Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Những vấn đề lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [17,Điều 8].Đây là khái niệm chung và toàn diện nhất về tội phạm, là cơ sở để xây dựng khái niệm các tội phạm cụ thể trong BLHS Việt Nam, trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Bên cạnh đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội danh được nhiều tác giả tiếp cận, nghiên cứu và đưa ra các khái niệm trong khoa học luật hình sự nhà nước ta, điển hình như: Tác giả Đinh Văn Quế cho rằng: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản [20,tr. Nhận xét: Khái niệm nêu trên của tác giả Đinh Văn Quế đã thể hiện được những thủ đoạn của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tuy nhiên 8 luan an đặt trong bối cảnh hiện nay thì khái niệm trên chưa đầy đủ vì ngoài các thủ đoạn trên thì người phạm tội còn có thêm thủ đoạn chiếm đoạt tài sản khác là: sau khi có được tài sản thông qua các giao dịch dân sự nhưng đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Ngoài ra, khái niệm này chưa nêu được hành vi khách quan của tội này là hành vi “chiếm đoạt tài sản” đó là hành vi chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của người khác thành tài sản của mình, mà chỉ mới nêu về thủ đoạn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điệp thì: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Nhận xét: Khái niệm nêu trên của tác giả Nguyễn Ngọc Điệp đã thể hiện được đầy đủ thủ đoạn của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa nêu được hành vi khách quan của tội này là hành vi “chiếm đoạt tài sản” mà chỉ nêu về thủ đoạn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Các tác giả Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng có quan điểm: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm như sau: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người.
9 luan an Nhận xét: Khái niệm của tác giả tác giả Trần Văn Biên và Đinh Thế Hưng và của Trường Đại học Luật Hà Nội đều đã nêu được bản chất của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản với các thủ đoạn đặc trưng của tội này. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa nêu lên được yếu tố chủ thể, khách thể và lỗi của tội này. Tác giả cho rằng các quan điểm trên đều có những nhân tố hợp lý, đã nêu lên được bản chất và các thủ đoạn của của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là:Chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Tuy nhiên, để xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì theo tác giả khái niệm cần phản ánh được các dấu hiệu chủ thể, khách thể, các yếu tố đặc trưng của mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm này.
Trong BLHS năm 2015 thì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 thuộc chương XVI, thuộc nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, là ”hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của chủ sở hữu tài sản thành tài sản của mình” [24]. Hành vi này xâm phạm khách thể là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân với lỗi cố ý trực tiếp.Cụ thể, Điều 175 quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000 đồng đến dưới 50.000 đồng hoặc dưới 4.000 đồng…:a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng 10 luan an và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”. Như vậy, trên cơ sở khái niệm pháp lý về tội phạm, Điều 175 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS năm 2015 và tiếp thu các khái niệm về tội này trong khoa học luật hình sự, tác giả đưa ra khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang được sự quản lí của người khác thành tài sản của mình bằng thủ đoạn vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự đủ độ tuổi luật định, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Từ khái niệm chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, có thể thấy tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đặc điểm chung của tội phạm là: hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Được thể hiện thông qua các dấu hiệu pháp lý sau: * Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [23, tr.Khoa học luật hình sự Việt Nam, chia khách thể thành 03 loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp. Trong BLHS 2015, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015, thuộc chương các tội phạm xâm phạm sở hữu. Khách thể loại và khách thể trực tiếp của tội này là là quyền sở hữu tài sản của người khác, tội này không xâm phạm đến quan hệ nhân thân như tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản.do vậy nhà làm luật không quy định thiệt 11 luan an hại về nhân thân như (tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm) là tình tiết định khung tăng nặng theo các CTTP tăng nặng tại khoản 2, 3, và 4 Điều 174 BLHS.Theo BLDS năm 2015 thì “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”[18, Điều 158].
Việc gây thiệt hại này thể hiện ở chỗ, hành vi đã làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản hợp pháp mất khả năng chiếm hữu (nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp), sử dụng (khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản), định đoạt(quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu huỷ tài sản). Sự gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm dù ở hình thức cụ thể nào cũng luôn luôn diễn ra trên cơ sở hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động là bộ phận của quan hệ xã hội.