Tổng quan luận án
Văn bản hành chính (VBHC) tiếng Việt là phương tiện và sản phẩm của hoạt động quản lý, tổ chức và điều hành xã hội, được sử dụng để truyền đạt các quyết định quản lý, quy định, mệnh lệnh, cam kết, thỏa thuận và thực hiện giao tiếp giữa các cơ quan, tổ chức, công dân trên cơ sở pháp lý. Nội dung của VBHC phản ánh thông tin mang tính pháp lý và quản lý, tác động trực tiếp tới quá trình thực thi công vụ. Do đó, việc truyền tải thông tin đòi hỏi tính chính xác, rõ ràng, chặt chẽ, trang trọng, tuân thủ tôn ti trật tự hành chính và có cấu trúc lập luận tường minh.
Vấn đề ngôn ngữ VBHC đã được Nhà nước quy định cụ thể tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2004, Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-VPCP-BNV, Thông tư số 25/2011/TT-BTP, và Thông tư số 01/2011/TT-BNV. Trong giới nghiên cứu, ngôn ngữ hành chính từng được khảo sát chủ yếu dưới góc độ phong cách học hoặc kỹ thuật soạn thảo. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và sâu sắc ngôn ngữ VBHC tiếng Việt dưới góc độ dụng học (nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu ngôn ngữ với người sử dụng trong ngữ cảnh cụ thể). Việc áp dụng lý thuyết dụng học cho phép làm sáng tỏ hành vi ngôn ngữ chủ đạo, cấu trúc lập luận, các chỉ dẫn lập luận và sự chi phối của ngữ cảnh hành chính đến việc tổ chức diễn ngôn.
Mục đích nghiên cứu:
Luận án hướng đến việc làm sáng tỏ các đặc điểm của ngôn ngữ hành chính tiếng Việt trên phương diện dụng học, trọng tâm là hành vi ngôn ngữ (HVNN), cách thức lập luận và ngữ cảnh giao tiếp chi phối việc sử dụng ngôn ngữ; từ đó cung cấp căn cứ định hướng cho việc soạn thảo VBHC.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận đại cương của ngữ dụng học về hành vi ngôn ngữ, lý thuyết lập luận và các vấn đề lý thuyết cơ bản về VBHC.
- Khảo sát các HVNN trong VBHC, xác định các HVNN chủ đạo; đi sâu nghiên cứu trường hợp hành vi tái hiện (HVTH) trong VBHC.
- Nhận diện, phân loại các dạng lập luận; miêu tả cấu trúc, quan hệ lập luận, hiệu lực lập luận và các chỉ dẫn lập luận (tác tử, kết tử) trong VBHC; khảo sát chuyên sâu lập luận trong thể loại tờ trình (TTr).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ VBHC tiếng Việt hiện đại nhìn từ góc độ dụng học.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn vào hai phương diện dụng học chính yếu là hành vi ngôn ngữ (nghiên cứu trường hợp hành vi tái hiện) và lập luận (cấu trúc, chỉ dẫn lập luận, lập luận trong tờ trình). Luận án tập trung vào ba nhóm văn bản: văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), văn bản cá biệt (VBCB) và văn bản hành chính thông thường; không khảo sát nhóm văn bản quản lý chuyên môn.
- Nguồn ngữ liệu khảo sát: 129 VBHC (tương đương 1.067 trang A4) của các cơ quan, tổ chức từ cấp Trung ương đến địa phương ban hành từ năm 2005 đến năm 2016, bao gồm các thể loại: Hiến pháp, luật, nghị định, thông tư, chỉ thị, quyết định, báo cáo, tờ trình, biên bản, công văn, thông báo, hợp đồng, đơn và một số loại giấy tờ hành chính khác (giấy giới thiệu, giấy xác nhận).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm lại các công trình nghiên cứu trước đây theo bốn hướng tiếp cận chính:
-
Nghiên cứu ngôn ngữ hành chính từ góc độ phong cách học:
- Tác giả nước ngoài: V.V. Vinogradov, A.N. Gvozdev chỉ ra rằng phong cách hành chính - công vụ mang tính khuôn mẫu ("khuôn sáo hành chính"), tính bắt buộc thi hành và không cho phép thay đổi hình thức văn bản theo cá tính tác giả.
- Tác giả trong nước: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa (1982) xác định ngôn ngữ hành chính - công vụ thực hiện chức năng thông báo và giao dịch với bốn đặc trưng: tính khuôn mẫu, tính có hiệu lực, tính ngắn gọn, tính chính xác. Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa (trong Phong cách học tiếng Việt) phân tích chức năng giao tiếp lý trí (thông báo) và chức năng ý chí (sai khiến), bước đầu tiếp cận góc độ dụng học khi bàn về vai giao tiếp (nhà luật pháp, người quản lý, người làm đơn, người ký hợp đồng). Nguyễn Hữu Đạt phân tích quan hệ không bình đẳng mang tính trên - dưới, tổ chức - cá nhân trong phong cách hành chính - công vụ.
-
Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính:
- Vũ Ngọc Hoa khảo sát đề tài "Hành động ngôn từ cầu khiến trong văn bản hành chính", phân loại biểu thức ngôn hành cầu khiến tường minh và nguyên cấp, phân tích cường độ lực ngôn trung và các biện pháp thể hiện phép lịch sự trong văn bản.
- Đoàn Diễm Hường nghiên cứu "Hành động cam kết trong văn bản hành chính", phân loại biểu thức ngữ vi cam kết tường minh và nguyên cấp, đồng thời xác lập ba loại phát ngôn cam kết dựa theo hoàn cảnh nảy sinh (từ thỏa thuận giữa hai bên, từ yêu cầu/khai báo của chủ thể, từ yêu cầu chính thức của người đọc).
-
Nghiên cứu lập luận trong văn bản hành chính:
- Nguyễn Thị Hường trong đề tài "Biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc VBHC – công vụ" đã bước đầu khảo sát quan hệ lập luận giản đơn (đồng hướng, nghịch hướng), quan hệ tam đoạn luận và mạng quan hệ lập luận trong tờ trình nhằm làm rõ tính mạch lạc của văn bản.
-
Nghiên cứu ngôn ngữ hành chính ở phương diện ứng dụng thực tế và kỹ thuật soạn thảo:
- Các công trình về thể thức, thẩm quyền và kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý nhà nước của Tạ Hữu Ánh, Vương Đình Quyền, Nguyễn Văn Thâm, Lưu Kiếm Thanh, Lê Xuân Lam, Bùi Xuân Lự, Nguyễn Thế Truyền, Bùi Khắc Việt nêu khái quát các yêu cầu về ngôn ngữ nhằm đảm bảo tính pháp lý và quản lý.
- Dương Thị Hiền, Lê Hùng Tiến tiếp cận văn bản luật pháp tiếng Việt theo đường hướng phân tích diễn ngôn.
- Vũ Thị Sao Chi hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ngôn ngữ hành chính; Nguyễn Văn Khang phân tích các đặc điểm của tiếng Việt trong giao tiếp hành chính với tính xác định cao về mục đích và hiệu quả giao tiếp.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình trước đây mới chỉ nghiên cứu đơn lẻ hành vi cầu khiến hoặc hành vi cam kết, chưa khảo sát diện mạo tổng thể của toàn bộ hệ thống HVNN để xác định HVNN chủ đạo trong VBHC. Hành vi tái hiện, hành vi tuyên bố và hành vi biểu cảm trong VBHC hầu như chưa được khảo cứu chuyên sâu. Về phương diện lập luận, các nghiên cứu trước chưa phân tích toàn diện các thành phần luận cứ (luận cứ pháp lý, luận cứ thực tế), kết luận, mô hình lập luận theo từng nhóm văn bản và hệ thống chỉ dẫn lập luận (tác tử, kết tử) đặc thù của VBHC. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy các khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên ba trụ cột lý thuyết:
-
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech Acts):
- Vận dụng phân loại 3 tầng bậc hành vi của J.L. Austin (hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời) và tập trung vào hành vi ở lời.
- Sử dụng mô hình phân loại 5 phạm trù HVNN của J. Searle: Tái hiện (Assertives/Representatives), Điều khiển (Directives), Cam kết (Commissives), Biểu cảm (Expressives), và Tuyên bố (Declarations).
- Vận dụng lý thuyết về phát ngôn ngữ vi, biểu thức ngữ vi (biểu thức tường minh có chứa động từ ngữ vi và biểu thức nguyên cấp không chứa động từ ngữ vi), phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung (IFIDs) theo quan điểm của J. Searle và Đỗ Hữu Châu.
- Vận dụng 4 điều kiện thực hiện HVNN của J. Searle vào việc phân tích HVTH trong VBHC: Điều kiện nội dung mệnh đề, Điều kiện chuẩn bị, Điều kiện chân thành (tâm lý), và Điều kiện căn bản.
-
Lý thuyết lập luận (Argumentation Theory):
- Tiếp thu lý thuyết lập luận ngôn ngữ tự nhiên và logic học của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Bùi Minh Toán.
- Cấu trúc lập luận bao gồm: Luận cứ (tiền đề), Kết luận (kết đề), và Cơ sở lập luận (lí lẽ, lẽ thường/topos).
- Phân loại lập luận: Lập luận đơn và lập luận phức hợp (dạng chuỗi liên tiếp và dạng song song); lập luận diễn dịch, quy nạp, nhân quả, so sánh, phản đề.
- Chỉ dẫn lập luận: Tác tử lập luận (yếu tố thay đổi tiềm năng lập luận của phát ngôn) và Kết tử lập luận (yếu tố liên kết luận cứ với luận cứ, luận cứ với kết luận). Phân loại kết tử: kết tử 2 vị trí, kết tử 3 vị trí; kết tử dẫn nhập luận cứ, kết tử dẫn nhập kết luận; kết tử đồng hướng và kết tử nghịch hướng lập luận.
-
Lý thuyết về giao tiếp hành chính và văn bản hành chính:
- Vận dụng mô hình SPEAKING của Dell Hymes để nhận diện các nhân tố giao tiếp hành chính (hoàn cảnh mang tính khuôn khổ pháp lý tại công sở; nhân vật giao tiếp có tư cách pháp nhân với quan hệ quyền lực - pháp lý; đề tài công vụ; mục đích vì lợi ích công cộng và hợp pháp; phát ngôn có hiệu lực pháp lý và ràng buộc trách nhiệm).
- Tiếp thu phân loại VBHC theo Vương Đình Quyền, Đinh Trọng Lạc, Đoàn Trọng Truyến: chia thành VBQPPL, VBCB, VBHC thông thường và VB chuyên môn.
- Ba chức năng cơ bản của VBHC theo Vương Đình Quyền: Chức năng thông tin, chức năng quản lý và chức năng pháp lý.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp miêu tả: Dùng để nhận diện, miêu tả các HVNN chủ đạo, các cấu trúc lập luận và các chỉ dẫn lập luận trong VBHC.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Dùng để phân tích vai trò, ngữ cảnh của HVNN và cấu trúc của đại lập luận cũng như các lập luận bộ phận trong văn bản.
- Thủ pháp thống kê: Dùng để định lượng tần số, tần suất xuất hiện của các HVNN, các loại biểu thức ngữ vi, các tác tử và kết tử lập luận trong 129 VBHC khảo sát.
- Thủ pháp so sánh: So sánh đặc điểm của HVTH với HVĐK và HVCK; so sánh đặc điểm lập luận giữa ba nhóm VBQPPL, VBCB và VBHC thông thường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
Chương 1 dành toàn bộ dung lượng để hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết nền tảng cho luận án. Tác giả tổng thuật chi tiết các hướng nghiên cứu phong cách học hành chính (trong và ngoài nước), các nghiên cứu về hành vi cầu khiến, cam kết và mạch lạc lập luận trong VBHC. Đồng thời, chương này xác lập hệ thống khái niệm công cụ của ngữ dụng học: các loại hành vi ngôn ngữ theo J. Searle; cấu trúc biểu thức ngữ vi tường minh và nguyên cấp; bốn điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ; khái niệm lập luận, cấu trúc luận cứ - kết luận, quan hệ lập luận đồng hướng/nghịch hướng, cơ sở lập luận (lẽ thường), phân loại lập luận (đơn, phức hợp, diễn dịch, quy nạp, nhân quả), và hệ thống chỉ dẫn lập luận (tác tử, kết tử 2 vị trí, kết tử 3 vị trí). Chương 1 cũng phân tích các đặc trưng của giao tiếp hành chính dựa trên mô hình SPEAKING và làm rõ khái niệm, phân loại, ba chức năng cơ bản (thông tin, quản lý, pháp lý) cùng đặc điểm ngôn ngữ khuôn mẫu của VBHC.
Chương 2: Hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng Việt (Nghiên cứu trường hợp hành vi tái hiện)
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát định lượng và phân tích định tính về các HVNN trong 129 VBHC, sau đó tập trung nghiên cứu sâu trường hợp HVTH.
Hệ thống bảng biểu và biểu đồ thống kê trong Chương 2:
- Bảng 1 / Biểu đồ 1: Thống kê các HVNN trong VBHC (trang 52)
- Bảng 2 / Biểu đồ 2: Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp1 trong HVTH tường minh (trang 58)
- Bảng 3 / Biểu đồ 3: Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp1 trong HVTH tường minh (trang 59)
- Bảng 4: Thống kê các động từ ngữ vi tái hiện trong HVTH tường minh (trang 61)
- Bảng 5 / Biểu đồ 4: Thống kê phương tiện ngôn ngữ biểu hiện Sp2 trong HVTH tường minh (trang 64)
- Bảng 6 / Biểu đồ 5: Thống kê sự có mặt - lược bỏ Sp2 trong HVTH tường minh (trang 65)
- Bảng 7 / Biểu đồ 6: Thống kê các loại PNNVTH trong VBHC (trang 71)
- Bảng 8 / Biểu đồ 7: Thống kê các nhóm HVTH trong VBHC (trang 77)
Các kết quả và luận điểm chính của Chương 2:
- Xác định HVNN chủ đạo: Khảo sát cho thấy Hành vi điều khiển (HVĐK) và Hành vi tái hiện (HVTH) là hai HVNN chiếm tỉ lệ áp đảo và giữ vai trò chủ đạo trong VBHC tiếng Việt. Hành vi tuyên bố (HVTB) và Hành vi cam kết (HVCK) xuất hiện với tần số thấp hơn, gắn với các loại văn bản đặc thù (quyết định, hợp đồng, bản cam đoan). Hành vi biểu cảm (HVBC) hầu như bị triệt tiêu do đặc trưng khách quan, phi biểu cảm của phong cách hành chính.
- Khái niệm và nhận diện HVTH trong VBHC: Luận án xác định HVTH trong VBHC là hành vi ngôn ngữ nhằm miêu tả, tường thuật, trình bày, báo cáo hoặc giải thích các sự tình, sự việc thực tế phục vụ cho hoạt động quản lý.
- Biểu thức và phát ngôn ngữ vi tái hiện:
- Biểu thức ngữ vi tái hiện tường minh: Chứa các động từ ngữ vi tái hiện (ĐTNVTH) như: báo cáo, thông báo, trình bày, thuyết minh, giải trình, xác nhận, kết luận, ghi nhận... Nhân vật người nói (Sp1 - chủ thể ban hành) và người nghe (Sp2 - đối tượng tiếp nhận) được biểu hiện bằng danh xưng cơ quan, chức danh công vụ hoặc được lược bỏ theo quy ước hành chính.
- Biểu thức ngữ vi tái hiện nguyên cấp: Không chứa động từ ngữ vi chuyên dụng mà sử dụng các cấu trúc miêu tả sự tình khách quan, thông báo sự việc trực tiếp gắn với ngữ cảnh hành chính.
- Bốn điều kiện thực hiện HVTH trong VBHC:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Biểu đạt các sự tình, sự kiện, số liệu thực tế có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý, thẩm quyền của cơ quan và quyền lợi, nghĩa vụ của đối tượng tiếp nhận.
- Điều kiện chuẩn bị: Sp1 có tư cách pháp nhân, thẩm quyền và căn cứ xác thực về sự tình; Sp2 là đối tượng có quyền hạn, trách nhiệm hoặc nhu cầu tiếp nhận thông tin quản lý.
- Điều kiện chân thành: Sp1 cam kết và tin tưởng vào tính xác thực của thông tin cung cấp.
- Điều kiện căn bản: Sp1 chịu trách nhiệm pháp lý đối với tính chính xác, trung thực của nội dung sự tình được tái hiện.
Chương 3: Lập luận trong văn bản hành chính tiếng Việt
Chương 3 khảo sát cơ chế tổ chức lập luận, các loại luận cứ, mô hình lập luận và hệ thống chỉ dẫn lập luận trong VBHC, đồng thời đi sâu nghiên cứu thể loại tờ trình (TTr).
Hệ thống bảng biểu thống kê trong Chương 3:
- Bảng 9: Thống kê tần số tác tử lập luận trong VBHC (trang 115)
- Bảng 10: Thống kê kết tử lập luận 2 vị trí trong VBHC thông thường (trang 121)
- Bảng 11: Thống kê kết tử lập luận 3 vị trí trong VBHC thông thường (trang 121)
- Bảng 12: Thống kê các kết tử trong TTr (trang 147)
Các kết quả và luận điểm chính của Chương 3:
- Đặc trưng của cấu trúc luận cứ trong VBHC: Lập luận trong VBHC có tính đặc thù là luôn kết hợp giữa Luận cứ pháp lý (LCPL) và Luận cứ thực tế (LCTT) để dẫn đến kết luận:
- Luận cứ pháp lý (LCPL): Là các văn bản quy phạm pháp luật cấp trên, văn bản chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền hoặc các điều khoản luật định làm căn cứ pháp lý ban hành.
- Luận cứ thực tế (LCTT): Là hiện trạng thực tế quản lý, số liệu thống kê, diễn biến sự việc, kết quả thực hiện nhiệm vụ hoặc các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
- Lập luận hành chính có tính liên văn bản và hồi chiếu cao, luôn liên kết với hệ thống văn bản pháp luật bên ngoài và thực tiễn hoạt động của đơn vị.
- Mô hình lập luận theo từng nhóm văn bản:
- Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL): Cả văn bản được tổ chức như một lập luận đơn lớn; không sử dụng các kết tử lập luận liên kết câu thông thường mà tổ chức thành các điều, khoản quy định trực tiếp nghĩa vụ, quyền hạn.
- Văn bản cá biệt (VBCB): Lập luận đi từ LCPL (phần căn cứ ban hành) và LCTT (đề nghị của cơ quan tham mưu) trực tiếp dẫn đến kết luận là các điều khoản quyết định áp dụng cụ thể.
- Văn bản hành chính thông thường: Sử dụng đa dạng các mô hình lập luận phức hợp, lập luận diễn dịch, quy nạp và nhân quả; sử dụng nhiều kết tử lập luận.
- Các chỉ dẫn lập luận trong VBHC:
- Tác tử lập luận: Ngoài các tác tử thông thường (đã, mới, chỉ, những...), VBHC sử dụng một loại tác tử đặc biệt mang hiệu lực pháp lý cao là thành phần tên loại văn bản, cơ quan ban hành, số hiệu và thời gian ban hành văn bản để định hướng và gia tăng hiệu lực lập luận.
- Kết tử lập luận: Khảo sát chi tiết kết tử 2 vị trí (do... nên, vì... cho nên, để...), kết tử 3 vị trí (tuy... nhưng, mặc dù... nhưng), kết tử dẫn nhập luận cứ (bởi vì, căn cứ, xét thấy), kết tử dẫn nhập kết luận (do đó, vì vậy, quyết định, yêu cầu), kết tử đồng hướng (và, hơn nữa, thêm vào đó) và kết tử nghịch hướng (tuy nhiên, nhưng).
- Khảo sát chuyên sâu lập luận trong thể loại Tờ trình (TTr):
- TTr có cấu trúc lập luận điển hình gồm 3 phần: Phần đặt vấn đề (nêu LCPL và LCTT về sự cần thiết ban hành), Phần nội dung (trình bày chi tiết các luận cứ, phương án), và Phần kiến nghị/đề xuất (kết luận đề nghị cấp trên phê duyệt).
- Luận án thống kê các kết tử xuất hiện trong TTr (Bảng 12), chỉ ra cách thức phối hợp LCPL và LCTT nhằm đảm bảo tính khả thi và sức thuyết phục cao nhất khi đệ trình lên cấp có thẩm quyền.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xác lập bức tranh toàn diện về các hành vi ngôn ngữ trong VBHC tiếng Việt; chứng minh HVĐK và HVTH là hai HVNN chủ đạo, giải thích nguyên nhân tần số thấp của HVTB, HVCK và tính triệt tiêu của HVBC xuất phát từ đặc trưng giao tiếp công vụ.
- Xây dựng hệ thống dấu hiệu nhận diện, định nghĩa, miêu tả cấu trúc biểu thức ngữ vi (tường minh và nguyên cấp) và cụ thể hóa 4 điều kiện sử dụng của HVTH trong môi trường hành chính.
- Làm sáng tỏ bản chất của lập luận hành chính: tính bắt buộc của cặp luận cứ LCPL - LCTT; tính liên văn bản và tính hồi chiếu.
- Xác lập mô hình lập luận riêng cho từng nhóm văn bản (VBQPPL, VBCB, VBHC thông thường) và chỉ ra sự khác biệt giữa lập luận trong VBQPPL (lập luận đơn, không dùng kết tử) với VBHC thông thường.
- Phát hiện và định danh loại tác tử lập luận đặc biệt trong VBHC (thành phần tên loại, cơ quan ban hành, ngày tháng văn bản) có chức năng tăng cường hiệu lực lập luận.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp cơ sở khoa học giúp chuẩn hóa việc sử dụng từ ngữ, tổ chức phát ngôn ngữ vi và xây dựng kết cấu lập luận khi soạn thảo VBHC tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức.
- Cung cấp nguồn tư liệu và khung tham chiếu phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy các học phần Kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính, Tiếng Việt thực hành, và Phân tích diễn ngôn hành chính tại các trường đại học, cao đẳng đào tạo về hành chính, văn thư - lưu trữ và luật học (như Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, Học viện Khoa học xã hội).
