CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản 1. Khái niệm tội trộm cắp tài sản Trong khoa học luật hình sự, khái niệm tội phạm là khái niệm trung tâm, khái niệm cơ bản nhất, đóng vai trò là cơ sở để xây dựng khái niệm về từng tội phạm cụ thể, cũng như các khái niệm khác liên quan đến tội phạm. Khái niệm tội trộm cắp tài sản là một trong những khái niệm về một tội phạm cụ thể, do vậy phải được xây dựng dựa trên khái niệm tội phạm nói chung.
Hiện nay, xoay quanh khái niệm tội phạm có nhiều cách diễn đạt khác nhau, nhất là việc phản ánh các dấu hiệu (đặc điểm) đặc trưng của tội phạm trong nội hàm khái niệm. Song dựa trên định nghĩa lập pháp về khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS hiện hành, đa số các nhà khoa học luật hình sự Việt Nam đều thống nhất cho rằng: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và phải bị xử lý hình sự”. Từ khái niệm này cho thấy, tội phạm với tính chất là một hiện tượng xã hội, pháp lý, có các đặc điểm đặc trưng khác với các hiện tượng không phải là tội phạm, đó là: + Đặc điểm “Là hành vi nguy hiểm cho xã hội” (tính nguy hiểm cho xã hội). Trước hết, tội phạm phải là hành vi của con người.
Hành vi bị coi là tội phạm phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Điều đó có nghĩa là: Về mặt khách quan, hành vi bị coi là tội phạm phải gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đáng kể cho những lợi ích được pháp luật hình sự bảo vệ. 12 Luan van Đây là đặc điểm phản ánh nội dung chính trị - xã hội của tội phạm, đặc điểm quan trọng nhất, quyết định các đặc điểm khác của tội phạm (đặc điểm về hình thức và hậu quả pháp lý của tội phạm). + Đặc điểm “được quy định trong BLHS” Đặc điểm này cho thấy chỉ những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS mới có thể bị coi là tội phạm, nghĩa là hành vi bị coi là tội phạm phải là những xử sự trái với quy định của BLHS, cấm thực hiện hoặc cấm không thực hiện (phải thực hiện khi có điều kiện để thực hiện).
Đây chỉ là đặc điểm về hình thức pháp lý của tội phạm, phản ánh đặc điểm nội dung của tội phạm (tính nguy hiểm cho xã hội), nhưng có tính độc lập tương đối và có ý nghĩa quan trọng. Bởi việc khẳng định tội phạm phải có đặc điểm này là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế, là sự thừa nhận nguyên tắc đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hợp quốc: “Không ai bị kết án vì một hành vi mà lúc họ thực hiện pháp luật quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm” (Khoản 2 Điều 11) + Đặc điểm “do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện”. Đây là dấu hiệu về chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, theo đó họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự mà luật định và không trong “Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự” do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khách làm mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực pháp lý được Nhà nước xác định và thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước.
Đồng thời, năng lực trách nhiệm hình sự cũng là điều kiện để chủ thể thực hiện hành vi có thể có lỗi. Do có ý nghĩa như vậy, nên dấu hiệu về chủ thể “Có năng lực trách nhiệm hình sự” cần được coi là một dấu hiệu của tội phạm [16;tr. + Đặc điểm “Thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý” Đặc điểm này cho thấy, tội phạm phải là hành vi có lỗi, tức là phải do chủ thể cố ý hoặc vô ý thực hiện. Việc thừa nhận dấu hiệu này là một dấu hiệu độc 13 Luan van lập của tội phạm cho thấy, Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ căn cứ vào việc một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ.
Do vậy, “tính có lỗi” phải được xác định là một đặc điểm của tội phạm. + Đặc điểm “phải bị xử lý hình sự”. Đây là đặc điểm thể hiện hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm, mà là đặc điểm có tính quy kết, kèm theo của tội phạm; nó được xác định bởi chính những thuộc tính bên trong của tội phạm.
