Chương 1: Những vấn đề chung về tội chống người thi hành công vụ. Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây. Chương 2: Nguyên nhân và điều kiện của tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Một số vấn đề dự báo tội phạm chống người thi hành công vụ trong thời gian tới.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. 3 KLTN: Phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ. Tài liệu tham khảo. 4 KLTN: Phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ.
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ. TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHỐNG NGƢỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY. Những vấn đề chung về tội chống ngƣời thi hành công vụ và quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội chống ngƣời thi hành công vụ qua các thời kỳ lịch sử Để hiểu rõ tội chống người thi hành công vụ ta cần phân tích các thuật ngữ trong nó. Trước hết, cần phải hiểu thế nào là “công vụ”? Công vụ là chức năng tổ chức và hoạt động của nhà nước nhằm ổn định, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ nhân dân thông qua hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước, là toàn thể công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước và toàn bộ quy chế (luật, văn bản pháp luật ) về công chức [15-tr.
Và trong bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết rằng: “Công vụ là một hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội”. Nội dung này cũng phù hợp với cách giải nghĩa trong từ điển học và bách khoa thư Việt Nam. Rõ ràng, công vụ phải là việc công, do công chức nhân danh Nhà nước thực hiện. Nếu lợi dụng chức quyền để triển khai những việc nhằm trục lợi cho bản thân, không nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân và xã hội, thì không thể coi đó là công vụ.
“ Người thi hành công vụ” là khái niệm tiếp theo được tìm hiểu. Khái niệm người thi hành công vụ không được Bộ luật hình sự cũng như các văn bản về xử lý vi phạm hành chính giải thích. Nhưng tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29.1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã hướng dẫn: “ Người thi hành công vụ là người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình và cũng có thể là những công dân được huy động làm nhiệm vụ (như: tuần tra, canh gác,…) theo kế hoạch của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội”. PHẠM THÁI SVTH: Nguyễn Huỳnh Tứ 1 KLTN: Phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ.
Còn theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì: “ Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”. Như vậy, các quy định nêu trên cùng các quy định khác về cán bộ, công chức và công vụ thì để xác định người thi hành công vụ phải xác định ở hai khía cạnh. Thứ nhất về chủ thể, người thi hành công vụ phải là cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội hoặc cũng có thể là một công dân bất kỳ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Thứ hai về phạm vi nhiệm vụ thực hiện, chỉ có thể được coi là thi hành công vụ khi công việc mà họ làm phải thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội.
“ Chống người thi hành công vụ” là khái niệm cuối cùng được đề cập. Chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật [16-tr. Chống người thi hành công vụ là hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 quy định tội chống người thi hành công vụ thì tội này đã được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự trước đó.
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985 Ngay khi nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời, để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong đó có những văn bản pháp luật hình sự. Và tội chống người thi hành công vụ là một tội được quy định muộn hơn so với các tội khác. Đến khi Sắc luật 03/SL-76 do Hội GVHD: ThS. PHẠM THÁI SVTH: Nguyễn Huỳnh Tứ 2 KLTN: Phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ.
đồng chính phủ Cách Mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam ban hành vào ngày 15 tháng 3 năm 1976, quy định các tội phạm và hình phạt thì tội này mới được quy định. Sắc luật này có 4 chương, 11 điều quy định các nhóm tội khác nhau: tội phản cách mạng, tội xâm phạm trật tự công cộng, tội xâm phạm đến thân thể và đời sống nhân dân, tội phạm kinh tế, tội lạm dụng chức vụ và quyền hạn; tội đưa, nhận hối lộ, tham ô; nguyên tắc lượng hình và hình phạt phụ. Hành vi chống người thi hành công vụ là một dạng hành vi thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự công cộng được quy định tại Điều 9 của Sắc luật này [36]. Và Điều 9 này đã được Thông tư số 03/BTP-TT ngày 15 tháng 4 năm 1976 của Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành.
Tội chống người thi hành công vụ trước năm 1999, theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam được ban hành ngày 27/6/1985 đã kế thừa kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm những năm trước đây. Bộ luật năm 1985 đã quy định tội chống người thi hành công vụ thành một tội độc lập tại Điều 205 thuộc chương “Các tội xâm phạm an ninh trật tự công cộng, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính”. Khoản 1 quy định cấu thành cơ bản và khoản 2 quy định cấu thành tăng nặng. Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định như sau: “1.
Người nào dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109 thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 10 năm.” Như vậy, theo tiến trình lịch sử tội chống người thi hành công vụ đã được quy định trong các văn bản của mỗi thời kì lịch sử và phù hợp với thời điểm đó. Do đó, sự quy định về tội chống người thi hành công vụ trong các văn bản trên sẽ có sự khác biệt nhất định và sẽ được phân tích rõ ở phần sau. PHẠM THÁI SVTH: Nguyễn Huỳnh Tứ 3 KLTN: Phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ.
Dấu hiệu pháp lý hình sự của tội chống ngƣời thi hành công vụ theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành Trong Bộ luật hình sự năm 1999 thì tội chống người thi hành công vụ được quy định trong một chương riêng cùng các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự hiện hành như sau: 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội nhiều lần; c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; d) Gây hậu quả nghiêm trọng; e) Tái phạm nguy hiểm.
So với Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 có những sửa đổi, bổ sung như sau: Nếu khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và Điều 109…”, thì khoản 1 Điều 257 không còn quy định tình tiết này nữa, vì quy định đó là không cần thiết. Nếu khoản 1 Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định: “Người nào dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép họ thực hiện những hành vi trái pháp luật” thì khoản 1 Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật” (thêm hành vi cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ). PHẠM THÁI SVTH: Nguyễn Huỳnh Tứ 4 KLTN: Phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ.