Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về ngữ dụng học Trên thế giới, trong khoảng 30 năm qua, ngữ dụng học đã phát triển mạnh mẽ và ngày càng có một vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học. Số lượng các chuyên khảo về ngữ dụng học cũng như các công trình đề cập tới những phương diện khác nhau của ngành này ngày một tăng.
Ở Việt Nam, ngữ dụng học cũng được quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh việc tìm hiểu sâu về mặt lý luận thì các nhà nghiên cứu đã quan tâm tới việc ứng dụng các lý thuyết này vào nghiên cứu từng kiểu loại văn bản để nâng cao hiệu quả giao tiếp, hiệu quả tác động của văn bản cũng như chỉ ra các đặc điểm về chiếu vật, chỉ xuất; về lập luận, về hội thoại, về các HVNN đang tồn tại trong các thể loại văn bản/diễn ngôn. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ VBHC. Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ hành chính 1.
Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hành chính từ góc độ phong cách học Nghiên cứu ngôn ngữ hành chính dưới góc độ phong cách học có các tác giả nước ngoài tiêu biểu: V. Các tác giả cho rằng phong cách hành chính công vụ luôn có hiện tượng dùng lặp đi, lặp lại những câu, những từ, những cấu trúc có sẵn và đó chính là “khuôn sáo hành chính”; màu sắc phong cách đặc biệt của văn bản hành chính - công vụ là yêu cầu phải thực hiện, bắt buộc phải thi hành điều đã được thông báo; những quy luật của phong cách hành chính - công vụ không cho phép những sự thay đổi về hình thức của tài liệu theo cá tính của tác giả. Ở Việt Nam các nhà phong cách học khi nghiên cứu đã thật sự quan tâm đến phong cách hành chính công vụ và VBHC. Điển hình là Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa [9], Nguyễn Hữu Đạt [26], Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa [65]; Cù Đình Tú [115].
Trong công trình của mình, các tác giả đều đưa ra khái 7 niệm, chức năng, đặc trưng của phong cách hành chính – công vụ và phân loại các văn bản hành chính – công vụ. Các nhà phong cách học Việt Nam đều cho rằng, phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ có tính chính xác, mạch lạc, tính nghiêm túc khách quan và tính khuôn mẫu. Ngôn ngữ hành chính mang tính lí trí, khô khan, lạnh lùng, không biểu cảm… Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt [9] khi bàn về phong cách hành chính – công vụ đã cho rằng, ngôn ngữ hành chính – công vụ thực hiện chức năng thông báo và làm nhiệm vụ giao dịch giữa nhân dân với cơ quan nhà nước, giữa cơ quan nhà nước với nhân dân, giữa cơ quan này với cơ quan khác, giữa nước này với nước khác. Tuy nhiên, tác giả chưa bàn tới sự chi phối của ngữ cảnh giao tiếp hành chính tới việc sử dụng ngôn ngữ mà chỉ đơn thuần chỉ ra bốn đặc trưng của phong cách này là tính khuôn mẫu, tính có hiệu lực, tính ngắn gọn và tính chính xác.
Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong Phong cách học tiếng Việt [65] đã bàn khá cụ thể về phong cách hành chính – công vụ. Theo đó, các tác giả đã đưa ra định nghĩa về phong cách hành chính – công vụ là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực hành chính – công vụ. Nói một cách cụ thể hơn, đó là vai của nhà luật pháp, người quản lí, người làm đơn, người xin thị thực, người làm biên bản, người kí hợp đồng…tất cả những ai tham gia vào guồng máy tổ chức, điều hành các mặt của đời sống xã hội. Tác giả cũng cho rằng, phong cách hành chính – công vụ được sử dụng trong những hoàn cảnh theo nghi thức, trong tình thế vai bằng nhau hay không bằng nhau giữa những người giao tiếp.
Dựa vào hai tiêu chí là nội dung ý nghĩa sự vật – logic và đặc điểm về kết cấu, về tu từ các tác giả đã phân loại văn bản hành chính – công vụ thành các kiểu/thể loại cụ thể. Đặc biệt, các tác giả đã xác định chức năng của ngôn ngữ trong phong cách hành chính – công vụ là chức năng giao tiếp lí trí (thông báo) và chức năng ý chí (sai khiến). Đặc trưng của phong cách này là tính chính xác – minh bạch, tính nghiêm túc – khách quan và tính khuôn mẫu đã chi phối đặc điểm của việc dùng từ ngữ trong văn bản hành chính – công vụ là màu sắc tu từ học sách vở vừa phải; tỉ lệ phần trăm cao của các phương tiện khuôn mẫu; hệ thống thuật ngữ ít trừu tượng hơn so với phong 8 cách khoa học; khuôn sáo hành chính luôn luôn được tái hiện; từ Hán Việt chiếm tỉ lệ khá lớn; từ ngữ được lựa chọn khắt khe, không thể có những từ ngữ chung chung, mơ hồ, mang tính hình ảnh, biểu tượng…Cú pháp sách vở, rập khuôn; chủ yếu sử dụng câu tường thuật, cầu khiến, không sử dụng câu hỏi, cảm thán; dùng nhiều câu phức với các thành phần đồng chức; dùng câu tỉnh lược, câu tách biệt cú pháp… Như vậy, khi đề cập tới vai giao tiếp của văn bản hành chính – công vụ, các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa đã tiếp cận VBHC ở góc độ dụng học. Điều này có nghĩa là vai giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp sẽ chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong VBHC.
Còn Hữu Đạt, khi bàn về phong cách hành chính – công vụ trong [26], tuy không gọi tên vai giao tiếp như Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, nhưng tác giả đã chỉ ra đặc điểm về quan hệ của người tham gia giao tiếp trong phong cách này là tính không bình đẳng trong quan hệ của người tham gia giao tiếp. Tính không bình đẳng này thể hiện ở tính trên – dưới, tổ chức – cá nhân với mục đích nhằm thực thi công việc sự vụ. Tác giả cho rằng, tính chất của văn bản phụ thuộc trực tiếp vào các vai giao tiếp và phạm vi giao tiếp, trong đó phạm vi giao tiếp đóng vai trò quyết định. Trong phong cách hành chính – công vụ, ngôn ngữ hoạt động chủ yếu nhằm thực hiện chức năng thông báo.
Tính khuôn mẫu; tính phi biểu cảm; tính hệ thống, đồng bộ, thống nhất; tính ngắn gọn, súc tích, không đa nghĩa; tính trang trọng và tính quốc tế; tính quy ước và khả biến theo thời gian là những đặc trưng của phong cách hành chính – công vụ. Như vậy, nhìn một cách tổng quan, các tác giả đều thống nhất cho rằng, chức năng thông báo là chức năng cơ bản của phong cách hành chính – công vụ. Các công trình nghiên cứu về sau của Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa và của Hữu Đạt ngoài việc đưa ra khái niệm, phân loại văn bản hành chính – công vụ đã đứng trên góc nhìn của dụng học để chỉ ra vai giao tiếp, đặc điểm về quan hệ của người tham gia giao tiếp. Nói cách khác, vấn đề ngữ cảnh và sự chi phối của nó tới việc sử dụng ngôn ngữ trong VBHC đã bắt đầu được các tác giả đề cập tới.
Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong văn bản hành chính Nếu như có rất nhiều công trình nghiên cứu về các HVNN trong các tác phẩm văn chương hay văn bản quảng cáo thì đến nay chưa có nhiều công trình chuyên sâu 9 nghiên cứu về HVNN trong VBHC. Hai công trình tiêu biểu là Hành động ngôn từ cầu khiến trong văn bản hành chính của Vũ Ngọc Hoa [47], Hành động cam kết trong văn bản hành chính của Đoàn Diễm Hường [57]. Vũ Ngọc Hoa [47] với đề tài: “Hành động ngôn từ cầu khiến trong văn bản hành chính” đã chỉ ra đặc điểm của biểu thức ngôn hành cầu khiến trong VBHC là mang tính bao trùm, tính khuôn mẫu, tính lặp lại nhiều lần một động từ ngôn hành cầu khiến, một phụ từ cầu khiến trong một biểu thức ngôn hành cầu khiến và tính trực tiếp của biểu thức ngôn hành cầu khiến. Ngoài sự mô tả các đặc trưng, tác giả còn chỉ ra nguyên nhân dẫn đến tính bao trùm, tính khuôn mẫu, tính lặp lại.của biểu thức ngôn hành cầu khiến.
Dựa theo dấu hiệu chỉ dẫn lực ngôn trung, tác giả phân loại biểu thức ngôn hành cầu khiến trong VBHC được phân loại thành: biểu thức ngôn hành cầu khiến tường minh là là các biểu thức ngôn hành có các động từ ngôn hành cầu khiến: xin, kiến nghị, đề nghị, yêu cầu, chỉ thị… dùng ở chức năng ngôn hành; và biểu thức ngôn hành nguyên cấp là những biểu thức ngôn hành cầu khiến không có động từ ngôn hành cầu khiến mà có động từ tình thái nên/cần/phải/(không) được/mong, các cụm từ có trách nhiệm/có nhiệm vụ/có nghĩa vụ/có bổn phận/chịu trách nhiệm/có quyền/có thể hoặc quan hệ của biểu thức ngôn hành với ngữ cảnh. Tác giả đã phân tích khá kĩ cường độ lực ngôn trung cầu khiến phụ thuộc vào các yếu tố: loại BTNH cầu khiến, vị thế của người phát ngôn và người tiếp nhận, phần mở rộng của BTNH cầu khiến, những phát ngôn trước hoặc sau phát ngôn cầu khiến và loại VBHC. Như vậy, yếu tố ngữ cảnh đã chi phối rất mạnh tới việc lựa chọn và sử dụng hành động ngôn từ cầu khiến trong VBHC. Tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu đặc điểm của lịch sự ở hành động ngôn từ cầu khiến trong VBHC và miêu tả hai nhóm biện pháp thể hiện phép lịch sự khi cầu khiến trong VBHC: Những biện pháp thể hiện sự thừa nhận, tuân thủ các chuẩn mực luật pháp và các chuẩn mực xã hội khác; những biện pháp trang trọng hóa HĐNTCK.
Đoàn Diễm Hường [57] khi nghiên cứu về HVCK trong VBHC đã phân loại biểu thức ngữ vi cam kết thành biểu thức ngữ vi cam kết tường minh trong VBHC là biểu thức ngôn ngữ được sử dụng để thực hiện hành động ngôn ngữ cam kết, trong đó, động từ ngữ vi của nhóm cam kết được dùng đúng theo hiệu lực ngữ vi; biểu thức ngữ 10 vi cam kết nguyên cấp trong VBHC là những cách thức nói năng có hiệu lực ở lời cam kết mà không dùng động từ ngữ vi.