Theo đó, chỉ những hành vi bị coi là tội phạm thì mới “phải bị xử lý hình sự”, không có tội phạm thì cũng không có biện pháp “xử lý hình sự”. Đây là lý do mà BLHS năm 2015 bổ sung đặc điểm “phải bị xử lý hình sự” trong định nghĩa khái niệm tội phạm tại Điều 8. Tội trộm cắp tài sản là một trong những tội phạm nói chung, do vậy cũng có đầy đủ những đặc điểm, đặc trưng chung của tội phạm. Mặc dù vậy, khi đưa ra các khái niệm khoa học về tội trộm cắp tài sản, các nhà nghiên cứu luật hình sự chỉ tập trung phản ánh những đặc điểm (dấu hiệu) riêng có của tội phạm này, chẳng hạn như: “Tội trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản” [43;tr.49]; hoặc “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” [31;tr.196]; hoặc “Tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lút” [4, tr.
Qua đây thấy rằng, các nhà khoa học luật hình sự Việt Nam có nhiều cách diễn đạt khác nhau khi đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản, nhưng đều thống nhất ở chỗ, tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Chúng tôi cho rằng, các định nghĩa nêu trên mới chỉ là những định nghĩa khái quát về tội trộm cắp tài sản, phản ánh đặc điểm đặc trưng riêng có của tội trộm cắp, đó là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác”. 14 Luan van Theo chúng tôi, để đưa ra được một khái niệm đầy đủ về tội trộm cắp tài sản thì trong nội hàm khái niệm này phải thể hiện được đầy đủ các đặc điểm, đặc trưng của tội phạm này. Với cách tiếp cận như vậy, có thể đưa ra khái niệm tội trộm cắp tài sản như sau: “Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ và theo quy định của BLHS phải bị xử lý hình sự”.
Như vậy, khái niệm này không chỉ thể hiện được những dấu hiệu (đặc điểm) chung của tội phạm mà còn thể hiện được dấu hiệu (đặc điểm) riêng của tội trộm cắp tài sản, đó là “lén lút chiếm đoạt tài sản đang do người khác nắm giữ”. Dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản * Những dấu hiệu định tội Nghiên cứu lý luận và quy định của BLHS hiện hành về tội trộm cắp tài sản thấy rằng, tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau đây: - Dấu hiệu khách thể, đối tượng tác động của tội phạm. Tội trộm cắp tài sản xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Quyền sở hữu tài sản gồm ba quyền năng cụ thể, đó là: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản của mình.
Khi tài sản bị trộm cắp chủ sở hữu sẽ mất khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản bị chiếm đoạt. Đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản đang có người quản lý, nghĩa là: tài sản đó đang ở trong sự chiếm hữu, sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc tài sản đang nằm trong khu vực quản lý của chủ tài sản. Với đặc điểm như vậy thấy rằng, những hành vi lấy tài sản của mình hoặc đang do mình quản lý, hoặc chưa có người quản lý đều không phải là hành vi trộm cắp tài sản. - Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm Mặc dù điều luật không mô tả hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản 15 Luan van nhưng cả lý luận và thực tiễn đều thừa nhận hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là “Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang do người khác quản lý” Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu: về mặt khách quan, hành vi này được thực hiện bằng hình thức có khả năng không cho chủ tài sản (người quản lý tài sản) biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xảy ra; Về mặt chủ quan, khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình.
Đối với chủ tài sản, người phạm tội không chỉ che giấu mặt thực tế của việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn che giấu tính chất bất hợp pháp của việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, đối với những người không phải là chủ tài sản, không biết rõ nguồn gốc tài sản thì có trường hợp người phạm tội chỉ che giấu tính chất bất hợp pháp của việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tội trộm cắp tài sản được nhà lập pháp quy định dưới dạng cấu thành tội phạm vật chất. Do vậy, tội trộm cắp tài sản chỉ coi là hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm hữu được tài sản trên thực tế.
Để xác định thời điểm tài sản đã được chiếm hữu trên thực tế phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt.