CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo 1. Trên thế giới Năm 1824: Bệnh ấu trùng giun đũa mèo do Toxocara cati (T. cati) được phát hiện đầu tiên, sau đó giới khoa học tiếp tục quan tâm đến những năm gần đây, rất tiếc không gặp nhiều ca nhiễm T.
cati trên người (số liệu y văn từ năm 1824-2005 chỉ có 36 trường hợp nhiễm ấu trùng giun đũa mèo T. cati kể từ ca bệnh đầu tiên). Năm 1908, tác giả Nutall và Strickland xét nghiệm các con chó ở Cambridge (Anh) tìm thấy 17/24 con chó có nhiễm loài ký sinh trùng này. Năm 1950, Mercer và cộng sự (1950) đã phát hiện ca bệnh đầu tiên nhiễm ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis (T.
canis) ở người và tiếp đó họ mô tả nhiễm trùng ở gan và u hạt ở mắt bởi tác giả Wilder [126]. Năm 1952, Beaver và cộng sự đã chứng minh có sự hiện diện của ấu trùng T. canis ở người và gọi đó là bệnh “ấu trùng di chuyển nội tạng”. Vì là ký sinh trùng lạc chủ, không trưởng thành được ở người nên y văn ghi nhận đây là hiện tượng “ngõ cụt ký sinh” hoặc “bệnh động vật không hoàn chỉnh” [41].
Cũng trong năm này, nhiều ca bệnh nhiễm T. canis tương tự được báo cáo và liên kết giữa bệnh giun đũa chó ở người và chó được thiết lập. Năm 1958: Sprent mô tả những điểm nổi bật nhất mở ra sự hiểu biết về bệnh do giun đũa chó T. canis khi ông nghiên cứu về chu kỳ sinh học và phát triển của T.
canis rồi vẽ ra cơ chế lan truyền của loài ký sinh trùng này. Các nghiên cứu tương lai làm rõ thêm nhiều khía cạnh quan trọng về bệnh giun đũa chó, mặc dù sự chú ý chủ yếu tập trung vào chẩn đoán thể ấu trùng di chuyển ở mắt. Đến năm 1979, Ehrhard và Kernbaum tổng kết 350 ca bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo (ATGĐCM) bao gồm nhiều thể lâm sàng khác nhau và đã công bố từng ca hay hàng loạt ca về bệnh ATGĐCM [126]. 4 Vì không trải qua giai đoạn trưởng thành được ở người, chỉ ký sinh giai đoạn ấu trùng nên không đẻ trứng; do đó việc chẩn đoán bệnh phải dựa vào phương pháp miễn dịch học, tìm kháng thể kháng giun trong huyết thanh bệnh nhân.
Bằng phản ứng miễn dịch học, nhiều tác giả trên thế giới đã phát hiện nhiều trường hợp nhiễm ATGĐCM lạc chủ ở người. Qua thời gian, người ta tiếp tục khám phá ra rằng các thể bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng thường gặp hơn thể mắt. Các nghiên cứu sau đó tiếp tục tiến hành cho đến ngày nay với hy vọng hiểu biết hơn về tính phức tạp trong bệnh ATGĐCM và tiềm năng các liệu pháp điều trị mới. Tại Việt Nam Trường hợp bệnh đầu tiên được phát hiện vào năm 1988 tại Bệnh viện Nhi đồng II, thành phố Hồ Chí Minh.
Một cháu bé có bệnh lý về gan, bạch cầu ái toan (BCAT) tăng cao, huyết thanh của cháu bé được chuyển sang Pháp để chẩn đoán bệnh, kết quả có kháng thể kháng T. canis dương tính trong máu [10]. Chó là con vật thân thiết đối với nhiều gia đình nên chắc chắn bệnh không phải là hiếm ở nước ta, vì vậy ứng dụng huyết thanh chẩn đoán đã phát hiện hàng nghìn người có huyết thanh dương tính với loại giun tròn này. Năm 1988, Trần Vinh Hiển và cộng sự gặp ở Bệnh viện Nhi đồng 2, thành phố Hồ Chí Minh một bệnh nhi ở Long An bị sốt kéo dài, BCAT tăng rất cao trong máu, sau đó huyết thanh của bệnh nhân được gởi sang Pháp xét nghiệm xác định nhiễm T.
