phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể là: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội phạm. Chƣơng 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Các biện pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội trong thời gian tới. 8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẮN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1.1 Khái niệm, nguyên tắc, mục đích ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tình hình tội phạm Tội phạm phát sinh luôn gây ra những tác hại to lớn đối với xã hội, con người. Do vậy các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam đều kiên quyết đấu tranh phòng ngừa tội phạm.Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ đều xây dựng những đạo luật khác nhau để đấu tranh, xử lý và ngăn chặn tội phạm.
Trong giai đoạn hiện nay, tội phạm ngày càng gia tăng cả về số vụ và tính chất phức tạp cũng như mức độ tinh vi và phương thức, thủ đoạn. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 của BLHS năm 2015 thì: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải xử lý hình sự. Phòng ngừa chính là phát hiện những nhân tố nguyên nhân, điều kiện dẫn đến tội phạm áp dụng các biện pháp cần thiết để loại trừ những nguyên nhân, điều kiện hoặc hạn chế tác hại những hành vi phạm tội do các nguyên nhân điều kiện đó gây ra. Về tình hình tội phạm: Tình hình tội phạm là khái niệm cơ bản đầu tiên của khoa học tội phạm học.
Đây là một thuật ngữ khoa học, nhưng đồng thời 9 cũng là một thuật ngữ thường được dùng trong ngôn ngữ thông dụng, đời thường. Có rất nhiều những quan điểm về định nghĩa của tình hình tội phạm nhưng nhìn chung nhất thì: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất các loại tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một thời gian nhất định” [56, Tr.10] Từ khái niệm tình hình tội phạm nói trên, ta có thể thấy một số đặc điểm của phòng ngừa tình hình tội phạm như sau: Thứ nhất,phòng ngừa nói chung, theo từ điển bách khoa:“ là một cái gì đó trước khi sự việc hiện tượng diễn ra nhằm ngăn chặn không để xẩy ra hậu qủa“. Quan điểm này thường được áp dụng đối với các hiện tượng xấu, phức tạp, ảnh hưởng tới cuộc sống con người và xã hội.tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực, nên tương tự tình hình tội phạm cần phải được phòng ngừa, ngăn chặn hay nói cách khác, phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động mang tính tất yếu. ( 37, Tr328) Thứ hai,Phòng ngừatình hình tội phạm là đối tượng nghiên cứu của tội phạm học và cũng là mục đích cuối cùng của tội phạm học.
Tội phạm nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên nhân điều kiện của tình hình tội phạm, nhân thân người phạm tội.phát hiện quy luật phát sinh, tồn tại và vận động của tình hình tội phạm để tìm ra các biện pháp tác động vào quy luật đó nhằm mục đích cuối cùng là không để tội phạm xẩy ra. Thứ ba,Tội phạm học có mục đích đưa ra những kiến nghị về các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khao học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn tại và phát triển của tội 10 phạm, đồng thời khắc phục được những nguyên nhân và điều kiện tội phạm.( Trịnh Tiến Việt Tr47) Thứ tư,chủ nghĩa Mác –Lenin cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, xong“ với bản chất tốt đẹp của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả. Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phậm của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói „ Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn ’’. Câu nói này của Người đã thể hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của nhà nước ta – lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt. Thứ năm,theo GS. Nguyễn Xuân Yên:“ phòng ngừa tội phạm là tổng hợp các biện pháp có quan hệ tác động lẫn nhau, được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm và hạn chế, loại trừ những nguyên nhân sinh ra tội phạm( 47) Thứ sáu,GS.
Đỗ Quang Lại chỉ ra phòng ngừa tội phạm theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xẩy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Mặt khác, bằng mọi cách để ngăn chăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội; theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xẩy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nướctrong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội“ ( 47). 11 Thứ bẩy: PGS.TS Nguyễn Chí Dũng và tập thể tác giả định nghĩa:“ Phòng ngừa tội phạm là sử dụng các phương pháp, chiến thuật, biện pháp, phương tiện nghiệp vụ cần thiết, với sự tham gia của các lực lượng nhằm khắc phục mọi nguyên nhân, điều kiện không để tội phạm phát sinh, phát triển’’ ( 47) Thứ tám: Theo GS.TS Võ Khánh “ Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước- xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa ( làm yếu, hạn chế) chúng bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm. Thứ chín: GS.
Nguyễn Ngọc Hòa đã đưa ra khái niệm này dưới góc độ tội phạm học: Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và laoij trừ dần những nhóm nguyên nhân này. Thứ mười: theo từ điển Luật học định nghĩa: ’’ Phòng ngừa tội phạm là ngăm ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành’’. Trên cơ sở tổng hợp các các quan điểm khoa học đã nêu, kết hợp với thực tiễn đấu tranh và phòng chống tội phạm ở nước ta trong thời gian vừa qua, dưới góc độ tội phạm học, có thể định nghĩa khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội và mọi công dân trong xã hội áp dụng tổng hợp và đồng bộ các biện pháp khác nhau hướng vào thủ tiêu những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như loại bỏ các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến quá trình hình thành tất 12 cả nhân tố tiêu cực, đồng thời từng bước hạn chế, đẩy luaif và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Nói một cách ngắn gọn khác, phòng ngừa tội phạm là một bộ phận cấu thành của lý luận tội phạm học, đồng thời là hoạt động của toàn xã hội trong việc tìm ra các nguyên nhân phát sinh tội phạm, khắc phục cũng như để ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khởi đời sống xã hội{ 47} 1.2 Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm Khoa học nghiên cứuvề tội phạm học của Việt Nam hiện nay, các nhà khoa học sử dụng hai thuật ngữ là “phòng ngừa tội phạm” và “phòng ngừa tình hình tội phạm”.
“Phòng ngừa tội phạm” không chỉ là phòng ngừa tội phạm cụ thể (cái riêng) và “Phòng ngừa tình hình tội phạm” cũng không chỉ giới hạn ở mức độ phòng ngừa toàn bộ tình hình tội phạm (cái chung) mà không kết hợp với phòng ngừa tội cụ thể. Thực chất, về mặt nội hàm thì cả hai thuật ngữ trên đều thể hiện phòng ngừa tội phạm ở tất cả các mức độ: tình hình tội phạm là của chung, tội phạm là chung. Tình hình tội phạm chỉ có thể biểu hiện nó diễn ra, hàng trăm ngàn lần, sau đó mới đi tìm quy luật của nó. Phòng ngừa tình hình tội phạm được hiểu theo hai quan điểm.
Quan điểm thứ nhất cho rằng phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm cả hoạt động phòng và chống tội phạm. Quan điểm thứ hai coi phòng ngừa tình hình tội phạm chỉ bao gồm hoạt động tác động và nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhằm ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra. Võ Khánh Vinh thì: Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội, và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu, hạn 13 chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm.