phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn đƣợc chia thành 03 Chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cƣớp giật tài sản. Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cƣớp giật tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cƣớp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT TRONG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM CƢỚP GIẬT TÀI SẢN 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật Pháp luật đƣợc hiểu là “Hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nƣớc ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội” [14, tr. Để pháp luật phát huy đƣợc vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội, các qui phạm pháp luật do nhà nƣớc ban hành phải đƣợc thực hiện trong thực tế. Vì vậy thực hiện pháp luật luôn là một nội dung quan trọng trong lý luận nhà nƣớc và pháp luật.
Theo đó, các giáo trình, các công trình nghiên cứu nhƣ: Giáo trình Lý luận nhà nƣớc và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình lý luận chung về nhà nƣớc và pháp luật của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội hoặc cuốn sách Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của TS Nguyễn Thị Hồi chủ biên… đều khẳng định thực hiện pháp luật là giai đoạn thứ hai, sau khi đã tiến hành giai đoạn xây dựng pháp luật và là giai đoạn quan trọng, không thể thiếu vì pháp luật chỉ có thể phát huy đƣợc vai trò, giá trị trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi đƣợc tôn trọng, thực hiện đầy đủ, nghiêm minh. Theo Giáo trình Lý luận nhà nƣớc và pháp luật của Đại học Luật Hà Nội thì “thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [7, tr. Tƣơng tự nhƣ vậy, Giáo trình Lý luận chung về nhà nƣớc và pháp luật của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Thực hiện pháp luật là một quá trình 9 hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [20, tr. Định nghĩa nêu trên nhận đƣợc sự đồng thuận của nhiều tác giả khi nghiên cứu về thực hiện pháp luật, ví dụ nhƣ: TS Nguyễn Minh Đoan trong cuốn Thực hiện và áp dụng pháp luật ở Việt Nam [8, tr.15] hay TS Ngọ Văn Nhân trong cuốn Xã hội học pháp luật [23, tr.
Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Thị Hồi thì các khái niệm nêu trên vẫn chƣa thể hiện đƣợc đầy đủ nhất nội hàm của khái niệm về thực hiện pháp luật [14, tr.12-16], lý do là: Không phải hành vi thực hiện pháp luật nào cũng phải là một quá trình hoạt động, vì có những trƣờng hợp thực hiện pháp luật chỉ là những hành vi đơn lẻ (ví dụ: Hành vi dừng lại trƣớc đèn đỏ khi đi đƣờng); Không phải trong tất cả các trƣờng hợp, chủ thể thực hiện pháp luật đều nhằm mục đích đƣa pháp luật vào cuộc sống, mà đa số các chủ thể đều nhằm thực hiện những mục đích riêng của mình, vì những hành vi hợp pháp đƣợc thực hiện trong trƣờng hợp chủ thể chƣa hoặc không nhận thức đƣợc tại sao phải làm nhƣ vậy hoặc do kết quả của việc áp dụng các biện pháp cƣỡng chế nhà nƣớc hoặc do sợ bị áp dụng các biện pháp đó thì không thể coi là có mục đích đƣa các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống. Do vậy, TS Nguyễn Thị Hồi cho rằng: “Thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật”. Trong cuốn Lý luận Nhà nƣớc và pháp luật, khi định nghĩa về thực hiện pháp luật, GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu cũng không đề cập đến yếu tố “có mục đích” của các chủ thể pháp luật [31, tr.
Mặc dù có những điểm khác nhau nhất định khi đƣa ra định nghĩa, song các tác giả, các công trình nghiên cứu nêu trên đều nhận thấy thực hiện pháp luật có các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản nhƣ: (i) Thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc không hành động) hợp pháp, nghĩa là hành vi đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật; (ii) Thực hiện pháp luật phải là hành vi xác định hay xử sự thực tế của 10 con người và (iii) Thực hiện pháp luật là xử sự của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định pháp luật. Ngoài ra, trên cơ sở yêu cầu của Nhà nƣớc đối với các chủ thể đƣợc thể hiện trong các quy định của pháp luật khá đa dạng nên cách thức thực hiện các quy định đó cũng khác nhau, có thể bằng hành động tích cực, song cũng có thể bằng không hành động của chủ thể. “Thực hiện pháp luật là quá trình các thành viên trong xã hội thực hiện các hành vi xử sự theo yêu cầu của pháp luật dưới những hình thức và tính chất thực hiện khác nhau nhưng cùng nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật được thực hiện, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước và xã hội” [7, tr.227-229] Dƣới góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật làm cho chúng đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Từ những phân tích trên về thực hiện pháp luật, có thể đƣa ra khái niệm về tổ chức thực hiện pháp luật nhƣ sau: Tổ chức thực hiện pháp luật là quá trình hƣớng dẫn, chuẩn bị các nguồn lực, điều kiện đảm bảo nhƣ con ngƣời, tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất để nhằm đƣa pháp luật vào cuộc sống.
Khái niệm pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm cướp giật tài sản Các quan điểm trong khoa học pháp lý hiện nay đều thống nhất cho rằng: phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm.hay không để cho tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm soát đƣợc tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, cũng nhƣ có các biện pháp cải tạo, giáo dục ngƣời phạm tội, đƣa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho cộng đồng. 11 Phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nƣớc và tổ chức xã hội và của mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hƣớng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng nhƣ loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hƣởng đến quá trình hình thành tội phạm, đồng thời từng bƣớc hạn chế, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Đấu tranh chống tội phạm đƣợc tiến hành theo phƣơng châm nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và ngƣời phạm tội, tránh làm oan ngƣời vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo ngƣời phạm tội, hình thành thói quen phản ứng tích cực và hƣởng ứng của Nhà nƣớc và xã hội đối với tội phạm. Tội cƣớp giật tài sản, đƣợc hiểu là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của ngƣời khác một cách nhanh chóng và bất ngờ rồi tẩu thoát để tránh sự phản kháng của chủ sở hữu hoặc ngƣời quản lý tài sản.
Hình phạt và tội danh Tội cƣớp giật tài sản đƣợc quy định tại điều Điều 171 - Bộ luật hình sự năm 2015. Dấu hiệu pháp lý tội cướp giật tài sản: Khách thể: Khách thể của Tội cƣớp giật tài sản cũng tƣơng tự nhƣ tội cƣớp tài sản và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là cùng một lúc xâm phạm đến hai khách thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân), nhƣng chủ yếu là quan hệ tài sản. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay nhiều vụ cƣớp giật tài sản đã gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khoẻ của ngƣời bị hại nhƣ các vụ cƣớp giật của ngƣời đang điều khiển xe đạp, xe máy làm cho những ngƣời này ngã xe gây tai nạn. Mặc dù những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ không phải là đối tƣợng mà ngƣời phạm tội nhằm vào, nhƣng trƣớc khi thực hiện hành vi cƣớp giật, ngƣời phạm tội nhận thức đƣợc tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhƣng vẫn thực hiện, muốn ra sao thì ra.
Cũng chính vì vậy Bộ luật hình sự năm 2015 khi quy định tội cƣớp giật tài sản đã đƣa vào trong cấu thành dấu hiệu về thiệt 12 hại đến tính mạng, sức khoẻ và coi đây là những tình tiết định khung hình phạt. Khẳng định khách thể của tội cƣớp giật tài sản là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân không chỉ đúng với lý luận mà còn phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay. Chủ thể: Chủ thể của tội cƣớp giật tài sản đƣợc quy định tại Điều 12, Điều 9, Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015. Theo đó thì chủ thể của tội cƣớp giật tài sản là cá nhân (ngƣời) từ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự không có chủ thể là pháp nhân.
Mặt khách quan: Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con ngƣời có thể trực tiếp nhận biết đƣợc. Đó là: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng nhƣ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội. Tổng hợp những biểu hiện trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm.