Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI GIẾT NGƯỜI 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội giết người 1. Khái niệm nhân thân người phạm tội Trong lý thuyết tội phạm học, có nhiều quan điểm về nhân thân người phạm tội. Quan điểm duy tâm thì lý giải về nguồn gốc hành vi của con người nói chung, hành vi phạm tội của người phạm tội nói riêng chịu sự điều chỉnh của đấng siêu nhân, của lực lượng vô hình không tồn tại trong hiện thực khách quan.
Xuất phát từ quan điểm sinh học các nhà tội phạm học tư sản, cho rằng tội phạm có tính chất chống xã hội bẩm sinh và một trong những động lực thúc đẩy tội phạm là do ảnh hưởng không nhỏ của yếu tố di truyền. Học thuyết Mác - Lênin khẳng định: Bản chất con người lại là cái chung nhất, sâu sắc nhất và có tính lịch sử và là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Đồng thời một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của con người đó là kết quả của sự tác động qua lại giữa phẩm chất tâm lí tiêu cực của con người với những yếu tố môi trường xã hội tiêu cực. Chính vì vậy, tội phạm chỉ có thể do con người gây ra, tuy nhiên tội phạm không xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người trong xã hội, tức là trong lịch sử xã hội loài người, tội phạm chỉ xuất hiện trong một điều kiện xã hội nhất định.
Nhân thân người phạm tội là một khái niệm, một phạm trù rộng được nghiên cứu bởi nhiều chuyên ngành khoa học pháp lý khác nhau như Khoa học Luật hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Khoa học điều tra hình sự, Tội phạm học… Mỗi ngành khoa học pháp lý này lại có cách nghiên cứu, tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau và có những ý nghĩa khác nhau trong đời sống xã hội. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội dưới góc độ của khoa học Luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội (về các mặt tâm sinh lý xã hội, về nhân chủng học, dân tộc học), những đặc điểm có giá trị nhất định, 8 cần thiết cho việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta, đặc biệt là cho việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội [13, tr. Trong tội phạm học, nhân thân người phạm tội được coi “là tổng hòa các yếu tố, các đặc điểm riêng biệt của người phạm tội ở địa bàn hành chính - lãnh thổ nhất định trong một khoảng thời gian nhất định về các mặt tâm - sinh lý - xã hội, nhân khẩu, nhân chủng học, dân tộc học và pháp lý, những cái có ý nghĩa, có giá trị thiết thực cho việc xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để có giải pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp [13, tr. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội tạo cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có đủ cơ sở cho việc xác định một cách chính xác về nguyên nhân và điều kiện của tội phạm, đặc biệt là nhóm nguyên nhân và điều kiện xuất phát từ phía người phạm tội, có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt, quyết định trách nhiệm hình sự phù hợp.
Ngoài ra, việc nghiên cứu còn tạo cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục cải tạo người phạm tội một cách phù hợp từ đó xây dựng các biện pháp dự báo và phòng ngừa các loại tội phạm trong xã hội một cách hiệu quả nhất. Trong số các định nghĩa về nhân thân người phạm tội, việc coi nhân thân “là tổng thể tất cả các dấu hiệu, đặc điểm có ý nghĩa về mặt xã hội, trong sự kết hợp với các điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài ảnh hưởng đến hành vi phạm tội của người phạm tội”là thể hiện rõ bản chất của khái niệm này [45, tr. Tội giết người trong luật hình sự và nhân thân người phạm tội giết người 1. Tội giết người trong luật hình sự Việt Nam Tội giết người được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2009) và Điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đây là tội được quy định đầu tiên trong chương Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân. Các yếu tố cấu thành tội giết người bao gồm: Một là: Khách thể của tội phạm Tội phạm này xâm phạm đến quyền sống của con người. 9 Đối tượng tác động của tội phạm giết người là con người cụ thể và đang sống. Thời điểm bắt đầu của một người đang sống tính từ thời điểm sinh ra và kết thúc khi họ tắt thở (sự sống thật sự chấm dứt).
Hai là: Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan trái pháp luật của tội giết người là hành vi tước bỏ trái pháp luật tính mạng của người khác. Hành vi tước bỏ tính mạng của người khác được hiểu là hành vi có khả năng gây cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của con người cụ thể nào đó. Hành vi đó có thể được thực hiện bằng hành động như: Bắn, chém, đâm. cũng có thể thực hiện bằng không hành động như: không cho ăn, không cho uống nước.Việc không hành động của họ đã gây ra cái chết cho người khác.
Hành vi tước bỏ tính mạng của chính bản thân mình hoặc hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép đều không phải là hành vi khách quan của tội giết người. Hậu quả của tội phạm giết người có thể làm cho nạn nhân chết hoặc vì những nguyên nhân khách quan mà nạn nhân chỉ bị thương tích. Tội phạm giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người xảy ra. Để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người cần xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tước bỏ tính mạng của người khác và hậu quả xảy ra.
Ba là: Mặt chủ quan của tội phạm Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Trong trường hợp lỗi cố ý gián tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có khả năng nguy hiểm đến tính mạng của người khác, thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng người phạm tội vẫn để mặc cho hậu quả đó xảy ra. 10 Trong thực tiễn việc xác định lỗi cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp có trường hợp đơn giản nhưng cũng có những trường hợp hết sức phức tạp, phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của vụ án đó mới xác định được. Mục đích phạm tội và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội phạm giết người.
Bốn là: Chủ thể của tội phạm Chủ thể của tội phạm giết người là những người có đủ điều kiện chung về chủ thể, tuổi từ đủ 14 trở lên. Khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định như sau: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Giết 02 người trở lên; b) Giết người dưới 16 tuổi; c) Giết phụ nữ mà biết là có thai; d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác; h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ; k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp; l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người; m) Thuê giết người hoặc giết người thuê; n) Có tính chất côn đồ; o) Có tổ chức; p) Tái phạm nguy hiểm; q) Vì động cơ đê hèn. Khoản 2 Điều luật này quy định cụ thể: phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Khoản 3 quy định: người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy: Khung cơ bản được quy định tại Khoản 2 Điều 123, khung này có mức phạt tù từ 07 đến 15 năm, áp dụng với các trường hợp giết người không có tình tiết định khung tăng nặng quy định tại Khoản 1 Điều 123. Khoản 2 là các trường hợp giết người có tình tiết định khung tăng nặng và mức phạt tù từ 12 đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình. So với Khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự 1999 thì tình tiết giết 11 nhiều người được thay bằng tình tiết giết từ 02 người trở lên. Điều này về cơ bản là giống nhau vì trước đây đã có văn bản hướng dẫn về trường hợp giết nhiều người là giết từ 02 người trở lên.
Quy định này thể hiện cụ thể hơn. Tình tiết giết trẻ em được thay bằng giết người dưới 16 tuổi. Cũng giống như trên, tình tiết này chỉ để lồng ghép những nội dung đã được hướng dẫn trong các văn bản trước đây. Về bổ sung trường hợp chuẩn bị phạm tội, trước đây BLHS quy định người chuẩn bị phạm đối với khung hình phạt có hình phạt tối đa là chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất là 20 năm tù thì nay đã thay bằng quy định mới cụ thể hơn là từ 1-5 năm tù.
Quy định này là phù hợp vì người chuẩn bị phạm tội chưa gây hậu quả, thiệt hại gì, mặc dù ý thức của họ là đã có ý định phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng hình phạt 20 năm tù đối với những người này là chưa phù hợp. Ý nghĩa nhân thân người phạm tội giết người Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm nhân thân người phạm tội nói chung và các yếu tố cấu thành của tội giết người có thể định nghĩa nhân thân người phạm tội giết người như sau: Nhân thân người phạm tội giết người là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của con người và các đặc điểm, dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến người đó thực hiện hành vi tước đoạt mạng sống của con người được quy định trong Bộ luật hình sự. Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội người giết người có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện tội phạm học và luật hình sự.