CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE CHUNG 1. Những vấn đề Ngữ pháp học trong nghiên cứu ngôn ngữ tuỳ bút Nguyễn Tuân! Theo Diệp Quang Ban (2016a: 5), mỗi ngôn ngữ được hình dung gồm hai bộ phân lớn: bộ các yếu tố ngôn ngữ và bộ các quy tắc hoạt động của các yeu tố ay. Bo các quy tắc hoạt động của các yếu tổ một ngôn ngữ được gọi là ngữ pháp của ngôn ngữ ay. Ngữ pháp của một ngôn ngữ tôn tại một cách khách quan, có thé được các nhà nghiên cứu phát hiện ra.
Một phân môn của Ngôn ngữ học chuyên lay ngữ pháp là déi tượng nghiên cứu được gọi là Ngữ pháp học. Theo các tác giả Hoàng Dũng, Bui Mạnh Hùng (2007: 62), Nei pháp học hiệu ngắn gọn là một phân môn của Ngôn ngữ học nghiên cứu hình thái của tử và quy tắc cau tạo ngữ va câu. Trong nghiên cứu tiếng Việt, Ngữ pháp học bao gồm hai phân ngành nhỏ hơn là Từ pháp học? và Cú pháp học. Những van đề Từ pháp học Một trong những đỗi tượng nghiên cứu trung tâm của Từ pháp học tiếng Việt là vẫn đề từ loại, theo đó, bộ tiêu chí định loại từ tiếng Việt bao gồm: ý nghĩa khái quát và hình thức ngữ pháp (bao gồm khả năng kết hợp và chức năng cú pháp).
trong đó hình thức ngữ pháp mới là tiêu chí quyết định. Bằng các tiêu chí đó, về đại thé. hệ thông từ loại của các ngôn ngữ thường có các từ loại phô biến như danh từ, động từ, tinh từ, trạng từ, đại tử, lượng từ, giới từ, liên từ, than từ. Với nhiệm vụ nghiên cứu ngôn ngữ tuỳ bút của Nguyễn Tuân, chúng tôi quan tâm đến ba loại từ cơ bản: danh từ, vị từ và kết từ, trên cơ sở tham khảo các nghiên ' Trong phần nay, nếu không nói gi thêm, các khái niềm trình bảy được mặc định dẫn theo Giáo trùnh Dan luận Ngôn ngữ học (Hoàng Dũng = Bui Mạnh Hing) va chỉ bao gom các khải niệm can thiết cho nhiện vụ nghiền cứu ngữ pháp tuỷ but của Nguyễn Tuân.
2 Tử pháp học vốn là Hình thái học, một phân ngành Ngôn ngừ học nghiên cửu ngừ pháp của từ, gôm cầu tạo từ, hình thá:từ và từ loại. Trong các ngôn ngữ biên hình,nhiệm vụ nghiên cứu hình tháicủa từ là kha thi và quan đọng. Trong các ngôn ngữ không biển hình, nhiệm vụ nghiên cứu hình thái của từ không có hiệu lực. Vì vậy chỉ nên gọt là Từ pháp học.
16 cứu về các lớp từ cơ bản kê trên, cách định danh và phân chia tit loại của một số quan điểm ngữ pháp và thực tế sử dụng ngôn ngữ trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân. Danh từ là lớp từ có ý nghĩa từ vựng khái quát là ý nghĩa thực thê. Trên cơ sở là tính [+ đơn vị]. có thé chia đanh từ thành 2 loại là danh từ đơn vị và danh từ khối, được đánh dấu bằng khả năng kết hợp với phân lượng từ “nửa” và khả nang chỉ phối định ngữ miéu tả.
Trong tiếng Việt, nhóm từ thường được coi là động từ và tính từ không có khác biệt về hình thức ngữ pháp, từ đó hình thành một từ loại mới gọi là vj te. Vì vậy, có thê nói, vị từ chính là kết quả của việc bỗ sung tiêu chí định loại (khả năng kết hợp và chức năng cú pháp) trong nghiên cứu Việt ngữ. Nhu vay, trong tiếng Việt, có the xác định vị từ là lớp từ biểu hiện sự tình (hành động, quá trình, trạng thái, đặc trưng, tư thé), có kha năng kết hợp với dang, sẽ, vừa, từng. và thường làm vị ngữ trong câu.
Vẻ van đề vị từ trong nghiên cứu ngữ pháp tuỷ bút Nguyễn Tuần, có những quan diém cơ sở sau: 1/ Theo Cao Xuân Hạo (2005: 49), có nhiều cách đề phân loại vị từ, trong số đó có cách phân loại vị từ theo diễn trị (số lượng diễn tố) của vị từ đó. Theo đó, vị từ được chia thành 4 loại: vị từ có điển tổ zero (sớm, khuya, muộn, nắng.), Vị từ cô một diễn t6 (chay, bay, bò. vị từ có hai diễn tố (cắn, nhổ, xây.) , vị từ có ba diễn tô (ban, biểu, nhan. Việc xác định vị từ theo tiêu chí diễn trị cho thay đâu là loại vị từ không can bỗ ngữ, dau là loại cần có thể đi kèm một bỗ ngữ, đâu là loại có thể đi kèm hai hay ba bô ngữ.
2/ Cũng theo Cao Xuân Hạo (2005: 57). bỗ ngữ của vị từ trong ngữ vị từ có thể chia làm hai loại: bê ngữ trực tiếp (loại bô ngữ có thê đi trực tiếp với vị từ) và bo ngữ gián tiếp (loại bô ngừ không thé đi trực tiếp với vị từ mà bị ngăn cách với trung tâm bởi một chuyên to). Ví dụ, trong “(Nam) doc một quyền tiêu thuyết” thi "một quyền tiêu thuyết” là một bỗ ngữ trực tiếp, còn *(Tôi) mua cho Nam cuốn sách” thì “Nam” là bô ngữ gián tiếp. * Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha (2008: 288-267) 17 3/ Những ngữ vị từ tinh thái bao ham nghĩa mức độ rất, hoi, khí, qua, không thé có bỏ ngữ là một ngữ vị từ chỉ hành động, quá trình, tư thé và một số ngữ vị từ chi quan hệ như bang, hơn, kém, như, thua.
Chang hạn: *rat làm, *guá nói, *hơi đứng Srát bang anh, *rát như anh, *qua kém anh. 4/ Trong số các diễn tố có thể có của một ngữ vị từ trong câu, theo Cao Xuân Hạo (2005: 62) trừ tham tố được đưa lên dau câu làm phan Dé, tắt cả các tham tố còn lại đều trở thành bổ ngữ của ngữ vị từ làm phần Thuyết của câu. Trật tự của các bô ngữ này tuân theo quy tắc sau: (1) Các bé ngữ là các điễn tổ đứng liền ngay với trung tam, các bỗ ngữ là các chu tô đứng sau; (2) Nếu ngữ vị từ có một hay nhiều ngữ vị từ khác làm bô ngữ thì các bô ngữ chi hành động liên đới. chỉ phương thức, chỉ hướng đứng liền ngay sau trung tâm rồi mới đến các bô ngữ là diễn tố, chu tổ; (3) Nếu ngữ vị từ có bé ngữ là một ngữ vị từ chỉ kết quả thì ngữ vị từ đó có thê đứng liền sau trung tâm hoặc có thé đứng sau bé ngữ chỉ diễn to.
Kết từ là lớp từ có ý nghĩa khái quát biêu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đôi tượng được phản ánh. Kết từ đánh dau quan hệ cú pháp giữa các thực từ (và hư từ) một cách tường minh'. Dựa vào ý nghĩa ngữ pháp. kết từ được chia làm nhiều loại như kết từ chỉ quan hệ sở hữu, kết từ chỉ quan hệ nguyên nhân, kết từ chỉ quan hệ mục dich*.
Những vấn đề Cứ pháp học Cú pháp học là một phan ngành của Ngữ pháp học, chuyên nghiên cứu ngữ pháp câu. gồm quy tắc cau tạo ngữ đoạn và quy tắc cầu tạo câu (hay nói như Diệp Quang Ban (2016a: 32), "những cách kết hợp các yếu tổ ngôn ngữ và thường quy ước tính từ từ trở lên”). Từ các kết luận trên, có thé phân chia thành 2 bậc bên trong cú pháp học: cứ pháp ngữ đoạn và cú pháp câu. © Cú pháp ngữ đoạn nghiên cứu sự kết hợp giữa các từ thành những tô hợp có ý nghĩa, được gọi là ngữ đoạn.
