hệ sinh thái

1.4. Độc tính và cơ chế gây độc của Asen

1.5. Các phương pháp phân tích Asen

1.5.1. Phương pháp điện di mao quản (CE)

1.5.2. Phương pháp điện hóa

1.5.3. Phương pháp quang phổ phát xạ nguyên tử nguồn cảm ứng cao tần plasma (ICP-AES)

1.5.4. Phương pháp khối phổ nguyên tử nguồn ion hóa cảm ứng cao tần plasma (ICP-MS)

1.5.5. Phương pháp Sắc kí lỏng hiệu năng cao ghép nối với hệ Hydrua quang phổ huỳnh quang nguyên tử (HPLC – UV – HG – AFS)

1.5.6. Phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao ghép nối với hệ quang phổ hấp thụ nguyên tử sử dụng kĩ thuật hydrua hóa (HPLC-HG-AAS)

1.5.7. Phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao ghép nối với cảm ứng cao tần và quang phổ phát xạ nguyên tử (HPLC – ICP – AES)

1.5.8. Sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp quang phổ cảm ứng cao tần Plasma HPLC – ICP/MS

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. Hóa chất, dụng cụ, thiết bị

2.2. Chuẩn bị hóa chất và dung dịch chuẩn

2.3. Thiết bị thí nghiệm

2.4. Điều kiện phân tích 75As trên hệ ICP/MS

2.5. Phương pháp lấy mẫu, bảo quản mẫu phân tích

2.5.1. Lấy mẫu và tiền xử lý mẫu

2.5.2. Bảo quản mẫu

2.6. Phương pháp phân tích HPLC – ICP/MS

2.6.1. Phương pháp khảo sát điều kiện tối ưu

2.6.2. Đánh giá phương pháp phân tích

2.6.3. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu tối ưu hóa các điều kiện trên hệ thống HPLC

3.1.1. Lựa chọn cột tách

3.1.2. Khảo sát thời gian lưu của các dạng Asen trên cột tách

3.1.3. Khảo sát lựa chọn pha động

3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của các Ion cản trở đến quá trình phân tích dạng Asen

3.2.1. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Ion Cl-

3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng kim loại Ca, Mg, Fe

3.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của cacbon trong pha động tới cường độ tín hiệu Asen

3.3. Tối ưu hóa quá trình xử lý mẫu huyết thanh

3.4. Xác nhận giá trị sử dụng của phương pháp phân tích dạng

3.4.1. Xây dựng đường chuẩn xác định 5 dạng Asen

3.4.2. Giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng và độ lặp lại

3.5. Ứng dụng phân tích mẫu thực tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về phương pháp xác định asen trong huyết thanh bằng HPLC ICP MS

Phương pháp xác định asen trong huyết thanh bằng HPLC-ICP/MS đang trở thành một trong những kỹ thuật phân tích tiên tiến nhất hiện nay. HPLC (Sắc ký lỏng hiệu năng cao) kết hợp với ICP/MS (Khối phổ nguồn plasma cảm ứng cao tần) cho phép xác định chính xác các dạng asen trong mẫu huyết thanh. Phương pháp này không chỉ đảm bảo độ nhạy cao mà còn cho phép phân tích nhiều dạng asen khác nhau trong cùng một mẫu, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng sức khỏe của con người.

1.1. Tầm quan trọng của việc xác định asen trong huyết thanh

Việc xác định asen trong huyết thanh là rất quan trọng để đánh giá mức độ phơi nhiễm và độc tính của asen đối với sức khỏe con người. Asen có thể gây ra nhiều bệnh lý nghiêm trọng, bao gồm ung thư và các bệnh về da. Do đó, việc phát hiện sớm và chính xác các dạng asen trong huyết thanh giúp đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.

1.2. Các dạng asen phổ biến trong huyết thanh

Trong huyết thanh, các dạng asen phổ biến bao gồm As(III), As(V), DMA, MMA và AsB. Mỗi dạng asen có đặc điểm và độc tính khác nhau, do đó việc phân tích chính xác các dạng này là cần thiết để hiểu rõ hơn về tác động của chúng đối với sức khỏe.

II. Thách thức trong việc xác định asen trong huyết thanh

Mặc dù phương pháp HPLC-ICP/MS mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc xác định asen trong huyết thanh. Các yếu tố như sự can thiệp của các ion khác, điều kiện môi trường và quy trình chuẩn bị mẫu có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của kết quả phân tích.

