Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản Xét về mặt thuật ngữ, khái niệm nhân thân người phạm tội được hình thành từ khái niệm chung của xã hội học “nhân thân con người” và khái niệm pháp lý hình sự “người phạm tội”. Do vậy, trước khi nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội chúng ta cần phải tìm hiểu khái niệm của xã hội học về nhân thân con người. Theo Từ điển tiếng Việt, nhân thân con người được định nghĩa là: “Tổng hợp các đặc điểm về nhân thế, tính cách và cuộc sống của cá nhân một con người về mặt thi hành pháp luật” [40, tr.
Định nghĩa này cho thấy, nói đến nhân thân con người là nói đến toàn bộ các đặc điểm riêng có của một con người. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ giới hạn các đặc điểm cá nhân về mặt thi hành pháp luật là chưa đủ, vì sẽ có nhiều đặc điểm cá nhân không liên quan đến thi hành pháp luật nhưng vẫn là những đặc điểm nhân thân quan trọng của con người, như tình cảm yêu ghét, căm thù, thói quen, sở thích… Vì vậy, định nghĩa trên chưa bao quát hết các đặc điểm nhân thân của con người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin nhân thân con người là một phạm trù lịch sử - xã hội. Nó là sản phẩm của một thời đại nhất định, được quy định bởi những điều kiện lịch sử cụ thể của hiện thực xã hội.
Mỗi thời đại khác nhau sản sinh ra những mẫu người không giống nhau, song dù ở thời đại nào thì bản chất con người luôn luôn là “tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [5, tr. Bản chất của con người gồm những nội dung: Về sinh học và xã hội. Con người là sản phẩm của tự nhiên do đó trước hết sẽ mang đặc tính sinh 12 học. Trong con người yếu tố sinh học sẽ quyết định sự xuất hiện những hiện tượng, quá trình tâm, sinh lý.
Bên cạnh đó, muốn tồn tại đòi hỏi con người phải có quá trình hoạt động để phục vụ nhu cầu của mình như ăn, uống, ngủ nghỉ,. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người luôn có mối quan hệ khắn khít với nhau trong quá trình sản xuất cũng như trong mọi quá trình sinh hoạt khác. Vì thế, con người luôn mang đặc tính xã hội. Nhân thân của một con người là sự thống nhất giữa các yếu tố xã hội và yếu tố sinh học, trong đó yếu tố xã hội mang tính chất quyết định, nhưng yếu tố sinh học cũng có ý nghĩa riêng.
Nhân thân con người là tất cả các đặc điểm sinh học, tâm lý và xã hội có liên quan đến một con người, thể hiện bản chất riêng của họ. Nói cách khác, nhân thân con người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Bàn về nhân thân người phạm tội có tác giả cho rằng “Nhân thân người phạm tội được hiểu là nhân thân người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm đoán và trừng phạt” [28, tr. Cũng có tác giả cho rằng nhân thân người phạm tội là tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm được hiểu là tổng hợp tất cả các dấu hiệu, những đặc điểm, có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó [27, tr.
Quan điểm của tác giả đồng tình với quan điểm của Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh khi cho rằng nhân thân người phạm tội là toàn bộ những dấu hiệu, những đặc điểm thể hiện bản chất của một con người trong các mối quan hệ xã hội mà người đó bị coi là phạm tội theo quy định của BLHS. Ta có thể hiểu nhân thân người phạm tội như sau: Đó là tất cả những gì thuộc về hoặc gắn liền với một con người cụ thể giúp ta có thể phân biệt được người này với 13 người kia như tên, tuổi, quê quán, giới tính, tôn giáo, nghề nghiệp, trình độ học vấn, dân tộc, địa vị xã hội, tiền án, tiền sự…. Để đưa ra được định nghĩa cho khái niệm nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản, cần làm rõ khái niệm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 BLHS 1999, nay là Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017. Trên nền tảng khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 (Nay là khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, sửa đổi 2017) có thể hiểu, tội trộm cắp tài sản là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 138 BLHS 1999 (Nay là Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi 2017), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, bằng hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.
Như vậy, nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản là là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này trong sự kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến người đó thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 (Nay là Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi 2017). Các đặc điểm nhân thân đặc trưng của người phạm tội trộm cắp tài sản Nhân thân người phạm tội nói chung bao gồm các đặc điểm, dấu hiệu có mối quan hệ qua lại, gắn bó với nhau dù hình thức biểu hiện, vai trò có khác nhau. Khi tìm hiểu nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản ta sẽ thấy những điểm đặc trưng riêng nhằm giúp phân biệt với người không phạm tội và những người phạm các tội khác trong BLHS. Trong Tội phạm học, các đặc điểm nhân thân người phạm tội thường được chia thành ba nhóm: Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu; Nhóm dấu hiệu đạo đức – tâm lý xã hội và nhóm dấu hiệu pháp lý – hình sự [28, tr.
Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu trong nhân thân người phạm tội trộm cắp tài sản 1.1 Đặc điểm về độ tuổi Khi tìm hiểu đặc điểm lứa tuổi của người phạm tội trộm cắp tài sản giúp xác định mức độ, đặc điểm, tính chất tội phạm của từng lứa tuổi và tác động của những độ tuổi khác nhau đến việc thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản. Tội trộm cắp tài sản có đặc điểm đặc thù của hành vi là lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi này không đòi hỏi phải có những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, cũng không đòi hỏi phải sử dụng sức mạnh cơ thể nên đây là loại hành vi bất cứ lứa tuổi nào cũng có thể thực hiện được. Có thể nói, trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt thì tội trộm cắp tài sản là một trong những tội dễ dàng thực hiện nhất.
Những người từ đủ 14 tuổi trở lên đều có thể thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 12 của BLHS 1999, sửa đổi năm 2009 thì những người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về các tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Điều 138 BLHS 1999, sửa đổi năm 2009 có khoản 1 là tội phạm ít nghiêm trọng; Khoản 2 là tội phạm nghiêm trọng; Khoản 3 là tội phạm rất nghiêm trọng và khoản 4 là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS trong các trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 138 BLHS 1999.
Tương tự như vậy, theo quy định tài Điều 12 và Điều 173 BLHS 2015, sửa đổi năm 2017 thì người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ có thể phải chịu TNHS trong các trường hợp quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 173 BLHS 2105, sửa đổi năm 2017. Có thể chia người phạm tội trộm cắp tài sản thành 04 nhóm: Dưới 18 tuổi, từ 18 đến 30 tuổi, từ 30 đến 45 tuổi, từ trên 45 tuổi. Từ 45 trở lên, con người suy nghĩ và hành động chín chắn hơn nên có khả năng kiềm chế hơn, biết lựa chọn phương pháp khác nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân thay vì xâm 15 phạm tài sản của người khác. Những bị cáo chưa thành niên (dưới 18 tuổi) chỉ chiếm tỉ lệ thấp, nhưng đã có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây.
Nguyên nhân kiến nhóm đối tượng này phạm tội gia tăng là do ham chơi, đua đòi, nhận thức còn hạn chế, nghiện game online và sự gia tăng các loại thú vui tiêu khiển không lành mạnh, tiếp cận với interner quá sớm, tiếp thu thông tin không đúng cách, sự phát triển sớm hơn về mặt thể chất, tâm sinh lý [5, tr. Như đã đề cập ở trên, hành vi trộm cắp tài sản không quá phức tạp, khó khăn, liều lĩnh như hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản… Do vậy đối tượng phạm tội này nằm ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, nhóm người trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi vẫn là nhóm phạm tội phổ biến, do những người trong nhóm tuổi này là những người công việc chưa ổn định, hoặc nếu có việc thì thu nhập thấp, trong khi nhu cầu tiêu dùng cho cá nhân cao, cộng thêm lười lao động, đua đòi, thích ăn chơi thì sẽ dễ phát sinh hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Đặc điểm về giới tính Nghiên cứu đặc điểm giới tính của người phạm tội trộm cắp tài sản giúp chúng ta xác định tỷ lệ người phạm tội trộm cắp tài sản giữa nam và nữ, ảnh hưởng của giới tính đến việc thực hiện các tội trộm cắp tài sản.
Nam giới có đặc điểm tâm-sinh lý sau: Khả năng kiềm chế kém, dễ bị tiêm nhiễm các thói quen xấu như lười lao động, thích hưởng thụ, thích thể hiện, sĩ diện, sử dụng rượu, bia, chất kích thích, cờ bạc…. do đó nam giới dễ thực hiện các hành vi trộm cắp tài sản nhằm thỏa mãn các nhu cầu sai lệch của mình. Cấu trúc tâm sinh lý của nữ giới thường kiên nhẫn, chăm chỉ, chịu khó, do đó khả năng thực hiện tội phạm trộm cắp tài sản của nữ giới ít hơn nam giới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cơ cấu người phạm tội xét theo giới tính đang có sự thay đổi.