Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức 1. Một số khái niệm cơ bản về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức - Khái niệm con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức: + Khái niệm con dấu của cơ quan, tổ chức: Con dấu xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử hình thành và phát triển ở Nhà nước Việt Nam.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì hình dáng, nội dung, kích thước, biểu tượng, chất liệu của con dấu khác nhau. Con dấu là một phương tiện đặc biệt phục vụ cho việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, được hầu hết các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và nhiều chức danh nhà nước sử dụng. Con dấu gồm có hai phần, phần vật chất và phần giá trị pháp lý. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, con dấu ngày nay được thống nhất khắc và quản lý bởi các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Công an.
Phần lớn con dấu được làm bằng đồng, phía trên (cán) được làm bằng gỗ. Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân, Nxb Công an nhân dân năm 2005: “Con dấu vật làm bằng gỗ, kim loại, cao su… mặt dưới hình tròn hoặc hình vuông, hoặc hình chữ nhật… theo những kích cỡ nhất định, có khắc chữ hoặc hình, được dùng in trên giấy tờ để làm bằng, làm tin trong quan hệ giao dịch giữa các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang và tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội. Con dấu được quản lý chặt chẽ từ việc khắc đến việc sử dụng. Ở Việt Nam, con dấu được sử dụng 7 Luan van trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và một số chức danh nhà nước”.
[15] Tại Điều 1 của Nghị định số 58/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu nêu rõ: “Con dấu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) và một số chức danh nhà nước. Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước”. [6] Từ phân tích trên, có thể rút ra khái niệm: Con dấu là thành phần biểu thị vị trí cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước, là một trong những yếu tố quan trọng giúp cơ quan tự nhân danh mình thực hiện các hoạt động giao dịch, trao đổi với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác. Con dấu là yếu tố thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước.
Văn bản không có con dấu là những văn bản không có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Con dấu còn là thành phần quan trọng giúp các cơ quan, tổ chức tránh được tình trạng giả mạo giấy tờ. + Khái niệm về tài liệu của cơ quan, tổ chức: Theo từ điển Tiếng Việt, “tài liệu” được định nghĩa như sau: “Tài liệu là thông tin được gắn trên vật mang tin với những tiêu chí cho phép nhận dạng nó”. Đối với công tác quản lý, văn thư, lưu trữ, điều quan trọng là làm sao có thể nhận dạng được thông tin chứa đựng trong tài liệu, sao cho tài liệu được trình bày theo trật tự được thiết lập với những tiêu chí nhất định (các yếu tố trình bày tài liệu).
Tài liệu có hai đặc điểm phân biệt: Thứ nhất, thông tin chứa đựng trong tài liệu nhờ sự tham gia sáng tạo của con người, vì vậy tài liệu phản ánh quá trình quản lý hay hoạt động cá nhân; tài liệu không chỉ đơn giản là tập hợp các dữ liệu mà còn là kết quả hoặc là sản phẩm của một sự kiện nào đó. 8 Luan van Thứ hai, một thành phần mang tính pháp lý của tài liệu - khả năng dùng làm bằng chứng của nó đóng vai trò không kém phần quan trọng trong hoạt động quản lý và hoạt động cá nhân. Chính vì vậy, trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 15489, “tài liệu” được hiểu là thông tin được tạo lập, tiếp nhận và lưu giữ bởi tổ chức hoặc cá nhân như là bản chứng nhận để khẳng định trách nhiệm pháp lý hay hoạt động quản lý. Nghĩa là, khác biệt với thông tin và dữ liệu, trước tiên tài liệu là bằng chứng về hoạt động của tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội.
Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ thì “tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dang văn bản, âm thanh, đồ họa, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quả, phổ biến và sử dụng”. [5] Hiện nay, Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về lưu trữ: “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm: văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác”. [39] - Khái niệm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức: + Khái niệm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức: Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là hành vi làm ra con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức một cách trái phép. Việc làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức được thực hiện bằng những phương pháp, thủ đoạn đa dạng như: đúc, khắc… để tạo ra con dấu giả giống như con dấu thật của cơ quan, tổ chức; hoặc vẽ, in, phôtô, viết, các kỹ thuật khác… nhằm làm ra các loại giấy tờ, tài liệu giả giống như các loại tài liệu, giấy tờ thật của cơ quan, tổ chức.
[17] 9 Luan van Những hành vi giả mạo này chỉ được coi là phạm tội khi các tài liệu, giấy tờ, con dấu giả được sử dụng vào việc làm trái pháp luật. Các loại giấy tờ thường được làm giả là: Làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế giữa các bên; Làm giả các giấy tờ cá nhân, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy tờ xe các loại; Làm giả các giấy tờ liên quan đến học tập bằng đại học, chứng chỉ tiếng anh, tin học, bảng điểm, hộ chiếu để được đi du học, đi nước ngoài, … Làm giả các hợp đồng khi thực hiện giao kết hợp đồng giữa các bên: hợp đồng vay vốn, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ, … + Khái niệm sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức: Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hành vi sử dụng con dấu giả, tài liệu hoặc giấy tờ giả giống với con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ thật của cơ quan, tổ chức đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức, công dân. Việc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức bao gồm các hành vi sử dụng con dấu, giấy tờ, tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật như bán lại cho người khác, giao nộp tài liệu giả cho cơ quan chức năng… - Khái niệm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan, tổ chức: Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999 và Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 267 BLHS 1999: “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm” [34].
Theo Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, 10 Luan van tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm” [36].