ĐẶT VẤN ĐỀ Cây rau đắng biển còn được gọi là cây ruột gà, sam trắng có tên khoa học Bacopa monnieri (L), thuộc họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) [5], [ 7]. Từ lâu cây rau đắng biển đã được sử dụng làm rau ăn ở các vùng nông thôn, đặc biệt loài thực vật này đã được biết đến ở Ấn Độ hơn 3000 năm trong việc kích thích bảo vệ trí nhớ và được sử dụng như một thuốc bổ thần kinh, tăng cường nhận thức [18]. Việc nghiên cứu cây rau đắng biển, về thành phần hóa học và tác dụng sinh học đã được tiến hành rộng rãi trên thế giới. Một số tác dụng sinh học của rau đắng biển có thể kể đến như an thần, chống trầm cảm, cải thiện trí nhớ, chống oxy hóa, chống động kinh.
Vì các tác dụng của nó, việc sử dụng rau đắng biển và các chế phẩm từ rau đắng biển đang trở nên phổ biến hơn. Các chế phẩm từ rau đắng biển đang lưu hành trên thị trường chủ yếu ở dạng cao dược liệu, viên nén, viên nang. Tuy nhiên, cao chiết của loài cây này có vị rất đắng khiến cho rất nhiều chế phẩm (viên nén, siro) không thuận tiện cho người sử dụng, làm giảm sự tuân thủ và hiệu quả điều trị, đặc biệt trên đối tượng người cao tuổi và trẻ em. Từ hiện trạng trên, việc nghiên cứu bào chế một chế phẩm sử dụng cho đường uống hạn chế được vị đắng từ cao rau đắng biển là rất cần thiết.
Do đó, đề tài “Nghiên cứu phương pháp bào chế che vị đắng của cao rau đắng biển” được thực hiện với mục tiêu: 1. Đánh giá được ảnh hưởng của các yếu tố thuộc công thức và kỹ thuật đến một số chỉ tiêu chất lượng của vi hạt che vị chứa cao rau đắng biển. Đề xuất được một số chỉ tiêu chất lượng cho vi hạt. Bước đầu ứng dụng vi hạt để bào chế cốm pha hỗn dịch.
Đề xuất được một số chỉ tiêu chất lượng cho cốm bào chế được. Tổng quan về rau đắng biển 1. Tên gọi, vị trí phân loại Cây rau đắng biển (RĐB) có tên khoa học là Bacopa monnieri (L.) Wettst, Họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) [5]. Vị trí phân loại của cây RĐB như sau [34]: Giới : Thực vật (Planta) Ngành : Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp : Ngọc lan (Magnoliophyta) Bộ : Hoa Môi (Lamiales) Họ : Hoa mõm chó (Scrophulariaceae) Chi : Bacopa Loài : Bacopa monnieri (L.
Đặc điểm thực vật và phân bố Cây thảo, sống lâu năm, cao 10 – 20 cm. Thân nhẵn, phần gốc mọc bò, bén rễ ở những mấu, phần trên mọc đứng [4]. Lá mọc đối, không cuống, hình trái xoan, dài 8 – 12 mm, rộng 3 – 5 mm, gốc thuôn, đầu tù, hai mặt nhẵn, chỉ gân giữa rõ [4]. Hoa màu trắng, mọc đơn độc ở kẽ lá trên một cuống dài.
Năm lá đài không đều, tràng dài gấp hai lần đài, 5 cánh gần bằng nhau; nhị 4, chỉ nhị nhẵn [4]. Quả nang, hình trứng, có đài, hạt nhỏ, có cánh. Mùa hoa quả từ tháng 4 – 9 [5], [ 7]. Cây rau đắng biển phân bố rộng rãi từ vùng Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào đến các nước Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, cây phân bố khắp cả vùng đồng bằng và trung du miền Bắc và miền Nam [4]. Bộ phận dùng: phần trên mặt đất, dùng tươi hoặc phơi khô [4]. Thành phần hóa học Thành phần hóa học của rau đắng biển gồm các saponin, flavonoid, alcaloid, sterol. Trong đó saponin là thành phần chính liên quan đến tác dụng sinh học của rau đắng biển.