Bảng tổng hợp các nhóm nội dung nghiên cứu chính của luận án
| Nội dung khảo sát |
Phạm vi và đối tượng cụ thể |
Kết quả / Đặc điểm nổi bật được xác lập |
| Hành vi ngôn ngữ (HVNN) |
5 nhóm HVNN theo J. Searle trên 129 VBHC |
- HVĐK và HVTH là hai hành vi chủ đạo. - HVTB, HVCK xuất hiện tần số thấp; HVBC hầu như không dùng. |
| Hành vi tái hiện (HVTH) |
Biểu thức tường minh & nguyên cấp, 4 điều kiện sử dụng |
- Biểu thức tường minh dùng các ĐTNVTH (báo cáo, thông báo, trình bày, xác nhận...). - Thỏa mãn 4 điều kiện: mệnh đề quản lý, chuẩn bị thẩm quyền, chân thành xác thực, căn bản trách nhiệm pháp lý. |
| Cấu trúc luận cứ |
Các dạng luận cứ trong VBHC |
- Bắt buộc kết hợp Luận cứ pháp lý (LCPL) và Luận cứ thực tế (LCTT). - Mang tính hồi chiếu và liên văn bản cao. |
| Mô hình lập luận theo nhóm VB |
VBQPPL, VBCB, VBHC thông thường |
- VBQPPL: Cả văn bản là một lập luận đơn, không dùng kết tử. - VBCB: Đi từ LCPL + LCTT đến kết luận quyết định. - VBHC thông thường: Lập luận phức hợp, dùng đa dạng kết tử. |
| Chỉ dẫn lập luận |
Tác tử và kết tử trong VBHC |
- Tác tử đặc biệt: Tên loại VB, cơ quan ban hành, thời gian ban hành. - Kết tử: Phân loại theo 2 vị trí, 3 vị trí, dẫn nhập luận cứ, dẫn nhập kết luận, đồng hướng, nghịch hướng. |
| Lập luận trong Tờ trình (TTr) |
Thể loại Tờ trình hành chính |
- Cấu trúc 3 phần chặt chẽ nhằm tối ưu hóa hiệu lực đệ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Ngữ liệu khảo sát giới hạn trong 129 VBHC (1.067 trang A4) ban hành từ năm 2005 đến thời điểm nghiên cứu (2016), chưa bao quát toàn bộ các giai đoạn lịch sử khác của văn bản hành chính tiếng Việt.
- Luận án chủ động không khảo sát nhóm văn bản quản lý chuyên môn (như hóa đơn tài chính, hồ sơ bệnh án, văn bằng chứng chỉ, bản cáo trạng, công hàm ngoại giao) do tính chất mẫu biểu đặc thù riêng của từng ngành.
- Trong số các HVNN, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu trường hợp HVTH, chưa khảo sát chi tiết toàn diện cấu trúc ngữ vi của các HVNN khác như HVĐK hay HVCK trên cùng một hệ thống ngữ liệu đối sánh.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang nhóm văn bản quản lý chuyên môn của các ngành tư pháp, tài chính, y tế, ngoại giao.
- Nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa HVĐK và HVTH trong các thể loại văn bản chỉ đạo điều hành.
- Nghiên cứu các khía cạnh dụng học khác trong giao tiếp hành chính như hiện tượng quy chiếu, chỉ xuất, phép lịch sự và giao tiếp "tiền hành chính" trong môi trường công vụ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Ngôn ngữ học / Ngữ dụng học: Cung cấp mô hình ứng dụng lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J. Searle và lý thuyết lập luận vào một loại hình diễn ngôn chức năng cụ thể (diễn ngôn hành chính tiếng Việt).
- Giảng viên và sinh viên ngành Quản lý nhà nước, Văn thư - Lưu trữ, Luật học: Cung cấp căn cứ ngôn ngữ học để phân tích cấu trúc diễn ngôn văn bản, phục vụ giảng dạy và học tập các môn Kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính, Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, Tiếng Việt thực hành.
- Cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tham mưu, tổng hợp và soạn thảo văn bản tại các cơ quan quản lý nhà nước:
- Tham khảo chương 2 để sử dụng chính xác các động từ ngữ vi và biểu thức ngữ vi tái hiện khi viết báo cáo, thông báo, biên bản.
- Tham khảo chương 3 để xây dựng cấu trúc luận cứ pháp lý và luận cứ thực tế mạch lạc, sử dụng đúng các tác tử và kết tử lập luận khi soạn thảo tờ trình, công văn đề xuất.
