Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI MUA BÁN NGƯỜI 1. Khái quát về của tội phạm mua bán người 1. Khái niệm tội phạm mua bán người Mua bán theo nghĩa thông thường được hiểu là hoạt động trao đổi giữa tiền và hàng hóa, người mua dùng tiền của mình để mua lấy hàng hóa của người bán theo nhu cầu. Mua bán người là một hành vi xâm phạm quyền con người, chính vì thế không được xem xét mua bán người trên hoạt động kinh tế mà phải được xem xét trên góc độ pháp lý, góc độ hình sự và với đạo đức xã hội.
Khái niệm mua bán người và tội phạm mua bán người trong pháp luật quốc tế Hội thảo quốc tế về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em tại Hội nghị 21/12/1999 đã đưa ra khái niệm về mua bán người ra nước ngoài như sau [13]: “Mua bán phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài là hành vi tìm kiếm lừa gạt để đưa phụ nữ, trẻ em ra khỏi biên giới một cách bất hợp pháp nhằm mục đích kiếm lời của bọn tội phạm”. Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế đã đề cập đến khái niệm Mua bán ngươì, nhưng chưa có một khái niệm thống nhất về Mua bán người, cũng như Tội phạm mua bán người. Từ các văn bản pháp luật quốc tế trên có thể thấy đặc điểm chung của tội phạm buôn bán người như sau: 1. Buôn bán người là hành vi mua bán, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người bất hợp pháp.
Mục đích của buôn bán người là bốc lột tình dục, sức lao động, bộ phận cơ thể để thu lợi nhuận bất hợp pháp. Sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hay các hình thức khác nhằm tước quyền tự do của nạn nhân. Khái niệm mua bán người trong pháp luật Việt Nam Pháp luật Việt Nam cũng chưa thống nhất có một khái niệm chính thức về mua bán người. Khái niệm tội phạm mua bán người được đề cập tại một số Hội thảo khoa học và các văn bản pháp luật.
Tại Hội thảo quốc tế về Phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em tại Hà Nội ngày 21/12/1999 đã đưa ra khái niệm về buôn bán người ra nước ngoài như sau: “Mua bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài là hành vi tìm kiếm lừa gạt để đưa phụ nữ và trẻ em ra khỏi biên giới một cách bất hợp pháp nhằm mục đích kiếm lời của bọn phạm tội.” Ngày 29/03/2011, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Phòng chống mua bán người. Tuy nhiên, Luật chỉ quy định các hành vi bị nghiêm cấm, nguyên tắc, chính sách của Nhà nước, phương thức đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán người và trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong Phòng chống mua bán người mà không đưa ra một định nghĩa về “mua bán người” [17]. Các văn bản QPPL khác bảo vệ quyền con người như Luật hôn nhân và gia đình, luật Hiến pháp, luật Dân sự, các nghị định của chính phủ cũng không đưa ra một khái niệm chính thức về mua bán người. Từ hoạt động nghiên cứu các khái niệm mua bán người trong các văn bản pháp luật nêu trên có thể hiểu: Mua bán người là hành vi lừa gạt, dụ dỗ, lôi kéo hoặc các thủ đoạn khác để có được người và dùng người như một hàng hóa để trao đổi lấy tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhằm thỏa mãn mục đích phạm tội.
Khái niệm Tội phạm mua bán người trong PLHS Việt Nam Trước đây, hầu hết các vụ mua bán người đều với nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái. Do vậy, pháp luật Việt Nam chỉ đề cập đến việc mua bán phụ nữ và 7 luan an trẻ em. BLHS năm 1999 có 2 Điều luật liên quan đến vấn đề Mua bán người, giới hạn khách thể của tội phạm là phụ nữ và trẻ em (Điều 119, 120). Dựa vào tình hình thực tế thì mua bán người không chỉ với nạn nhân là phụ nữ và trẻ em mà còn xảy ra với nam giới.