❖ Saponin triterpenoid Thành phần chính liên quan trực tiếp đến tác dụng sinh học của rau đắng biển là saponin triterpenoid thuộc nhóm dammaran với phần 2 khung aglycones chính là jujubogenin và pseudojujubogenin được gọi chung là “bacoside”. Hai khung aglycones chính của saponin phân lập từ Bacopa monnieri Các saponin quan trọng được tìm thấy trong rau đắng biển bao gồm bacoside A1, bacoside A2, bacoside A3, các bacopasaponin A – G, bacopaside I – VIII, bacopaside N1, bacopaside N2 và bacopaside X [24], [ 25]. Bacoside A và bacoside B: Bacoside A là thành phần hóa học có tác dụng lên hoạt động của hệ thần kinh, tác dụng hướng thần, chống lại chứng mất trí nhớ [26]. Các nghiên cứu sâu hơn về bacoside A đã cho thấy bacoside A là hỗn hợp của 4 saponin, bao gồm: bacoside A3, bacoside II, bacopasaponin C và một jujubogenin là đồng phân của bacopasaponin C (hay còn gọi là bacopaside X) [12], [ 21].
Các thành phần của bacoside A 3 Bacoside B được phát hiện cùng với bacoside A. Trước đây, người ta cho rằng bacoside B chỉ khác với bacoside A ở phần đường thể hiện khả năng quay cực và có thể là một đồng phân của bacoside A. Tuy nhiên, sau đó các nhà khoa học đã chỉ ra bacoside B là hỗn hợp của 4 bacosides gồm: bacopaside N1, bacopaside N2, bacopaside IV và bacopaside V [11], [ 15]. Các thành phần của bacoside B ❖ Các thành phần khác Flavonoid: nghiên cứu của Aiyalu Rajasekaran và cộng sự đã tách và định lượng được đồng thời luteolin và apigenin từ cây rau đắng biển bằng phương pháp HPLC [23].
Alcaloid: các nghiên cứu đầu tiên đã phân lập được một alcaloid từ rau đắng biển đó là brahmin. Sau đó các alcaloid khác như nicotin và herpestin cũng đã được phân lập [8], [ 18]. Ngoài ra, người ta còn phân lập được D-mannitol, các muối kali [8] các hydrocacbon bão hòa như heptacosan, octacosan, nonacosan, triaconnan, hentaconan và nhiều hợp chất hữu cơ khác như acid brahmic, acid ascorbic. Công dụng và tác dụng dược lý của rau đắng biển ❖ Công dụng trong dân gian Rau đắng biển có vị đắng, tính mát, có tác dụng kích thích thần kinh, trợ tim, thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, nhuận tràng [4].
Rau đắng biển được dùng để chữa suy nhược thần kinh, mất trương lực cơ, động kinh, thao cuồng, mất tiếng, viêm phế quản cấp, ho hen. Ngoài ra, còn chữa bí tiểu, viêm gan, thấp khớp, rắn cắn và bệnh ngoài da. Ngày dùng 6 – 12 g dạng thuốc sắc [4]. 4 ❖ Một số nghiên cứu về tác dụng dược lý B.
monnieri đã được sử dụng từ lâu để hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường nhận thức, điều trị rối loạn thần kinh và cải thiện chức năng hô hấp [18]. Toàn cây và các hợp chất đã được phân lập, đặc biệt là saponin, đã được nghiên cứu sâu rộng về các tác dụng dược lý, bao gồm một số thử nghiệm lâm sàng để minh chứng cho tác dụng này. Tác dụng trên thần kinh: nghiên cứu của Nongnut Uabundit và cộng sự cho thấy cao chiết cồn RĐB có tác dụng kích thích nhận thức và bảo vệ thần kinh trên mô hình bệnh Alzheimer gây ra bởi ion ethylcholine aziridinium [33]. Nghiên cứu của Neetu Saini sử dụng mô hình gây suy giảm trí nhớ bởi colchicin, bằng cách tiêm colchicin vào não chuột cống gây rối loạn nhận thức, được đánh giá bởi mê lộ chữ thập, để đánh giá tác dụng bảo vệ thần kinh của rau đắng biển.