2.1. Sự can thiệp của các ion khác trong mẫu

Các ion như Ca, Mg, và Fe có thể gây ra sự can thiệp trong quá trình phân tích asen. Điều này có thể dẫn đến kết quả không chính xác nếu không được kiểm soát chặt chẽ. Việc tối ưu hóa điều kiện phân tích là cần thiết để giảm thiểu sự can thiệp này.

2.2. Quy trình chuẩn bị mẫu phức tạp

Quy trình chuẩn bị mẫu huyết thanh để phân tích asen thường phức tạp và yêu cầu nhiều bước. Việc không tuân thủ đúng quy trình có thể dẫn đến sai sót trong kết quả phân tích. Do đó, việc đào tạo kỹ thuật viên và chuẩn hóa quy trình là rất quan trọng.

III. Phương pháp phân tích asen bằng HPLC ICP MS

Phương pháp HPLC-ICP/MS được sử dụng để phân tích asen trong huyết thanh với độ nhạy và độ chính xác cao. Quy trình này bao gồm các bước tách chiết, phân tích và xác định các dạng asen. Việc tối ưu hóa các điều kiện phân tích là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất.

3.1. Quy trình tách chiết mẫu huyết thanh

Quy trình tách chiết mẫu huyết thanh bao gồm việc sử dụng các dung môi phù hợp để chiết xuất asen. Các yếu tố như pH, nhiệt độ và thời gian chiết xuất cần được tối ưu hóa để đảm bảo hiệu suất thu hồi cao nhất.

3.2. Điều kiện phân tích tối ưu trên hệ HPLC ICP MS

Điều kiện phân tích như loại cột tách, pha động và tốc độ dòng cần được tối ưu hóa để đạt được độ nhạy và độ chính xác cao nhất trong việc xác định các dạng asen. Việc khảo sát các điều kiện này sẽ giúp cải thiện kết quả phân tích.

IV. Ứng dụng thực tiễn của phương pháp HPLC ICP MS trong nghiên cứu asen

Phương pháp HPLC-ICP/MS không chỉ được áp dụng trong nghiên cứu mà còn trong thực tiễn lâm sàng để theo dõi mức độ asen trong huyết thanh của bệnh nhân. Kết quả phân tích có thể giúp các bác sĩ đưa ra chẩn đoán và điều trị kịp thời cho bệnh nhân.

4.1. Kết quả nghiên cứu từ các mẫu huyết thanh thực tế

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều bệnh nhân có mức độ asen trong huyết thanh vượt quá giới hạn cho phép. Việc phân tích các mẫu huyết thanh thực tế giúp xác định mối liên hệ giữa mức độ asen và các bệnh lý liên quan.

4.2. Tác động của asen đến sức khỏe con người

Asen có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, bao gồm các bệnh về da, ung thư và các vấn đề về hô hấp. Việc theo dõi mức độ asen trong huyết thanh là cần thiết để đánh giá nguy cơ và đưa ra các biện pháp phòng ngừa.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu asen

Nghiên cứu về phương pháp xác định asen trong huyết thanh bằng HPLC-ICP/MS mở ra nhiều triển vọng cho việc theo dõi sức khỏe cộng đồng. Việc phát triển và hoàn thiện các phương pháp phân tích sẽ giúp nâng cao độ chính xác và độ tin cậy trong việc xác định asen.

5.1. Tương lai của nghiên cứu asen trong huyết thanh

Nghiên cứu về asen trong huyết thanh sẽ tiếp tục được mở rộng với sự phát triển của các công nghệ phân tích mới. Điều này sẽ giúp cải thiện khả năng phát hiện và theo dõi asen trong các mẫu sinh học.

5.2. Đề xuất các nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá tác động của asen đến sức khỏe con người và phát triển các biện pháp can thiệp hiệu quả. Việc hợp tác giữa các nhà khoa học và cơ quan y tế sẽ là chìa khóa để giải quyết vấn đề này.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus nghiên cứu phương pháp xác định lượng vết một số dạng asen trong mẫu huyết thanh bằng phương pháp ghép nối hplc icp ms

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I – TỔNG QUAN 1.1 Tổng quang về Asen 1.1 Trạng thái và nguồn gốc Asen trong tự nhiên Asen (ký hiệu hóa học là As), số hiệu nguyên tử Z = 33, khối lượng nguyên tử 74,92159 đv. Trong Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, Asen thuộc nhóm VA, chu kỳ 4. Trong tự nhiên Asen không tồn tại dạng đơn chất mà ở dạng hợp chất, nó có thể kết hợp với nhiều kim loại và phi kim khác nhau để tạo ra các hợp chất vô cơ, hữu cơ, tồn tại nhiều nhất trong các trầm tích, khoáng vật tự nhiên đặc biệt là quặng sunfua. Asen là nguyên tố phổ biến, nó có mặt ở khắp mọi nơi trong khí quyển, nước, đất, trong trầm tích cũng như trong sinh vật.

