Nghiên cứu thay đổi nồng độ cytokine và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến bằng Cyclosporin A

Nghiên cứu nồng độ cytokine trong máu và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến bằng cyclosporine A, cung cấp thông tin hữu ích cho y học.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y Dược Lâm Sàng

Chuyên ngành

Da liễu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2021

164
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nồng độ cytokine và bệnh vảy nến

Bệnh vảy nến là một bệnh da mạn tính, có sự tham gia của nhiều yếu tố miễn dịch, trong đó có các cytokine. Nghiên cứu nồng độ cytokine trong máu giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và hiệu quả điều trị. Các cytokine như IL-2, IL-6, IL-17 đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh. Việc theo dõi nồng độ cytokine có thể giúp đánh giá tình trạng bệnh và hiệu quả điều trị bằng Cyclosporin A.

1.1. Định nghĩa và vai trò của cytokine trong bệnh vảy nến

Cytokine là các protein nhỏ có vai trò điều hòa miễn dịch. Trong bệnh vảy nến, các cytokine như IL-17 và TNF-α có liên quan đến sự viêm và phát triển tổn thương da. Nghiên cứu cho thấy nồng độ cytokine tăng cao trong máu bệnh nhân vảy nến, cho thấy sự hoạt động mạnh mẽ của hệ miễn dịch.

1.2. Tác động của cytokine đến triệu chứng lâm sàng

Nồng độ cytokine trong máu có thể ảnh hưởng đến triệu chứng lâm sàng của bệnh vảy nến. Các cytokine như IL-6 và IL-10 có thể làm tăng mức độ viêm, dẫn đến các triệu chứng như ngứa và tổn thương da. Việc theo dõi nồng độ cytokine có thể giúp điều chỉnh phương pháp điều trị.

II. Thách thức trong điều trị bệnh vảy nến bằng Cyclosporin A

Mặc dù Cyclosporin A là một phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh vảy nến, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các tác dụng phụ và nguy cơ tái phát là những vấn đề cần được xem xét. Nghiên cứu cho thấy rằng việc theo dõi nồng độ cytokine có thể giúp đánh giá hiệu quả điều trị và điều chỉnh liều lượng thuốc.

2.1. Tác dụng phụ của Cyclosporin A trong điều trị

Cyclosporin A có thể gây ra nhiều tác dụng phụ như tăng huyết áp, suy thận và tăng nguy cơ nhiễm trùng. Việc theo dõi nồng độ cytokine có thể giúp phát hiện sớm các tác dụng phụ này và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

2.2. Nguy cơ tái phát bệnh vảy nến sau điều trị

Sau khi ngừng điều trị bằng Cyclosporin A, nguy cơ tái phát bệnh vảy nến là rất cao. Nghiên cứu cho thấy nồng độ cytokine vẫn cao ngay cả sau khi điều trị, cho thấy sự cần thiết phải có các phương pháp điều trị duy trì hiệu quả hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu nồng độ cytokine trong máu

Nghiên cứu nồng độ cytokine trong máu bệnh nhân vảy nến thường sử dụng các phương pháp định lượng hiện đại như ELISA. Các cytokine được đo lường bao gồm IL-2, IL-6, IL-8, IL-10, IL-12, IL-17, TNF-α và IFN-γ. Việc phân tích nồng độ cytokine trước và sau điều trị bằng Cyclosporin A giúp đánh giá hiệu quả điều trị.

3.1. Các phương pháp định lượng cytokine

Phương pháp ELISA là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất để đo lường nồng độ cytokine trong máu. Kỹ thuật này cho phép xác định nồng độ cytokine với độ chính xác cao, giúp theo dõi sự thay đổi nồng độ cytokine trong quá trình điều trị.