Câu hỏi thường gặp
1. Hai hành vi ngôn ngữ nào giữ vai trò chủ đạo trong văn bản hành chính tiếng Việt theo kết quả nghiên cứu của luận án?
Trả lời: Luận án xác định Hành vi điều khiển (HVĐK) và Hành vi tái hiện (HVTH) là hai hành vi ngôn ngữ chủ đạo trong VBHC tiếng Việt. Hành vi tuyên bố và hành vi cam kết xuất hiện với tần số thấp hơn, trong khi hành vi biểu cảm hầu như không được sử dụng do tính chất khách quan, phi biểu cảm của văn bản hành chính.
2. Lập luận trong văn bản hành chính tiếng Việt bắt buộc phải dựa trên những loại luận cứ nào?
Trả lời: Lập luận trong VBHC luôn bắt buộc phải sử dụng kết hợp hai loại luận cứ: Luận cứ pháp lý (LCPL - các văn bản quy phạm pháp luật, quy định cấp trên làm căn cứ pháp lý) và Luận cứ thực tế (LCTT - hiện trạng quản lý, số liệu, sự việc thực tế phát sinh) để làm tiền đề rút ra kết luận mang tính khả thi và hợp pháp.
3. Tác tử lập luận đặc biệt trong văn bản hành chính được luận án phát hiện là gì?
Trả lời: Bên cạnh các tác tử tình thái thông thường (đã, mới, chỉ...), VBHC sử dụng một loại tác tử lập luận đặc biệt là thành phần tên loại văn bản, cơ quan ban hành, số hiệu và thời gian ban hành văn bản. Thành phần này có chức năng định danh thẩm quyền pháp lý và gia tăng trực tiếp hiệu lực lập luận cho toàn bộ nội dung văn bản.
4. Vì sao văn bản quy phạm pháp luật không sử dụng các kết tử lập luận như văn bản hành chính thông thường?
Trả lời: Trong VBQPPL, toàn bộ văn bản được tổ chức như một lập luận đơn lớn mang tính quy phạm bắt buộc chung. Các điều khoản trực tiếp quy định quy tắc xử sự, quyền và nghĩa vụ mà không cần dùng các kết tử lập luận liên kết câu (vì... nên, tuy... nhưng) như trong VBHC thông thường.
5. Luận án vận dụng lý thuyết nào để phân tích hành vi tái hiện trong văn bản hành chính?
Trả lời: Luận án vận dụng lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J. Searle (phân loại 5 phạm trù HVNN, biểu thức ngữ vi, phương tiện chỉ dẫn lực ngôn trung IFIDs) và 4 điều kiện thực hiện hành vi ngôn ngữ (nội dung mệnh đề, chuẩn bị, chân thành, căn bản) được cụ thể hóa trong ngữ cảnh giao tiếp công vụ.
Kết luận
Luận án "Nghiên cứu ngôn ngữ trong văn bản hành chính tiếng Việt từ góc độ dụng học" của tác giả Đỗ Thị Thanh Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ hành chính dưới ánh sáng của ngữ dụng học hiện đại. Luận án đã xác lập luận cứ khoa học khẳng định hành vi điều khiển và hành vi tái hiện là hai hành vi ngôn ngữ chủ đạo, đồng thời làm sáng tỏ cấu trúc biểu thức và 4 điều kiện thực hiện của hành vi tái hiện trong văn bản hành chính. Về phương diện lập luận, công trình đã chỉ ra quy luật phối hợp bắt buộc giữa luận cứ pháp lý và luận cứ thực tế, phân định mô hình lập luận giữa các nhóm văn bản và nhận diện hệ thống tác tử, kết tử đặc thù của phong cách hành chính. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho lý luận ngôn ngữ học ứng dụng và công tác chuẩn hóa, đào tạo kỹ thuật soạn thảo văn bản hành chính tại Việt Nam.