Về mức độ phổ biến thì Asen được xếp thứ 20 trong tự nhiên với hàm lượng trung bình 1,5 – 2mg/kg, chiếm 1,2 – 4,0 % tổng nguyên tử trong vỏ trái đất [7], thứ 14 trong nước biển và thứ 12 trong cơ thể con người [76]. Asen rất dễ bị biến đổi với nhiều dạng khác nhau thông qua khí quyển, đất, nước, sinh vật trước khi sa lắng thành trầm tích. Nguyên nhân một phần do tự nhiên, một phần do chính tác động của con người. Theo thống kê các tác nhân tự nhiên và con người đóng góp 60:40 vào sự lắng đọng Asen, trong khi đó có một số báo cáo ước tính được là 30:70 [60].

Do đó cần có cơ chế đặc thù để kiểm soát việc tích tụ và chuyển hóa asen trong môi trường. Asen tồn tại và phân bố rộng trong tự nhiên, phần lớn Asen tồn tại trong địa quyển ở dạng khoáng phân tán, là thành phần chính trong hơn 200 khoáng chất, hầu hết trong số đó là quặng khoáng sản hoặc các sản phẩm phong hóa của chúng. Một số nghiên cứu cho thấy Asen cũng có nhiều trong than đá với hàm lượng tương đối cao, ví như ở Mỹ hàm lượng trung bình trong than đá là 1 – 10mg/kg, ở Séc là 1500mg/kg. Còn trong trầm tích tự nhiên là < 10mg/kg trọng lượng khô [7].

Ngoài ra Asen còn được tìm thấy trong hơn 245 khoáng chất, trong đó 60% là dạng Asenat, 20% là dạng sunfua và muối sunfua, 20% là dạng Asenua, Asenit, oxit và nguyên tố. Khoáng vật phổ biến nhất là Asenopyrit (FeAsS) [9]. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Không chỉ có trong các khoáng vật, Asen còn đi vào trong nước một cách có chọn lọc, nó phụ thuộc vào các yếu tố như pH, khả năng oxi hóa khử. Nhờ quá trình phong hóa, tác động của các yếu tố khách quan môi trường,…Asen từ trong các khoáng vật bị phân hủy đưa vào môi trường nước, trải qua quá trình sa lắng, trầm tích Asen đi vào môi trường đất, chuyển vào vật trung gian như động thực vật và vào cơ thể con người.

Bên cạnh đó Asen xuất hiện trong môi trường là do quá trình công nghiệp, khai thác khoáng sản, các hoạt động nông nghiệp cũng như sản phẩm phụ của quá trình đốt than. Theo Nriagu và Pacyna [40] ước tính thì tổng lượng Asen đầu vào có nguồn gốc không tự nhiên khoảng 64000 – 132000 tấn mỗi năm tác động lên môi trường đất. Asen lần đầu tiên được biết đến bởi Albertus Magnus (Đức) vào năm 1250 thế kỷ thứ XIII, nó được dùng như một chất độc giết người nhưng cũng là một phương thuốc chữa bệnh trong dân gian. Cho tới thế kỷ 20 thì Asen đã được sản xuất, dùng rộng rãi trong nông nghiệp, công nghiệp và cả y học.

Sản lượng Asen trên thế giới ước tính vào khoảng 7500-10300 tấn mỗi năm, trong đó quốc gia Thụy Điển đứng đầu về việc sản xuất Asen và Hoa Kỳ là quốc gia tiêu thụ Asen lớn nhất thế giới với một nửa lượng Asen sản xuất ra được dùng để cung cấp cho quốc gia này [31]. Lượng asen sản xuất ra chủ yếu được phục vụ cho nhu cầu công nghiêp và nông nghiệp là chính, bên cạnh đó số ít asen được ứng dụng vào trong y học. Năm 1940 Asen hữu cơ được dùng làm thuốc chữa bệnh. Loại được biết nhiều nhất những năm đó là Salvarsan (Asen phenamin) dùng để trị bệnh giang mai và một số bệnh lây nhiễm qua đường tình dục [56].

Ngày nay Asen vẫn được dùng như tác nhân chống ký sinh trùng trong thú y và trong các phương thuốc dân gian. Gần đây, các nhà khoa học còn nghiên cứu Asen trioxit để điều trị bệnh bạch cầu máu. Lượng asen dùng trong nông nghiệp chủ yếu là sản xuất các chế phẩm thuốc trừ sâu. Từ những năm 1970 tại Hoa Kỳ người ta đã biết dùng muối Natri asenit để kiểm soát cỏ dại thủy sinh, dù rằng phát kiến đó cũng đã gây ra không ít hậu quả xấu và tiềm tàng nguy cơ gây mất an toàn nhưng nó cũng là một phát kiến lớn có giá trị ngay thời bấy giờ.

Do tính chất độc hại của Asen nên hiện nay tổng lượng Asen dùng trong 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nông nghiệp đang giảm dần ở các nước đang phát triển và tiến tới loại bỏ hoàn toàn ở các nước phát triển. Asen được ứng dụng nhiều vào những năm đầu thế kỷ 20 nhưng phần lớn đã được thay thế bởi Asen hữu cơ để giảm thiểu tính độc hại. Mức độ độc hại của asen vô cơ và hữu cơ là khác nhau, ảnh hưởng của Asen phụ thuộc nhiều vào tính chất lý, hóa, độ độc, dạng và sự chuyển hóa cũng như biến đổi sinh học qua lại của các dạng Asen [64]. Do đó việc xây dựng, nghiên cứu các phương pháp, quy trình phân tích dạng Asen trong các đối tượng khác nhau đã trở thành đề tài cần thiết và cũng là thách thức cho các nhà khoa học trong nghiên cứu môi trường, sức khỏe tại các nước chậm phát triển và đang phát triển, trong đó có Việt Nam.2 Asen trong hệ sinh thái 1.1 Asen trong đất Hàm lượng của As tự nhiên trong đất phụ thuộc vào loại đất, đá, hàm lượng bình thường từ 1-40µg As/g [31].

Nói chung, hàm lượng asen trong đất không bị ô nhiễm và không được xử lý hiếm khi vượt quá 10µg/g. Hàm lượng Asen cao thường được tìm thấy trong đất phèn do sự phong hóa của pyrit. Nồng độ Asen trong pyrit, chalcopyrit, galena và marcasit có thể rất khác nhau nhưng có khả năng đạt tới vài % trọng lượng nếu đất đó được hình thành là sản phẩm phong hóa của khoáng chất sunfua, khoáng chất oxit và các oxit kim loại màu [62]. Ở các khu vực nông nghiệp, dư lượng asen có thể tích lũy tới 600µg/g.

Đất ô nhiễm cao có thể là đất trong khu vực của các nhà máy khai thác hoặc các nhà máy nhiệt điện dùng than thì nồng độ có thể lên tới hơn 1000µg/g [28]. Khả năng biến đổi của asen là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa đất và dung dịch đất với tác động của phản ứng oxi hóa khử, độ pH, kích thước hạt, hàm lượng chất hữu cơ, khả năng phong hóa của khoáng sản và các ion cạnh tranh [29]. Asen trong đất chủ yếu là asenat. Tuy nhiên, axit arsenic là dạng chiếm ưu thế trong điều kiện đất xấu [31].

Các điều kiện đất khác nhau cũng có thể dẫn đến một sự thay đổi trong trạng thái oxi hóa hoặc dễ bị methyl hóa bởi hoạt động của vi sinh vật. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Asen trong nước Nồng độ asen trong nước ngọt thay đổi theo các cấp độ khác nhau, tùy thuộc vào nguồn Asen, lượng có sẵn và môi trường địa hoá, hàm lượng Asen an toàn trong nước uống là 0,01mg/L (< 10ppb). Trong điều kiện tự nhiên, phạm vi lớn nhất và nồng độ asen cao nhất được tìm thấy trong nước ngầm do ảnh hưởng mạnh mẽ của tương tác nước - đá và điều kiện địa lý thuận lợi cho việc phân giải và tích lũy Asen. Hàm lượng Asen trong nước ngầm phụ thuộc nhiều vào môi trường và tính chất địa hóa của nơi ấy.