Chuột được tiêm colchicin, do đó bị giảm các enzym chống oxy hóa. Nhóm chuột uống rau đắng biển giảm đáng kể tổn thương oxy hóa, thể hiện ở giảm mức độ peroxy hóa lipid và nồng độ protein carbonyl và sự phục hồi của các enzym chống oxy hóa. Hoạt tính của các enzym Na+K+ATPase và acetylcholinesterase (AChE) bị suy giảm ở vùng não của nhóm chuột bị tiêm colchicin, trong khi nhóm chuột được uống rau đắng biển có khả năng hồi phục hoạt tính của các enzym về mức tương đương ở nhóm chứng. Kết quả cho thấy, rau đắng biển có tiềm năng trong điều trị bệnh suy giảm nhận thức liên quan đến Alzheimer [25].
Nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự đã nghiên cứu một số tác dụng dược lý của cao chiết cồn RĐB, kết quả cho thấy RĐB có tác dụng chống oxy hóa in vitro, chống stress, cải thiện khả năng học tập và nhận thức trên chuột bị gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin [3]. Tác dụng chống trầm cảm: cao chiết và một số hoạt chất của RĐB, bao gồm bacopaside I, bacopaside II và bacopasaponin C đã được báo cáo có tác dụng chống trầm cảm trên mô hình chuột bơi cưỡng bức và mô hình treo đuôi chuột [36]. Nghiên cứu gần đây của Chatterjee và cộng sự cũng đã chứng minh RĐB ở liều dùng 80 mg/kg có tác dụng chống lại rối loạn cả trầm cảm và lo lắng [9]. Những kết quả này gợi ý rằng RĐB có tiềm năng để điều trị bệnh trầm cảm.
Tác dụng chống oxy hóa: Tripathi YB và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng phân đoạn chiết xuất cồn và hexan của B. monneri đối với quá trình peroxy hóa lipid của FeSO4 và hydroperoxid. Kết quả được so sánh với các chất chống oxy hóa đã biết tris, EDTA và vitamin E. Tác dụng chống oxy hóa tự nhiên cũng được kiểm tra đối với hàm lượng glutathione trong gan.
Cơ chế chống oxy hóa của chiết xuất B. monnieri có thể là khử kim loại ở cấp độ bắt đầu và cũng có thể là tác nhân ngắt dây chuyền. Kết quả cho thấy, B. monnieri là một chất chống oxy hóa mạnh.
Tác dụng chống oxy hóa của B. monnieri phụ thuộc vào liều lượng. Trong điều kiện thử nghiệm 100 µg chiết xuất B. monnieri trong cồn tương đương với 247 µg EDTA (0,66 µM) và 58 µg vitamin E [32].
5 Tác dụng chống khối u: Tirtha Ghosh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu để kiểm tra hoạt tính kháng u của stigmasterol - một phytosterol được phân lập từ các bộ phận trên mặt đất của Bacopa monnieri chống lại ung thư biểu mô cổ trướng Ehrlich (EAC) ở chuột bạch tạng Thụy Sỹ. Kết quả cho thấy stigmasterol làm giảm thể tích khối u, dung tích hồng cầu và số lượng tế bào sống sót, tăng thời gian sống sót trung bình, do đó làm tăng tuổi thọ của chuột mang khối u EAC. Các chỉ số huyết học trở lại gần mức bình thường ở những con chuột được điều trị bằng stigmasterol [16]. Tác dụng trên tiêu hóa: nghiên cứu của R.Goel và cộng sự cho thấy chiết xuất của Bacopa monnieri có tác dụng tăng cường các yếu tố bảo vệ niêm mạc như tăng tiết mucin, tăng tuổi thọ của tế bào niêm mạc và tăng tác dụng chống oxy hóa.
Chiết xuất của Bacopa monnieri ở liều 1000 µg/mL có hoạt tính chống Helicobacter pylori trong ống nghiệm và ở liều 10 µg/mL làm tăng lượng prostanoid in vitro trong niêm mạc đại tràng của người [17]. Vài nét về cao rau đắng biển a.