Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ PHẠM NHIỀU TỘI 1. Khái niệm về phạm nhiều tội Theo Điều 1 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 về Nhiệm vụ của Bộ Luật hình sự thì: “Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt”. Như vậy Bộ luật hình sự Việt Nam quy định về tội phạm và hình phạt.
Luật hình sự là ngành luật trong hệ thống pháp luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng, tuân theo các nguyên tắc và có các nhiệm vụ riêng. Với tính chất là ngành luật, luật hình sự được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và quy định hình phạt áp dụng đối với người đã thực hiện các tội phạm đó [39, tr. Tội phạm được quy định trong BLHS Việt Nam theo Khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 là “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”. 6 luan an Tội phạm được quy định trong BLHS là tội phạm riêng lẻ và các tội phạm được thực hiện có thể mang tính chất độc lập hoặc có thể liên quan đến nhau.
Thực tế cho thấy rằng, trường hợp phạm tội đơn lẻ xảy ra phổ biến trên thực tế, với số lượng nhiều hơn trường hợp phạm nhiều tội, tuy nhiên trường hợp phạm nhiều tội lại có tính chất, mức độ nguy hiểm lại cao hơn nhiều. Chính vì vậy, các Bộ luật hình sự từ BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và gần đây nhất là BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đều đề cập và quy định khá cụ thể về định tội danh và quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Tuy nhiên các BLHS này đều chưa đưa ra được khái niệm “phạm nhiều tội”. Do đó, trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự về trường hợp phạm nhiều tội thì những người tiến hành tố tụng còn gặp khó khăn trong việc giải quyết các vụ án.
Vì vậy, vấn đề đặt ra chúng ta cần phải hiểu được khái niệm “Phạm nhiều tội”. Để hiểu được đúng nhất về khái niệm “Phạm nhiều tội” thì ta phải hiểu được các khái niệm “phạm tội” và “nhiều”. “Phạm tội” là hành động thực hiện tội phạm, còn “nhiều” là có số lượng lớn hoặc ở mức cao.Theo nghĩa này thì Từ điển luật học đã xây dựng khái niệm phạm nhiều tội như sau theo nghĩa rộng: “Chủ thể có nhiều hành vi phạm tội độc lập hoặc chỉ có một hành vi mà hành vi đã thực hiện đó thỏa mãn cấu thành tội phạm khác nhau thì phạm nhiều tội” [40, tr. Theo nghĩa hẹp thì phạm nhiều tội gắn với hoạt động định tội danh và là một trường hợp đặc biệt trong quyết định hình phạt.
Theo đó, “Phạm nhiều tội là trường hợp người có nhiều hành vi phạm tội hoặc chỉ có một hành vi phạm tội nhưng thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau và bị đưa ra xét xử cùng một lần về các tội phạm đó” [39, tr. Tùy theo các tiếp cận khác nhau, cũng như mục đích nghiên cứu khác nhau để chúng ta chọn khái niệm “phạm nhiều tội” nào là phù hợp nhất đối với mục đích nghiên cứu của mình, còn đối với tác giả thì trong luận văn này tác giả sẽ phân tích trường 7 luan an hợp phạm nhiều tội theo nghĩa hẹp tức là gắn với hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt. Khái niệm phạm nhiều tội đã được quy định tại Luật hình sự của một số nước trên thế giới như: Quy định tại Điều 45 BLHS của Nhật Bản thì: “ Phạm nhiều tội là trường hợp một người thực hiện hai hoặc nhiều tội phạm mà đối với các tội đó chưa có bản án hiệu lực pháp luật của tòa án, khi bản án phạt tù không có quy định lao động bắt buộc hoặc hình phạt nặng hơn của tòa án được tuyên đối với một tội phạm đã có hiệu lực pháp luật thì chỉ có tội phạm đó và tội phạm khác được thực hiện trước khi bản án nói trên có hiệu lực pháp luật mới tạo thành trường hợp phạm nhiều tội. [3]” Điều 17 BLHS Liên bang Nga cũng đưa ra khái niệm về trường hợp phạm nhiều tội: “Phạm nhiều tội là thực hiện hai hay nhiều tội phạm được quy định tại các điều khác nhau hoặc các khoản khác nhau của điều luật mà người phạm tội chưa bị kết án về một tội nào.
Trong trường hợp phạm nhiều tội,người phạm tội chịu trách nhiệm về hình sự từng tội đã phạm theo điều hoặc khoản tương ứng của bộ luật này” [4]. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn tình hình vi phạm pháp luật do pháp nhân thực hiện diễn ra trong thời gian vừa qua, nhất là các hành vi gây ô nhiễm môi trường, buôn lậu, trốn thuế, sản xuất, vận chuyển, buôn bán hàng giả, hàng cấm, trốn đóng bảo hiểm cho người lao động…gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống an lành của người dân và gây mất trật tự, an toàn xã hội; đánh giá những hạn chế của pháp luật hiện hành khi xử lý pháp nhân vi phạm, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp hình sự của một số quốc gia cũng như xu thế chung của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân của các nước trên thế giới; trên cơ sở cân nhắc một cách thận trọng, có đánh giá dựa trên những điều kiện cụ thể của Việt Nam, BLHS năm 2015 đã bổ sung nội dung quan trọng đó là chế định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân 8 luan an thương mại phạm tội [17]. Vì vậy, để phù hợp với pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm “phạm nhiều tội” như sau: “Phạm nhiều tội là trường hợp một người hoặc một pháp nhân thương mại thực hiện nhiều tội phạm được quy định tại các điều luật khác nhau được quy định trong phần các tội phạm của BLHS và người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội chưa bị xét xử về tội nào trong các tội trên”. Đặc điểm của phạm nhiều tội Qua sự phân tích về khái niệm của trường hợp phạm nhiều tội thì có thể thấy trường hợp phạm nhiều tội có một số đặc điểm: Thứ nhất, Người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội thực hiện nhiều hành vi xâm phạm đến nhiều khách thể hoặc một hành vi nhưng xâm phạm đến nhiều khách thể (nhiều quan hệ xã hội) mà gây nguy hiểm cho xã hội.
Vì xâm phạm đến nhiều khách thể nên về mức độ thiệt hại của trường hợp này cũng lớn hơn so với trường hợp phạm tội riêng lẻ dẫn đến việc hậu quả pháp lý của trường hợp này cũng nghiêm khắc hơn nhiều. Thứ hai, các hành vi xâm hại đến các khách thể trên phải được quy định trong các điều luật khác nhau trong phần các tội phạm của BLHS. Vì có nhiều trường hợp các hành vi xâm hại đến các khách thể nhưng các hành vi đó đều được quy định trong cùng một điều luật thì trường hợp này không phải trường hợp phạm nhiều tội. Ví dụ: Trường hợp ông A giết ông B, sau đó ông A giết bà C thì có thể thấy ông A có hành vi xâm phạm đến tính mạng của cả ông B và bà C tuy nhiên ông A chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người với tình tiết tăng nặng là giết nhiều người.
Còn với trường hợp ông D giết ông E, sau đó ông D đi ra ngoài thì phát hiện bà H đang đi xe máy thì đã cướp xe máy của bà H thì có thể thấy ông D có hành vi xâm phạm đến tính mạng của ông D, và xâm phạm đến quyền sở hữu và sức khỏe của bà H nên D sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người và tội Cướp tài sản. 9 luan an Thứ ba, các hành vi trên chưa bị đưa ra xét xử một lần nào về một trong những hành vi đó. Thứ tư, về mức độ gây thiệt hại của tội phạm thì người phạm nhiều tội thường sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với người phạm tội đơn lẻ vì người phạm nhiều tội xâm phạm đến nhiều khách thể khác nhau, còn người phạm tội đơn lẻ chỉ xâm phạm đến một khách thể (trừ trưởng hợp hậu quả gây ra xâm phạm đến một khách thể lớn hơn hậu quả xâm phạm đến nhiều khách thể). Các trường hợp phạm nhiều tội - Trường hợp người phạm tội thực hiện một hành vi phạm tội nhưng hành vi phạm tội đó lại cấu thành hai hay nhiều tội phạm khác nhau.
Trong trường hợp này có thể xảy ra các khả năng sau: Một là, hành vi phạm tội thỏa mãn nhiều cấu thành tội phạm khác nhau. Ví dụ, Hành vi sử dụng vũ khí quân dụng để thực hiện tội phạm. Hành vi này cấu thành hai tội cụ thể là tội “Sử dụng vũ khí quân dụng” và tội phạm đã thực hiện theo điều luật tương ứng trong BLHS. Do đó có thể xác định đây là trường hợp một hành vi cấu thành nhiều tội.
Hai là, hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của hành vi đồng phạm của hai tội khác nhau. Ví dụ, A cùng B đi mua dao, súng để thực hiện việc giết người cướp tài sản. Tuy nhiên, sau đó A vì có việc bận không thể thực hiện kế hoạch giết người cướp tài sản được, B thực hiện việc giết người cướp tài sản đó một mình. Trong trường hợp này, hành vi phạm tội của A đồng thời thỏa mãn dấu hiệu của hành vi đồng phạm tội “giết người” và đồng phạm tội “cướp tài sản”.