18 nang cú pháp nhất định trong câu. Xét về cau tao, ngữ có thê gồm một tir hoặc nhiều từ. Sự khác nhau giữa từ và ngữ không phải là kích thước, mà là chức năng của chúng: trong khi từ là đơn vị của ngôn ngữ, thì ngữ là đơn vị lời nói, mang một chức năng của pháp nhất định trong một câu nói cụ thẻ. Theo Diệp Quang Ban (2016a: 33), ca pháp ngữ doan® quan tâm đến hai van đề lớn: số lượng quan hệ ngữ pháp (xem ngữ đoạn là các tổ hợp từ có kiểu quan hệ chính phy, hay kể cả các tô hợp từ có kiều quan hệ bình dang và kiểu quan hệ chủ- vị) và phẩm chất các thành tổ (xem thành t6 của ngữ đoạn chỉ gồm riêng các thực từ hay là kê cả các hư từ).
Ở bình diện sé lượng quan hệ ngữ pháp, xuất hiện khái niệm thành phan phụ của từ. Thành phan phụ của từ là từ ngữ phụ thêm vào một từ hay một cụm từ đang giữ một chức vụ ngữ pháp nào đó trong câu. Các thành phần phụ của từ như bô ngữ, định ngữ, trạng ngữ (của từ), phụ ngữ (của từ), giải ngữ (của từ). trong đó, dé tài quan tâm đến định ngữ va giải ngữ khi tìm hiểu ngôn ngữ tuy bút của Nguyễn Tuân.
Định ngữ là thành phan phụ sau của danh từ, nêu lên những đặc trưng của vật do danh từ ấy biéu thi, cùng với danh từ ấy thiết lập nên một danh ngữ. Đặc biệt, để phục vụ quá trình nghiên cứu vẻ định ngữ trong tuỳ bút Nguyễn Tuân, cần phải sử dụng kết luận phân loại định ngữ của các tác giả Hoàng Dũng. Nguyễn Thị Ly Kha (2007: 1) trong bài viết Về các thành tổ phụ sau trung tâm trong danh ngữ tiếng Việt, cho rằng định ngữ được chia thành hai loại: “dinh ngữ hạn định (restrictive adjunct) có tác dụng thu hẹp ngoại dién của khái niệm do danh từ trung tâm biểu thị và định ngữ trang trí (epitheton ornantium) chỉ sự thông báo thêm một phẩm chat bộ sung của đôi tượng biểu thị". Trong bài viết Danh từ và các tiểu loại danh từ tiếng Việt một năm sau đó, hai tác giả Hoàng Dũng, Nguyễn Thị Ly Kha (2008: 265) đã kết luận về mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Việt đầy đủ nhất như sau: ® Diệp Quang Ban gọi B “cú pháp cụm từ”.
Mô hình cấu trúc danh ngữ tiếng Việt Gail Thanh phan phụ trước Thanh phan phy sau L Chức a ; chỉ Định ngữ Định ngữ nang ‘sàn thề ngữ mg | xuắ s miêu tả chỉ định Vị chức năng và tính võ đoán trong cách định danh của tiếng Việt cho rằng trong các ngữ đoạn có danh từ đơn vị đứng ở dau, trung tâm ngữ 1a danh từ đơn vị, có chức năng danh hoá các yếu tô sau nếu chúng là các vị từ và “dua vào ngữ đoạn cái vật tính mà yếu tố sau con thiểu đề trở thành những danh ngữ đếm được". Bên cạnh định ngữ, giải ngữ của từ cũng là một thành phan quan trọng khi nghiên cứu những cách tân ngữ pháp của Nguyễn Tuân. Giải ngữ của từ là thành phần ngữ pháp đùng đề thuyết minh thêm nội dung hay giải thích, b6 sung thêm khía cạnh nào đó cho từ. về mặt cau tạo.
là những thực từ, những ngữ, những câu. Trên chữ viết, giải ngữ thường được tách biệt bằng dấu hai chấm, dấu gạch ngang.