Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 1. Nhận thức chung về định tội danh 1. Khái niệm định tội danh Định tội danh tối với các tội phạm ma túy là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, làm tiền đề cho việc giải quyết các nhiệm vụ khác của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Quan niệm về khái niệm định tội danh.
Theo quan điểm nghiên cứu GS. Võ Khánh Vinh thì định tội danh chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự: "Định tội danh là một dạng hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định"[30, tr. Trong khi đó, PGS. Dương Tuyết Miên định nghĩa bao gồm cả các chủ thể định tội danh và nêu: "Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện" [16, tr.
Như vậy, các nhà khoa học đều thống nhất ở một số khía cạnh dưới đây: + Định tội danh là hoạt động nhận thức có tính logic của con người về việc có sự phù hợp hay không phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội, có 8 luan an lỗi, xảy ra ngoài thực tiễn khách quan với quy định của pháp luật hình sự về một tội phạm cụ thể; + Định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nếu được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trong các cơ quan đó trên cơ sở quy định của pháp luật. Cũng có tác giả cho rằng bao gồm cả hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng hình sự nếu hiểu định tội danh theo nghĩa rộng; + Định tội danh là cơ sở cho việc quyết định hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự của người phạm tội (trong trường hợp định tội danh chính thức). Từ những quan điểm chính trên, học viên cho rằng: Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xác định, so sánh và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể trong thực tế đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm của điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự quy định, cũng như các quy định khác trong Bộ luật hình sự có liên quan, qua đó làm tiền đề phân tích, đánh giá và ra quyết định về trách nhiệm hình sự cũng như hình phạt của người phạm tội. Đặc điểm của định tội danh Thứ nhất, định tội danh là hoạt động tiến hành tố tụng được tiến hành bởi cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Toà án) và một số cơ quan khác có thẩm quyền.
Thứ hai, việc định tội danh được tiến hành trên cơ sở áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Người định tội danh lựa chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể nào đó được thực hiện trong thực tế khách quan. 9 luan an Thứ ba, hoạt động định tội danh là hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với dấu hiệu pháp lí của cấu thành tội phạm được mô tả trong BLHS. Hoạt động này chính là việc xác định xem dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện có phù hợp với dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể do điều luật tương ứng trong Phần tội phạm BLHS quy định không; trên cơ sở đó, đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã xảy ra trong thực tế khách quan.
Thứ tư, sau khi đối chiếu sự phù hợp giữa dấu hiệu thực tế của cấu thành tội phạm với dấu hiệu pháp lí của cấu thành tội phạm được mô tả trong luật hình sự thì cơ quan có thẩm quyền sẽ đưa ra kết luận người đó phạm vào tội gì theo điều luật nào của BLHS bằng việc ra một quyết định như quyết định khởi tố, truy tố. Như vậy, định tội danh phải dựa vào cấu thành tội phạm cơ bản của tội phạm cụ thể. Định tội danh phải được tiến hành trước, trên cơ sở đó mới có thể tiến hành được việc quyết định hình phạt. Chủ thể của hoạt động định tội danh do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và một số cơ quan khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành.
Ý nghĩa của định tội danh Hoạt động định tội danh của các chủ thể có thể theo 2 xu hướng. Định tội danh đúng hoặc định tội danh sai. - Đối với hoạt động định tội danh đúng: định tội danh đúng làm tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh và có căn cứ. Định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong Nhà nước Pháp quyền như: nguyên tắc pháp chế, trách nhiệm do lỗi, trách nhiệm do cá nhân, bình đẳng trước pháp luật hình sự, nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm.
10 luan an Định tội danh đúng là một trong những cơ sở để áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam về thẩm quyền điều tra, xét xử qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Việc xác định tội danh đúng đối với những tên tội phạm về ma tuý là sự thể hiện hoạt động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật triệt để cũng như ý thức trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp của các cơ quan có thẩm quyền, từ đó góp phần vào công cuộc đấu tranh và phòng chống ma túy và nâng cao uy tín, chất lượng hoạt động của các cơ quan này cũng như hỗ trợ cho việc củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. - Đối với hoạt động định tội danh sai: định tội danh sai sẽ dẫn đến một loạt các hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo được tính công minh có căn cứ đúng pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vô tội, bỏ lọt người tội phạm tội, xâm phạm thô bạo danh dự nhân phẩm các quyền tự do dân chủ của công dân là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận trong Nhà nước. Định tội danh sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế XHCN, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng chống tội phạm.
Điều đó có thể thấy được ý nghĩa của việc định tội danh trong công tác đấu tranh phòng ngừa riêng đối với loại tội này cũng như trong công tác phòng ngừa chung các loại tội phạm khác. Bộ luật hình sự là cơ sở pháp lý duy nhất có ý nghĩa quyết định và quan trọng nhất trong việc định tội danh. Những vấn đề chung về định tội danh các tội phạm về ma túy 1. Khái niệm định tội danh các tội phạm về ma túy BLHS năm 1999 quy định 10 điều luật về tội phạm ma túy gồm: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép 11 luan an chất ma túy (Điều 195); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197); Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198); Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199) (Tội này đã được bãi bỏ từ ngày 01/01/2010 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS ngày 19/6/2009); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200); Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác (Điều 201).
BLHS năm 2015 vẫn tiếp tục giành một chương quy định các tội phạm về ma túy. Đó là Chương XX “ Các tội phạm về ma túy”, bao gồm 13 điều luật (từ Điều 247 đến Điều 259) quy định 13 tội danh, tương ứng với 9 tội danh đã được quy định trong BLHS năm 1999. Trong đó, Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy ( Điều 194 BLHS năm 1999) được tách thành 4 tội danh (Điều 249 đến điều 252 BLHS năm 2015); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy” Điều 200 BLHS năm 1999 được tách thành 2 tội danh (Điều 257, Điều 258 của BLHS 2015). Với việc tách tội danh như trên, BLHS 2015 có điều kiện mô tả cụ thể hơn các hành vi phạm tội, thể hiện rõ hơn sự phân hóa trách nhiệm hình sự, cũng như giảm bớt một số tội phạm về ma túy có hình phạt tử hình được quy định.
Theo BLHS năm 1999 hình phạt tử hình được quy định đối với 4 loại hành vi phạm tội (Điều 194) còn theo BLHS năm 2015 hình phạt này chỉ được quy định đối với hai loại hành vi phạm tội, tương ứng với hai tội danh là tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250) và tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251).