Từ năm 2000 đến nay, việc nghiên cứu nhiễm ATGĐCM tại Việt Nam mới thực sự được quan tâm và ngày càng nhiều nghiên cứu tập trung vào các mảng khác nhau đối với căn bệnh này. Đặc điểm sinh học của giun đũa chó mèo Toxocara spp. Tác nhân gây bệnh Trong số các loài giun thuộc giống Toxocara thì chỉ có 2 loài Toxocara canis (T. canis) và Toxocara cati (T.
cati) được chứng minh là tác nhân gây bệnh cho người, vật chủ chính của T. canis là chó và T. cati là mèo [41]. 5 * Hình thể của giun T.
canis - Giun trưởng thành: + Con đực dài 4 - 6 cm + Con cái dài 5 - 10 cm - Ấu trùng : kính thước 400 µm x 20 µm - Trứng : hình cầu, kích thước 85 µm x 75 µm, vỏ màu đậm [10]. Giun đũa Toxocara canis trưởng thành Nguồn: https://parasitipedia. Trứng giun đũa chó Hình 1. Ấu trùng giun đũa chó Nguồn: https://veteriankey.com Nguồn: https://www.com * Phân loại Giun Toxocara spp.
thuộc: Ngành: Nematoda Nhóm: Phasmida Họ: Ascaridoidea Giống: Toxocara Loài: Toxocara canis, Toxocara cati [10] 6 1. Chu kỳ của giun đũa chó Hình 1. Chu kỳ phát triển của giun đũa chó Nguồn: http://www.gov/dpdx * Ở chó: Khi chó cái nuốt phải trứng có ấu trùng của giun đũa chó, trứng nở trong dạ dày và ruột non, trứng giải phóng ấu trùng giai đoạn 2 xâm nhập vào thành ruột rồi theo đường máu di chuyển khắp nơi trong cơ thể. Khoảng một tuần sau, tất cả ấu trùng giai đoạn 2 đã có mặt trong nhu mô gan, phổi, thận, não.
Vì vậy, không có giun trưởng thành ở ruột chó cái, ấu trùng có thể tồn tại trong các mô của chó cái trên hàng tháng hay hàng năm mà không phát triển thêm nữa. Nếu chó cái có thai, ấu trùng di chuyển qua bánh nhau, tới mô gan và phổi của thai. Sự xâm nhập vào thai không xảy ra trước ngày thứ 42 của thai kỳ và cũng không thể xảy ra khi chó mẹ mới bị nhiễm khoảng nửa tháng. Ấu trùng xâm nhập vào thai thường do chó mẹ bị nhiễm từ cả năm trước.
Lúc sinh ra, ấu trùng giai đoạn 3 được tìm thấy chủ yếu trong mô phổi của chó con. Từ đó, ấu trùng di chuyển đến khí quản, đi lên và đi xuống lại thực quản đến dạ dày, phát triển thành ấu trùng 7 giai đoạn 4 vào khoảng 3 ngày tuổi. Khoảng từ ngày tuổi thứ 11 đến ngày 21, số giun trưởng thành tăng trong ruột non và sau 3 tuần, trứng bắt đầu xuất hiện trong phân chó con. Lúc này, chó mẹ có thể nuốt phân chó con, nếu trứng chưa có phôi thì chính chó mẹ lại thải một lượng lớn trứng trong phân theo cơ chế cơ học.
Khi tiếp xúc với không khí, với môi trường ngoài, trứng phát triển đến ấu trùng giai đoạn 1, kế đó là ấu trùng giai đoạn 2 nằm trong vỏ trứng. Thời gian này mất khoảng 12 ngày hoặc hơn, tùy thuộc điều kiện môi sinh. Song ở giai đoạn phát triển đủ độ, thời gian trứng có khả năng gây nhiễm kéo dài hàng năm, chó con có thể nuốt trứng có ấu trùng suốt 3 tuần sau sinh, sẽ cho ra giun trưởng thành sau này trong ruột [10]. * Ở người: Người là vật chủ ngẫu nhiên, nhiễm do nuốt trứng có ấu trùng của giun đũa chó.
Ấu trùng thoát vỏ khỏi trứng, xâm nhập thành ruột và được chuyên chở theo đường máu đến gan, phổi và những cơ quan khác. Ở những cơ quan này, ấu trùng di chuyển hàng tuần hay hàng tháng hoặc ở “trạng thái im lặng”, thành những vật lạ gây viêm và kích thích tạo ra u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái toan [10]. Tình hình nghiên cứu và phân bố bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo 1. Trên thế giới Bệnh ATGĐCM xuất hiện khắp nơi trên thế giới.
Các nghiên cứu tại một số châu lục cho thấy những nước vùng nhiệt đới có tỷ lệ nhiễm cao hơn. Nhiễm ATGĐCM phân bố rộng, từ cực Nam bán cầu cho đến Nam Mỹ, vùng Caribê, Châu Phi, Trung Đông, Nam Á và Đông Nam Á [42],[71],[87],[96],[106],[125]. Tại Châu Âu, nghiên cứu của Stensvold (2009) xét nghiệm huyết thanh với 3.247 người dân tại Đan Mạch, cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 2,4% [113]. Nghiên cứu của Dogan (2007) bằng cách chọn ngẫu nhiên 430 trẻ em vùng nông thôn và 141 trẻ em vùng thành thị vùng đông bắc Thổ Nhĩ Kỳ, kết quả cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính chung cả hai nhóm là 12,9%, trong đó 8 vùng nông thôn là 16,9% và vùng thành thị là 0,7% (có sự khác biệt giữa hai nhóm với p < 0,01) [53].
Tại Ba Lan, tổng hợp các nghiên cứu từ năm 1994 đến 2005, xét nghiệm huyết thanh 18.367 người nghi ngờ bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó, kết quả cho thấy 16,6-75,6% dương tính với giun đũa chó. Thống kê từ năm 1978 đến năm 2009, có tất cả 1.022 trường hợp bệnh ATGĐCM [43]. Tại Mỹ, tỷ lệ huyết thanh dương tính theo tổng hợp của Woodhall (2014) cho thấy cũng rất cao (13,9%) và ước tính có khoảng 1,3-2,8 triệu người bị nhiễm. Tác giả cũng chỉ ra rằng thậm chí đối với quốc gia giàu nhất trên thế giới vẫn có thể bị nhiễm cao.
Bệnh ATGĐCM cùng với các bệnh giun sán khác như giun lươn, giun đũa, ấu trùng sán dây lợn được công nhận là bệnh nhiệt đới bị lãng quên nhưng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người [121]. Tác giả Lee phân tích tổng hợp 18 bài báo về thực trạng nhiễm Toxocara spp. tại khu vực Bắc Mỹ, ước tính mức độ nhiễm dao động từ 0,6% ở cộng đồng người Inuit Canada đến 30,8% ở trẻ em bị hen suyễn ở Mexico Các yếu tố nguy cơ gồm: chủng tộc người Mỹ gốc Phi, nghèo đói, giới tính nam và sở hữu vật nuôi hoặc ô nhiễm môi trường bởi phân động vật. Tại Mexico, một số nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ nhiễm Toxocara spp.
có liên quan đến một số nhóm nguy cơ cao bao gồm người thu gom rác, trẻ em mắc bệnh hen và bệnh nhân tâm thần. Tác giả cho rằng gánh nặng bệnh tật là rất lớn nhưng cần những nghiên cứu sâu hơn để xác định gánh nặng thực sự của bệnh ở Bắc Mỹ [78]. Tại Nam Mỹ, nghiên cứu của Rondan (2010) tại thành phố Amazonian của Peru từ tháng 3 đến tháng 8/2008, sử dụng Toxocara ELISA-IgG test khảo sát 300 mẫu, kết quả cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 35,6%. Có đến 95,3% số huyết thanh dương tính có các triệu chứng lâm sàng như đau đầu (66,3%), đau bụng (54,2%), ngứa (40,29%), có triệu chứng ở mắt (36,5%) [103].
Một nghiên cứu tại thành phố Sorocala, bang Sao Paulo, Braxin, xét nghiệm 180 em học sinh cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính chung là 38,3%, trong đó số trẻ em ở ngoại ô nhiễm 47,4%, số trẻ em ở trung tâm thành phố nhiễm 11,1% [49]. 9 Ở Châu Phi, điều kiện khí hậu nhiệt đới nên thuận lợi cho sự phát triển của mầm bệnh ở ngoại cảnh nên nhiễm bệnh ATGĐCM có thể cao hơn các vùng khác.