3.2. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân vảy nến điều trị tại Bệnh viện Da liễu Trung ương. Các tiêu chuẩn chọn bệnh nhân được xác định rõ ràng, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

IV. Kết quả nghiên cứu nồng độ cytokine và hiệu quả điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy nồng độ cytokine trong máu giảm đáng kể sau khi điều trị bằng Cyclosporin A. Điều này cho thấy hiệu quả của phương pháp điều trị trong việc kiểm soát bệnh vảy nến. Các cytokine như IL-6 và TNF-α có sự giảm rõ rệt, đồng thời cải thiện triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân.

4.1. Sự thay đổi nồng độ cytokine trước và sau điều trị

Nghiên cứu cho thấy nồng độ IL-2, IL-6, IL-8, IL-10, IL-12, IL-17, TNF-α và IFN-γ giảm sau khi điều trị bằng Cyclosporin A. Sự thay đổi này cho thấy mối liên hệ giữa nồng độ cytokine và tình trạng bệnh vảy nến.

4.2. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh vảy nến

Kết quả điều trị cho thấy 80% bệnh nhân có cải thiện triệu chứng lâm sàng sau 10 tuần điều trị. Việc theo dõi nồng độ cytokine giúp đánh giá chính xác hiệu quả điều trị và điều chỉnh phương pháp điều trị kịp thời.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu nồng độ cytokine trong máu và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến bằng Cyclosporin A đã chỉ ra những kết quả khả quan. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về mối liên hệ giữa nồng độ cytokine và hiệu quả điều trị. Việc phát triển các phương pháp điều trị mới có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ cytokine và hiệu quả điều trị. Điều này sẽ giúp phát triển các phương pháp điều trị cá nhân hóa cho bệnh nhân vảy nến.

5.2. Hướng đi mới trong điều trị bệnh vảy nến

Các nghiên cứu mới có thể khám phá các liệu pháp sinh học và các phương pháp điều trị kết hợp để nâng cao hiệu quả điều trị bệnh vảy nến. Việc hiểu rõ hơn về vai trò của cytokine sẽ giúp phát triển các liệu pháp điều trị hiệu quả hơn.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thay đổi nồng độ một số cytokine trong máu và hiệu quả điều trị bệnh vảy nến thông thường bằng cyclosporine a

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bệnh vảy nến 1. Dịch tễ học Bệnh vảy nến được mô tả từ thời thượng cổ, trong y văn của Hypocrat và bệnh mang nhiều tên khác nhau: Phong thể Wilian, herpes squamosus, furfuraceus. Đến năm 1801 Robert Willan (1757-1812) là người đầu tiên dùng danh từ Psoriasis xuất phát từ chữ Hy lạp “Psora” để chỉ tất cả các bệnh có vảy mủ [12].

Ở Việt Nam, Đặng Vũ Hỷ là người đầu tiên đặt tên cho bệnh này là “vảy nến”, xuất phát từ đặc điểm tổn thương da của bệnh, có nhiều lớp vảy mầu trắng đục, dễ bong, khi cạo bong vụn ra từng mảnh nhỏ như cạo trên một cây nến trắng hoặc một vết nến nhỏ giọt trên mặt bàn [5], [12]. Tỉ lệ bệnh vảy nến: Bệnh vảy nến thường gặp cả ở nam cũng như nữ, từ trẻ em đến người lớn tuổi, ở các lục địa [2], [3]. Nhưng tuỳ theo tác giả, tuỳ theo địa phương, tỉ lệ bệnh có khác nhau. Theo Mark Lebwohl ở Mỹ (2003) bệnh vảy nến chiếm khoảng 3% dân số, tỷ lệ mắc bệnh ở người da trắng gấp 2 lần người da đen [13].

Ở Việt Nam, theo tài liệu Bộ môn Da liễu Đại học Y Hà Nội thì tỷ lệ bệnh vảy nến chiếm 2,2 % tổng số bệnh nhân đến khám trong năm 2010 ở Bệnh viện Da liễu trung ương [12]. Theo Đặng Văn Em (1995), nghiên cứu bệnh nhân vảy nến điều trị nội trú từ 1990 đến 1994 tại Khoa Da liễu, Bệnh viện 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 chiếm 6,16% [16]. Phân bố giới tính: theo các tác giả nước ngoài tỉ lệ nam nữ của bệnh vảy nến là gần tương đương nhau [13], [17]. Tại Việt Nam, đã có một số nghiên 4 cứu về giới tính trong bệnh vảy nến được thực hiện ở các cơ sở điều trị khác nhau.

Nguyễn Thị Hồng Hạnh và Đặng Văn Em (2009), nghiên cứu bệnh nhân vảy nến điều trị nội trú tại Khoa Da liễu – Dị ứng, Bệnh viện TWQĐ 108; nam chiếm tỉ lệ 91,59%, nữ 8,41% [18]. Tuổi trong bệnh vảy nến: bệnh vảy nến thông thường có thể bắt đầu ở mọi lứa tuổi, người lớn tỷ lệ mắc bệnh từ 0,51-11,43%, trẻ em từ 0-1,37% và có xu hướng tăng ở người lớn tuổi [20], hay gặp ở lứa tuổi 55-60 [3]. Thể bệnh vảy nến: Vảy nến thông thường chiếm khoãng 85-90% tổng số bệnh nhân vảy nến và vảy nến thể đặc biệt (vảy nến đỏ da toàn thân, vảy nến mụn mủ và viêm khớp vảy nến) chiếm 10-15% [5], [21]. Đặc điểm lâm sàng bệnh vảy nến Hiện nay bệnh vảy nến được chia làm 2 thể chính: - Vảy nến thông thường: gồm thể mảng, đồng tiền, chấm giọt… - Vảy nến đặc biệt: vảy nến mụn mủ, vảy nến đỏ da toàn thân, viêm khớp vảy nến và vảy nến móng.

Triệu chứng lâm sàng bệnh vảy nến thông thường Tổn thương cơ bản là các mảng đám đỏ da, dày, ranh giới rõ, bề mặt nhiều vảy da trắng đục, dễ bong, kích thước to nhỏ khác nhau [5], [24]. Tổn thương thường khu trú ưu tiên ở da những vùng tỳ đè, dễ sang chấn (rìa trán, khuỷu tay, bờ xương trụ cẳng tay, đầu gối, mặt trước xương chày, xương cùng…) thường ở mặt duỗi nhiều hơn mặt gấp, ở những vùng da có chấn thương thượng bì đủ độ sâu (vết bỏng, vết mổ, vết xước da, nơi chủng đậu, nơi châm cứu…). Tổn thương có thể khu trú hoặc rải rác nhiều nơi, có khi khắp toàn thân, thường có tính chất đối xứng. Vị trí tổn thương của vảy nến có giá trị rất lớn cho chẩn đoán.

Vị trí tổn thương cần được quan tâm lúc khởi phát và hiện tại. Theo nhiều tác giả cho thấy đa số tổn thương vảy nến 5 khởi phát vùng đầu [5], [24]. Theo Nhâm Thế Thy Uyên, Đặng văn Em (2002), nghiên cứu 204 bệnh nhân vảy nến có 62,74% khởi phát bệnh vảy nến ở vùng đầu, các vùng khác của cơ thể chiếm số lượng ít hơn [23]. Số lượng tổn thương rất thay đổi: tổn thương khởi phát có thể đơn độc, nhưng thường là nhiều nơi và cá biệt có trường hợp khởi phát toàn thân.

Số lượng tổn thương tiến triển tự nhiên hay tái phát sau 1 liệu trình điều trị hoặc được khởi động của các yếu tố môi trường thì ngày càng tăng lên [5]. Kích thước tổn thương: dựa vào kích thước tổn thương cho phép phân ra các thể vảy nến như: vảy nến thể chấm giọt, tổn thương dưới 1cm đường kính; vảy nến đồng tiền, tổn thương từ 1-2cm đường kính và vảy nến thể mảng có tổn thương >2 cm đường kính. Có khi nhiều mảng liên kết với nhau thành hình đa cung chiếm một vùng diện tích lớn [5]. Bệnh nhân vảy nến thường ngứa ít hoặc nhiều, tùy từng người, từng thể, từng giai đoạn bệnh.

Thường gặp ngứa nhiều nhất ở các thể đang tiến triển, một số trường hợp không ngứa mà có cảm giác vướng víu, ảnh hưởng thẩm mỹ [5]. Các thể lâm sàng của vảy nến thông thường - Vảy nến thể chấm, giọt (Guttate psoriasis): Kích thước tổn thương chỉ từ 1-2mm đến vài mm đường kính tối đa dưới 1cm và thường nổi rải rác khắp người, nhất là nửa người trên. Thể này thường gặp ở trẻ em và người trẻ tuổi, bệnh xuất hiện đột ngột, liên quan tới viêm amidal do liên cầu khuẩn, viêm tai giữa, đáp ứng tốt với trị liệu kháng sinh, có thể tự đỡ và khỏi [5], [24]. Vảy nến thể chấm giọt, đồng tiền (Nguồn: Đặng Văn Em.

Bệnh vảy nến: Sinh bệnh học và chiến lược điều trị (2013) [5]). 6 - Vảy nến thể đồng tiền (Nummular psoriasis): Đây là thể điển hình và phổ biến nhất, kích thước tổn thương từ 1-2cm đường kính, xu hướng tròn như đồng tiền, vùng trung tâm có nhạt màu hơn, ngoại vi đỏ thẫm, số lượng vài chục đám hoặc hơn nữa [5], [24]. - Vảy nến thể mảng (Plaque psoriasis): Đây là thể mạn tính, tiến triển từ vài cm trở lên, có tính chất cố thủ dai dẳng. Thường là các đám mảng lớn trên 2cm, có khi 5-10cm đường kính hoặc lớn hơn, khu trú ở các vùng tỳ đè [5], [24].

Vảy nến thể mảng (Nguồn: Đặng Văn Em. Bệnh vảy nến: Sinh bệnh học và chiến lược điều trị (2013) [5]). Ngoài ra còn phân theo vị trí tổn thương: + Vảy nến da đầu: đa số bệnh vảy nến khởi phát vùng đầu sau 1 thời gian mới xuất hiện nơi khác. Chẩn đoán lúc này chủ yếu dựa theo kinh nghiệm, tổn thương vượt quá ria trán và chưa chắc chắn cần làm mô bệnh học.

+ Vảy nến lòng bàn tay chân: có những bệnh nhân khởi phát bệnh ở lòng bàn tay, bàn chân. Sau 1 thời gian mới xuất hiện nơi khác. + Vảy nến móng: khởi đầu bằng tổn thương móng ít gặp, chủ yếu là kết hợp với vảy nến thông thường, vảy nến đỏ da toàn thân. + Vảy nến niêm mạc: tổn thương vảy nến vùng niêm mạc thường ít gặp.

+ Vảy nến đảo ngược: là vảy nến xuất hiện ở vùng nếp kẽ như nách, nếp 7 dưới vú, rốn, nếp kẽ mông, bẹn, biểu hiện tổn thương là mảng ranh giới rõ, màu đỏ, nhẵn với bề mặt ướt; có thể có nhiễm thêm nấm Candida thường gặp hơn ở bệnh nhân đái tháo đường và dùng corticoid tại chỗ [5]. Týp vảy nến thông thường Theo Gudjonsson J. và cs (2007) đã chia bệnh vảy nến thông thường thành 2 týp [5], [25]: - Týp 1: Tuổi khởi phát sớm (trước 40 tuổi), có yếu tố di truyền, có tiền sử gia đình, có mang HLA-Cw6 và DR7, tuổi khởi phát dưới 40 tuổi. - Týp 2: Tuổi khởi phát muộn (sau 40 tuổi), không có yếu tố di truyền, không có tiền sử gia đình, không mang HLA-Cw6 và DR7.

