Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1. Khái niệm và ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội cướp tài sản 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội cướp tài sản 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội Hiện nay, có nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu về nhân thân người phạm tội như Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Tội phạm học, Xã hội học… Mỗi ngành đều có cách nghiên cứu, tiếp cận ở mỗi khía cạnh khác nhau và có những ý nghĩa khác nhau.
Nhân thân người phạm tội dưới góc độ của khoa học Luật hình sự Việt Nam được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội (về các mặt tâm sinh lý xã hội), về nhân chủng học, dân tộc học), những đặc điểm có giá trị nhất định, cần thiết cho việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta, đặc biệt là cho việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [4, tr. 346] Trong Tội phạm học nhân thân người phạm tội là tổng hòa các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ở địa bàn hành chính - lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian nhất định về các mặt tâm – sinh lý – xã hội, nhân khẩu, nhân chủng học, dân tộc học và pháp lý, những cái có ý nghĩa, có giá trị thiết thực cho việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để có giải pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp [4, tr. Khi nghiên cứu nhân thân người phạm tội của một con người nhất định là nghiên cứu đến các đặc điểm, các dấu hiệu cá nhân của con người thực hiện hành vi phạm tội, mà dấu hiệu đặc trưng nhất để phân biệt với nhân thân con người nói chung thể hiện ở hành vi thực hiện tội phạm, nghĩa là con người đó đã trở thành chủ thể của tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam. Đây chính là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng cho việc xác định khái niệm nhân thân người phạm tội.
8 Nghiên cứu nhân thân người phạm tội tạo cơ sở cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, đặc biệt là nhóm nguyên nhân và điều kiện từ phía người phạm tội, có ý nghĩa trong việc quyết định biện pháp trách nhiệm hình sự phù hợp. Ngoài ra, nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội còn tạo cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục cải tạo người phạm tội phù hợp từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội phải đặt trong mối tương quan với các hiện tượng trong xã hội. Từ đó mới cho chúng ta sự nhận thức đầy đủ và chính xác về người phạm tội và cách sử xự của người phạm tội, nguyên nhân và động cơ phạm tội, để từ đó tăng cường phòng ngừa tội phạm có hiệu quả.
Như vậy, nhân thân người phạm tội là tổng hợp các dấu hiệu, đặc tính quan trọng thể hiện bản chất xã hội của con người khi vi phạm pháp luật hình sự mà trong sự kết hợp với các điều kiện bên ngoài đã ảnh hưởng đến xử sự phạm tội của người đó [34, tr. Nhân thân người phạm tội tức là người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm, được hiểu là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người đó [58, tr. Khi xem xét từ góc độ tội phạm học, đặc điểm về nhân thân người phạm tội bao gồm: độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, trình độ học vấn, lịch sử bản thân, hoàn cảnh gia đình, tiền án, tiền sự. có ảnh hưởng đến hành vi phạm tội.
Khái niệm nhân thân người phạm tội cướp tài sản Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133 BLHS năm 1999 (nay là Điều 168 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017). Đây là tội được quy định trong điều đầu tiên của chương XVI (Các tội xâm phạm sở hữu) của BLHS. Vị trí này nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm cao nhất của nó trong số các tội xâm phạm sở hữu. Để có nhận thức sâu sắc tình hình tội cướp tài sản, cần tìm hiểu các yếu tố cấu thành của tội này.
9 Tội cướp tài sản gồm có các dấu hiệu pháp lý sau: Một là: Khách thể của tội cướp tài sản Tội cướp tài sản xâm phạm đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến quan hệ nhân thân. Thông qua việc xâm phạm đến nhân thân mà người phạm tội xâm phạm đến quan hệ tài sản.
Nếu không xâm phạm đến quan hệ nhân thân thì người phạm tội không thể xâm phạm đến quan hệ tài sản được. Do vậy cả hai quan hệ xã hội bị xâm hại đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản. Hai là: Mặt khách quan của tội cướp tài sản Hành vi khách quan của tội cướp tài sản thể hiện ở hành vi: dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, hành vi khách quan của tội cướp tài sản là một trong các dạng hành vi sau đây: - Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi của người phạm tội dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tấn công một người nào đó nhằm tước bỏ hoặc làm tê liệt sự phản kháng của họ để dễ dàng chiếm đoạt tài sản.
- Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là trường hợp người phạm tội có lời nói hoặc việc làm để người bị tấn công hiểu rằng nếu không thỏa mãn yêu cầu của người phạm tội, chống cự lại việc chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội sẽ sử dụng vũ lực ngay để xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân. - Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản được hiểu là bất kỳ hành vi nào của người phạm tội đã được thực hiện làm cho chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ quản lý tài sản lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Ví dụ: Hành 10 vi đầu độc hoặc hành vi dùng thuốc gây mê để làm cho nạn nhân chết hoặc ngủ mê man để chiếm đoạt tài sản. Ba là: Chủ thể của tội cướp tài sản Chủ thể của tội cướp tài sản phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Khi thực hiện hành vi khách quan của tội cướp tài sản, người đó phải là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Do tội cướp tài sản là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên người phạm tội cướp tài sản phải là người từ đủ 14 tuổi trở lên. Theo BLHS năm 2015 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà BLHS có quy định khác. Người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật hình sự.
Bốn là: Mặt chủ quan của tội cướp tài sản Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là trạng thái tâm lý của chủ thể khi thực hiện tội phạm. Mặt chủ quan của tội cướp tài sản gồm hai yếu tố: lỗi và mục đích phạm tội. Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi cướp tài sản là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó.
Người phạm tội cướp tài sản phải có mục đích chiếm đoạt tài sản. Việc thực hiện hành vi khách quan đã được trình bày ở trên, chỉ trở thành hành vi phạm tội cướp tài sản nếu việc thực hiện những hành vi đó nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Tức là người phạm tội phải có mục đích chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác thành tài sản của mình. 11 Như vậy, nhân thân người phạm tội cướp tài sản là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của người và các đặc điểm dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể dẫn đến người đó thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự 1999 (Điều 168 BLHS 2015).
Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội cướp tài sản Nghiên cứu nhân thân người phạm tội cướp tài sản nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, đó là sự gia tăng về các phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế tội phạm cướp tài sản. Trong phạm vi của luận văn, tác giả đề cập tới một số ý nghĩa sau đây: Một là: Nghiên cứu nhân thân người phạm tội cướp tài sản giúp cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cướp tài sản. Nguyên nhân của tình hình tội phạm phải là sự tác động qua lại giữa các yếu tố tiêu cực thuộc môi trường sống và các yếu tố tâm - sinh lý tiêu cực thuộc cá nhân con người trong những hoàn cảnh, tình huống nhất định [41, tr. Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm cướp tài sản được hiểu là mối quan hệ tương tác giữa những những nhân tố chủ quan của con người (đặc điểm tâm, sinh lý, thói quen, tính cách.) với các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài làm phát sinh tội phạm cướp tài sản.