Ở những vùng trầm tích núi lửa lớn, hay một số khu vực mỏ dầu khí, mỏ than hay có nhiều quặng,…thường giàu Asen hơn nơi khác. Hàm lượng Asen trong nước ngầm thông thường dao động từ <0,5 đến 10µg/L nhưng nồng độ cũng có thể lên tới 370µg/L như đã được báo cáo ở Wyoming và Montana là kết quả của vùng núi lửa từ hệ thống núi lửa Yellowstone [30]. Người ta có thể quan sát thấy sự thay đổi theo mùa trong nồng độ Asen. Theo nghiên cứu của Hong Li, Ronald B Smart cho biết tỉ lệ As(III) so với As(V) có thể dao động từ 0,1 : 1 – 10:1 tùy từng vùng và tùy từng mùa khác nhau [63].

Trong nước biển hàm lượng trung bình của Asen là khoảng 2µg/L, trong khi ở nước ngọt thì hàm lượng asen có thể dao động từ 0,4 - 80µg/L [68]. Nước mặt thường có độ pH và kiềm cao cho thấy nồng độ Asen tự nhiên dao động từ 21,8 - 190µg/L. Nồng độ lên tới 556µg/L trong báo cáo được tìm thấy ở các dòng suối liền kề với các mỏ than khoáng sản ở British Columbia [31]. Nguyên nhân sự gia tăng đáng kể nồng độ Asen của nước là do ô nhiễm từ nước thải công nghiệp hoặc từ chất thải của nhà máy hoặc chất thải khai thác mỏ hoặc thuốc diệt cỏ.

Ngoài ra quá trình Methyl hóa asen vô cơ tạo ra methyl và dimethyl asen bởi các hoạt động của vi sinh vật trong nước hay một số sinh vật biển cũng có khả năng biến đổi asen vô cơ thành hợp chất asen hữu cơ, như arsenobetaine, arsenocholine và arsoniumphospholiphid [69] cũng là nguyên nhân làm tăng hàm lượng Asen trong nước.3 Asen trong không khí Hiện tượng tự nhiên (phong hóa, hoạt động sinh học và hoạt động núi lửa) cũng như các nguồn nhân tạo (hoạt động nấu chảy, đốt nhiên liệu hóa thạch, thuốc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trừ sâu) giải phóng Asen vào khí quyển. Asen có mặt trong không khí chủ yếu ở dạng hạt Asen trioxit. Hàm lượng asen đo ở vùng sâu vùng xa hoặc nông thôn dao động từ 0,02 - 4 ng/m3[62], tại các khu vực đô thị, dao động 3-200 ng/m3. Ở vùng lân cận quanh các khu công nghiệp hàm lượng cao hơn nhiều (> 1000 ng/m3) [15].

Việc nấu chảy quặng và đốt than làm tăng nồng độ Asen theo các cấp độ khác nhau và nồng độ có thể lên tới 16µg/L con số này đã được tìm thấy trong lượng nước mưa xuống của một lò luyện đồng [39]. Những con số minh chứng này có thể cho chúng ta thấy rằng trong không khí, nguồn khói bụi cũng đóng góp một phần đáng kể lượng Asen trong đất, nước, mà nguyên nhân của lượng Asen trong không khí này lại bắt nguồn phần lớn do các hoạt động của con người mà ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu phương pháp xác định asen trong huyết thanh bằng HPLC-ICP/MS" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về quy trình phân tích asen trong huyết thanh, một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe con người. Phương pháp HPLC-ICP/MS được trình bày trong nghiên cứu này không chỉ đảm bảo độ chính xác cao mà còn giúp phát hiện nồng độ asen ở mức rất thấp, từ đó hỗ trợ trong việc chẩn đoán và theo dõi các bệnh liên quan đến độc tố này.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp phân tích hóa học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật hóa học phát triển phương pháp phân tích xác định đồng thời esomeprazole và naproxen trong thuốc bằng phương pháp hplcuv, nơi trình bày một phương pháp sắc ký lỏng khác. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu xây dựng quy trình định lượng mangiferin trong cây tri mẫu bằng phương pháp hplc cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ứng dụng của HPLC trong phân tích các hợp chất tự nhiên. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ khoa học phương pháp sắc ký lỏng khối phổ lcmsms xác định dư lượng một số kháng sinh nhóm sulfonamides trong thịt gia súc gia cầm, tài liệu này sẽ cung cấp cái nhìn về việc áp dụng công nghệ sắc ký trong phân tích thực phẩm.

Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp phân tích hóa học, mở rộng kiến thức và ứng dụng trong thực tiễn.