Chính vì thế, ngày 19/06/2009, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS, trên cơ sở BLHS năm 1999, tội “ mua bán phụ nữ - trẻ em” quy định tại điều 199 thành “tội mua bán người” [16]. Hiện nay, tội phạm Mua bán người được quy định tại điều 150 BLHS 2015, nhưng không đưa ra một khái niệm chính thức về Tội phạm Mua bán người mà chỉ nêu…. Tội phạm mua bán người là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quyền tự do của con người, đối tượng phạm tội đã coi con người như một loại hàng hóa để thực hiện hành vi mua bán để trao đổi lấy tiền, tài sản hoặc các lợi ích vật chất khác nhằm thỏa mãn nhu cầu mục đích bên mua và bên bán. Đặc điểm pháp lý của tội phạm mua bán người Khách thể của tội phạm Tội mua bán người xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người.
Đối tượng tác động của tội phạm là con người từ 16 tuổi trở lên. Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện: dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau. - Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền tài sản hoặc các vật chất khác; - Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bốc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; 8 luan an - Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi trên. Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở việc dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi lấy “hàng hóa” là con người.
Người phạm tội đã coi con người như hàng hóa để trao đổi, mua bán. Trong mọi trường hợp, nạn nhân có thể biết hoặc không biết việc trao đổi, mua bán của người thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, để thực hiện hành vi trao đổi, người phạm tội có thể có nhiều hành vi liền trước như dụ dỗ, lừa phỉnh, ép buộc dưới nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau. Khi xác định TNHS cần chú ý tình tiết có liên quan đến thái độ chủ quan của nạn nhân và hành vi thực tế của người phạm tội tránh bỏ lọt tội phạm.
Trong trường hợp đối tượng tác động của tội phạm không phải là người đủ 16 tuổi trở lên thì không CTTP này mà tùy vào từng trường hợp có thể xem xét ở các tội danh khác nhau. Mặt chủ quan của tội phạm Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Chủ thể của tội phạm Tội phạm được thực hiện do người có đủ năng lực TNHS, đạt độ tuổi theo luật định. Thông thường, cả người mua và người bán là chủ thể của tội phạm này.
Hình phạt của Tội mua bán người. Điều 150 BLHS 2015 quy định: Trong khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định hình phạt tù từ năm năm đến mười năm [19]. Trong khoản 2 (cấu thành tăng nặng) quy định hình phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm cho các trường hợp phạm tội sau: Có tổ chức; Vì động cơ đê hèn; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, nếu không 9 luan an thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này; Đưa nạn nhân ra khỏi biên giới nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Đối với từ 02 người đến 05 người; Phạm tội 02 lần trở lên. Trong khoản 3 (cấu thành tăng nặng đặc biệt): quy định hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Có tính chất chuyên nghiệp; Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Làm nạn nhân chết hoặc tự sát; Đối với 06 người trở lên; Tái phạm nguy hiểm.
Ngoài ra, điều luật quy định hình phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản [19]. Cơ sở pháp lý của việc áp dụng pháp luật đối với tội phạm mua bán người * Các quy định tại BLHS 2015: BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung Điều 119 BLHS năm 1999, quy định tội mua bán người tại Điều 150. Trong đó, khoản 1 quy định cấu thành cơ bản; khoản 2, khoản 3 quy định cấu thành tăng nặng; khoản 4 quy định hình phạt bổ sung. Như vậy, BLHS năm 2015 đã phân tích làm rõ trong điều luật về thủ đoạn phạm tội là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng các thủ đoạn khác”; nội dung mô tả hành vi khách quan tương đồng với các quy định của công ước quốc tế về phòng, chống buôn bán người.
Ngoài ra, Điều 150 BLHS còn bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung, như: vì động cơ đê hèn; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; làm nạn nhân chết hoặc tự sát; tái phạm nguy hiểm. Trong CTTP của tội mua bán người quy định tại Điều 150 BLHS năm 2015 đã có những tiến bộ hơn so với quy định tại Điều 119 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), cụ thể: Đã 10 luan an quy định cụ thể hơn về hành vi mua bán người trong mặt khách quan của tội phạm, bao gồm các dạng hành vi như chuyển giao hoặc tiếp nhận người hoặc tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác. Thủ đoạn mà người phạm tội có thể sử dụng là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác. Bên cạnh đó, mục đích phạm tội vì lợi ích vật chất (để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác) không còn là lợi ích duy nhất của cấu thành cơ bản tội mua bán người mà Điều 150 đã bổ sung thêm mục đích: Để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc mục đích vô nhân đạo khác.