Mô bệnh học vảy nến thông thường Trong đa số trường hợp bệnh nhân vảy nến, việc chẩn đoán thường dễ dàng và việc làm sinh thiết là không cần thiết. Nhưng khi có những trường hợp không điển hình thì mới cần đến mô bệnh học. Các tổn thương thường phối hợp với nhau 1 cách điển hình như sau: - Chứng tăng sừng (hyperkeratosis), á sừng (parakeratosis) là đặc trưng đặc biệt rõ ràng nhất trong các tổn thương mới xuất hiện. Các tế bào sừng này không còn nhân, á sừng là hiện tượng tế bào sừng bong ra vẫn còn nhân - Quá sản lớp gai (hyperacanthose): phần lớp gai phía trên các nhú bì bị dẹt lại chỉ còn 1-2 lớp tế bào dẹt không còn hình đa giác, các khe gian bào phù nề.

Phần các mào giữa nhú dài ra đâm sâu xuống chân bì tạo nên hình dùi trống. Có tăng sinh và giãn rộng các mao mạch tạo nên các mao mạch ngoằn ngoèo; có thâm nhiễm các tế bào viêm quanh mạch máu chân bì là lympho T, bạch cầu đa nhân… - Hiện tượng thoát bào: từ các mao mạch ở lớp nhú được thoát bào đi vào lớp biểu bì gồm tế bào lympho, bạch cầu đa nhân trung tính. Bạch cầu đa nhân trung tính đi vào khe gian bào ở lớp gai có chỗ tập trung thành cụm tạo nên ổ áp xe Munro. Áp xe Munro thường khu trú ngay sát dưới lớp sừng và 8 có khi ở các lớp gai và nói lên bệnh đang hoạt động.

Ngoài ra có sự thâm nhiễm các tế bào đơn nhân, bạch cầu đa nhân trung tính…; các nhú chân bì bị sung huyết, phù nề và có tăng sinh, giãn rộng các mao mạch cửa sổ dưới nhú bì [5], [26]. Mô bệnh học vảy nến thông thường (Nguồn: theo Chen M. Chẩn đoán vảy nến thông thường Chẩn đoán đầy đủ bệnh vảy nến bao gồm: Chẩn đoán xác định, chẩn đoán mức độ bệnh, chẩn đoán giai đoạn bệnh. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán xác định vảy nến thường dựa vào lâm sàng.

Trong một số trường hợp bệnh sử và thăm khám lâm sàng không đủ chẩn đoán thì cần sinh thiết làm giải phẫu bệnh để chẩn đoán xác định [5], [28]. Chẩn đoán mức độ bệnh Thông qua xác định mức độ bệnh để đưa ra chiến lược điều trị phù hợp, đánh giá được hiệu quả điều trị. 9 Hiện nay, để đánh giá mức độ bệnh vảy nến thông thường dựa vào hai phương pháp: Chẩn đoán mức độ bệnh theo PASI (Psoriasis Area and Severity Index) Bệnh vảy nến thông thường được chia là 3 mức độ dựa theo chỉ số PASI như sau [5], [29], [30]: - Mức độ nhẹ PASI: <10 - Mức độ vừa PASI: 10 -< 20 - Mức độ nặng PASI: ≥20 Chẩn đoán mức độ bệnh theo diện tích bề mặt cơ thể (TBSA: Total body surface area) Năm 1993, Ruffelli chia mức độ bệnh vảy nến thông thường làm 4 mức độ sau [9], [31]: - TBSA: <25%: Mức độ 1 - TBSA: 25-<50%: Mức độ 2 - TBSA: 50-75%: Mức độ 3 - TBSA: >75%: Mức độ 4 Trong đó, một lòng bàn tay bệnh nhân bằng 1% diện tích cơ thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