Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng 1. Khái niệm * Khái niệm trật tự công cộng Theo “Từ điển từ và ngữ Hán - Việt” của Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb. Văn học, Hà Nội 2003: “Trật tự là tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau.
Mặt khác, theo “Từ điển Bách khoa toàn thư”: TTCC là một mặt của trật tự, an toàn xã hội và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, vệ sinh, văn hóa; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi. Còn dưới góc độ pháp lý, Từ điển Luật học có giải thích cụ thể “trật tự công cộng” là: Trạng thái ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi công cộng. Những nơi phục vụ lợi ích công cộng như đường phố, quảng trường, công viên, bệnh viện, nhà hát, rạp chiếu bóng, bãi biển, khu nghỉ mát… được tổ chức sắp xếp ngăn nắp, các quy ước chung được mọi người tôn trọng, thực hiện nghiêm chỉnh. Quy tắc bắt buộc phải tuân theo để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, thể hiện toàn bộ yêu cầu cơ bản của xã hội về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… [49, tr.
Ngoài ra, trong một nghiên cứu chuyên sâu, PGS. Trần Hải Âu, Vũ Thế Công và tập thể tác giả quan niệm như sau: TTCC là tình trạng xã hội có ổn định, hoạt động của con người tuần tự, được tổ chức theo một quy tắc nhất định và tuân thủ các quy tắc đó tại không gian công cộng để bảo đảm lợi ích chung cho tất cả mọi người trong khi cùng tham gia hoạt động [45, tr.v… Tóm lại, từ các khía cạnh, khái niệm có liên quan nêu trên, theo chúng tôi khái niệm đang nghiên cứu có thể được định nghĩa như sau: TTCC là trạng 7 luan an thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo. * Khái niệm tội phạm Theo quy định của BLHS hiện hành thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. * Khái niệm tội gây rối trật tự công cộng Tội gây rối trật tự công cộng là một loại tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, do vậy khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần được nhìn nhận dưới góc độ khái niệm chung của tội phạm.
Tuy nhiên, về vấn đề này trong khoa học luật hình sự Việt Nam còn nhiều quan điểm khác nhau. Có tác giả cho rằng: Gây rối trật tự công cộng là nhóm các hành vi xâm phạm trật tự công cộng được Nhà nước bảo vệ bằng quy định điều luật trong pháp luật hình sự và đáng bị trừng phạt theo những quy định của điều luật này [52, tr.25]; có tác giả khác lại định nghĩa: xâm phạm trật tự công cộng là những hành vi làm phá vỡ sự ổn định của trật tự công cộng, vi phạm pháp luật, văn hóa, chuẩn mực xã hội, phong tục tập quán đảm bảo trật tự công cộng, làm cản trở hoạt động bình thường, tuần tự của mọi người tại không gian công cộng [52, tr. Quan điểm này có ưu điểm là đã nêu bật được khách thể mà tội phạm xâm phạm đến, nhưng vẫn chưa nêu cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này. 8 luan an Quan điểm khác cho rằng: “Gây rối trật tự công cộng là hành vi làm náo loạn trật tự nơi công cộng” [33, tr.
Quan điểm này mới chỉ nêu định nghĩa hành vi gây rối trật tự công cộng chứ chưa làm rõ khái niệm tội gây rối trật tự công cộng, hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, có quan điểm dựa trên căn cứ là các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (Điều 318) để định nghĩa: “Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” [37, tr. Quan điểm này có điểm hợp lý là phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng trong khái niệm cũng vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm. Tóm lại, khái niệm tội gây rối trật tự công cộng cần thể hiện được đầy đủ các bình diện tương ứng với những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của tội phạm đã nêu trên.
Theo Điều 8 của BLHS hiện hành: Tội gây rối trật tự công cộng là hành vi hò hét, làm náo động, phá phách, hành hung người khác hoặc có hành vi khác làm rối loạn các hoạt động ở những nơi công cộng, gây thiệt hại cho trật tự, an toàn công cộng, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội gây rối trật tự công cộng 1. Về chủ thể Chủ thể của tội gây rối trật tự công cộng bị truy cứu trách nhiệm hình sự là chủ thể thường, theo đó tất cả mọi người khi đạt đến một độ tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS đều có thể là chủ thể của của tội gây rối trật tự công cộng. 9 luan an Đối chiếu quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [18].
Đối với các hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng hậu quả gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội được xác định là không đáng kể, chưa gây ra mức độ hậu quả nghiêm trọng nhưng trước đó người này vi phạm pháp luật về hành vi này, đã có quyết định xử phạt trong lĩnh vực hành chính hoặc đã từng bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Về khách thể Đối với tội gây rối trật tự công cộng thì khách thể bị xâm phạm là trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Ngoài ra hành vi phạm tội còn xâm phạm đến các hoạt động đi lại, làm việc, vui chơi với nguyên tắc an toàn tại nơi công cộng có nhiều người qua lại đồng thời xâm hại đến sức khỏe, tài sản của những người xung quanh. Hành vi này cũng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện những đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước trong quá trình ổn định đời sống của người dân[13].
Về mặt khách quan Đối với mặt khách quan của tội gây rối trật tự công cộng được thể hiện ở 2 phương diện là hành vi khách quan và hậu quả. - Hành vi khách quan Người phạm tội thực hiện hành vi gây rối bằng nhiều phương thức khác nhau như: người có hành vi phạm tội tiến hành tổ chức tụ tập nhiều người làm náo động, gây ồn ào, mất trật tự ở nơi nhiều người sinh hoạt và qua lại; có hành vi đánh nhau làm mất trật tự ở nơi công cộng; hay cố ý phá hoại tài sản của Nhà nước, cơ quan tổ chức, cá nhân ở những nơi đông người. Người có hành vi vi phạm có thái độ coi thường ở những nơi đông người, có những lời nói và hành vi thô bạo làm ảnh hưởng đến người khác, khiến cho những người xung quanh sợ hãi… 10 luan an - Hậu quả Hậu quả do hành vi gây rối trật tự công cộng gây ra là những hậu quả nhất định như sự ổn định an ninh trật tự của xã hội, sức khỏe, tài sản, tinh thần của cộng đồng. Hậu quả là điều bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự với những đối tượng vi phạm lần đầu, còn khi những đối tượng này đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc dã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì hậu quả có thể không phải là bắt buộc.
Trước đây, theo quy định của Điều 245 BLHS 1999 và hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao thì coi là hậu quả của hành vi gây rối trật tự là nếu thuộc một trong các trường hợp sau: - Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ ; - Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân; - Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên; - Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ cho người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.