CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm 1. Khái niệm tình hình tội phạm Trong các tài liệu tội phạm học, chúng ta thường nhìn thấy các thuật ngữ: tình hình tội phạm, tình hình tội phạm về ma túy, tình hình tội phạm về tham nhũng, tình hình tội phạm giết người.Nghiên cứu về tình hình tội phạm giúp ta hiểu được “bức tranh” toàn cảnh về tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc một tội nào đó trong một không gian, thời gian nhất định). Hiện nay vẫn có nhiều luồng quan điểm khác nhau về khái niệm của tình hình tội phạm.
Một luồng quan điểm cho rằng thuật ngữ “tình hình tội phạm” chỉ tội phạm nói chung, còn một luồng quan điểm cho rằng “tình hình tội phạm” chỉ trạng thái, xu thế vận động của tội phạm. Có vấn đề như trên bởi lẽ xuất phát từ nguyên nhân hiện nay có hai ngành khoa học là ngành khoa học luật hình sự và ngành tội phạm học cùng có chung một đối tượng nghiên cứu là hiện tượng tội phạm. Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần phải làm rõ, khoa học luật hình sự nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng bị pháp luật coi là tội phạm, khoa học luật hình sự phục vụ việc quy định tội phạm trong luật cũng như phục vụ việc giải thích và nhận thức luật để áp dụng; còn đối với ngành tội phạm học nghiên cứu tội phạm theo nghĩa là nghiên cứu hiện tượng tội phạm đã xảy ra trên thực tế. Nếu xem xét tình hình tội phạm trong xã hội, ta sẽ thấy nó không phải là luôn luôn ở trạng thái tĩnh mà ngược lại, tùy từng giai đoạn lịch sử, nó có thể ở trạng thái tăng hoặc giảm với các mức độ khác nhau nghĩa là nó luôn ở xu thế động; Mặt khác, khi tìm hiểu về tình hình tội phạm, ta sẽ thấy trong đó có nhiều sự kiện có quan hệ với nhau, ảnh hưởng với nhau ở mức độ nhất định.
Ví dụ như: Tình hình tội phạm bao giờ cũng gắn với một không gian và thời gian nhất định, không có tội phạm nào không có không gian và thời gian nhất định, trừ khi chúng chưa được 6 phát hiện; thực trạng của tình hình tội phạm sẽ cho chúng ta thấy được xu hướng, diễn biến của tình hình tội phạm; cơ cấu của tình hình tội phạm sẽ làm rõ được tính chất của tình hình tội phạm… Theo GS. Nguyễn Xuân Yêm: “Tình hình tội phạm là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định”.TS Nguyễn Ngọc Hòa: “THTP là trạng thái, xu thế vận động của các tội phạm (hoặc nhóm tội phạm hoặc loại tội phạm) đă xảy ra trong đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định.TS Võ Khánh Vinh: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý - hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính chất giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định” [50]. Phân tích những quan điểm trên, theo tác giả khái niệm của GS.TS Võ Khánh Vinh về “tình hình tội phạm” mang tính khái quát, bao hàm nhất. Từ cơ sở này, trong phạm vi của luận văn có thể đưa ra khái niệm về “tình hình tội phạm trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” là một hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự, bao gồm tổng thể thống nhất các tội phạm thực hiện trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm Cũng giống như thuật ngữ về tình hình tội phạm, thuật ngữ về “phòng ngừa tình hình tội phạm” hiện cũng có nhiều luồng quan điểm khác nhau. Lý luận về tội phạm học hiện nay tồn tại hai thuật ngữ là “phòng ngừa tội phạm” và “phòng ngừa tình hình tội phạm”. Đỗ Ngọc Quang chỉ ra phòng ngừa tội phạm theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, phòng ngừa tội phạm bao hàm, một mặt không để cho tội phạm xảy ra, thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Mặt khác, bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo, giáo dục người phạm 7 tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội; theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội” [22].
Theo Từ điển Luật học định nghĩa: “Phòng ngừa tội phạm là ngăn ngừa tội phạm và loại trừ các nguyên nhân phát sinh tội phạm bằng toàn bộ những biện pháp liên quan với nhau do cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội tiến hành” [18]. Nguyễn Ngọc Hòa đã đưa ra khái niệm này dưới góc độ tội phạm học cũng tương đối hợp lý như sau: “Phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này. Theo Giáo trình Tội phạm học của trường Đại học Luật Hà Nội, “Phòng ngừa tình hình tội phạm là việc áp dụng một cách tổng thể các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức vcông dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm tội phạm và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội”[40, tr.TS Võ Khánh Vinh khẳng định,“Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm” [50, tr. Từ những quan điểm nêu trên, tựu trung lại chúng ta thấy nội hàm hai thuật ngữ “phòng ngừa tội phạm” và “phòng ngừa tình hình tội phạm” có cùng nội dung đó là sử dụng hệ thống các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước – xã hội để tác động vào hệ thống các nguyên nhân và điều kiện của tình tội phạm nhằm làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Tuy 8 nhiên vì thuật ngữ “tình hình tội phạm” phản ánh diễn biến tình hình thực tế hoạt động của các loại tội phạm, vì vậy, theo tác giả thuật ngữ “phòng ngừa tình hình tội phạm” mang tính bao hàm hơn, phù hợp hơn về mặt lý luận. Như vậy, chúng ta có thể hiểu phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn quận Liên Chiểu là hệ thống các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội để tác động vào hệ thống các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên địa bàn quận Liên Chiểu, từ đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm trên địa bàn quận. Ý nghĩa của công tác phòng ngừa tình hình tội phạm Trong công tác tư pháp (xét xử), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xét xử là tốt, nhưng nếu không phải xét xử thì càng tốt hơn” [21]. Câu nói này của Người đã thể hiện phương châm rất quan trọng trong đường lối xử lý của Nhà nước ta - lấy giáo dục, phòng ngừa là chính, phòng ngừa tốt cũng chính là chống tội phạm tốt.
Tập trung xây dựng và xác định công tác phòng ngừa là nội dung quan trọng và hàng đầu. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội, hoạt động của các loại tội phạm ngày một tinh vi, và luôn luôn có những hoạt động mới nhằm đạt được mục đích phạm tội của mình. Công tác phòng ngừa tình hình tội phạm từ đó càng có ý nghĩa, vai trò quan trọng hơn. Chỉ thị số 48-CT/TW “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới” đã chỉ rõ: “Các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm, xác định công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của mình; đề ra các nghị quyết, chương trình để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, kế hoạch phòng, chống tội phạm; định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, kịp thời giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phòng, chống tội phạm.
Như vậy, trong công tác chỉ đạo của mình, Đảng ta luôn xác định công tác 9 phòng ngừa tình hình tội phạm phải được ưu tiên trước công tác đấu tranh chống tội phạm. Làm tốt công tác phòng ngừa tình hình tội phạm giúp giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của xã hội, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của mọi người dân. Đối với các cơ quan nhà nước như cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn, nếu làm tốt công tác phòng ngừa sẽ giảm đáng kể khối lượng công việc phải giải quyết, giải phóng áp lực về nhiều mặt như công tác cán bộ, ngân sách hoạt động, chất lượng công tác của các cơ quan trên, đồng thời, nếu thực hiện tốt các nội dung phòng ngừa thì niềm tin của quần chúng nhân dân đối với hoạt động của cơ quan này là rất lớn góp phần cộng hưởng đến việc giúp đỡ của quần chúng nhân dân đối với công tác của lực lượng này, các mối quan hệ trên nếu liên tục biện chứng cho nhau sẽ góp phần rất lớn kéo giảm tình hình tội phạm. Từ những nội dung trên có thể thấy phòng ngừa tình hình tội phạm có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng và phát triển nhiều mặt của đời sống xã hội.