Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu mô hình bệnh loãng xương trên cá medaka chuyển gen và đánh giá tác dụng chống loãng xương của một số hoạt chất

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sinh học nghiên cứu mô hình bệnh loãng xương trên cá medaka chuyển gen và đánh giá tác dụng chống, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sinh lý người và động vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

148
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Bệnh loãng xương và thực trạng

1.2. Hoạt động mô hình và tái mô hình xương giúp xương phát triển và đổi mới

1.3. Con đường RANKL/RANK và sự tham gia của sốc tự do cho sự biệt hóa và hoạt động của tế bào hủy xương

1.4. Các liệu pháp điều trị loãng xương

1.4.1. Thuốc chống loãng xương nhóm bisphosphonate, tác dụng và hiệu quả

1.4.2. Nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên và tổng hợp có tiềm năng chống loãng xương

1.5. Tiềm năng chống loãng xương của NecroX và DMSO

1.6. Mô hình động vật dùng cho nghiên cứu về loãng xương

1.6.1. Mô hình động vật có vú cho nghiên cứu loãng xương

1.6.2. Cá medaka làm mô hình cho các nghiên cứu về xương

2. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Vật liệu, thiết bị, dụng cụ và hóa chất dùng trong nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp nuôi và duy trì

2.3.2. Phương pháp sốc nhiệt tạo kiểu hình loãng xương cho cá

2.3.3. Phương pháp chọn dòng cá rankl:HSE:CFP và thời gian sốc nhiệt đánh giá

2.3.4. Phương pháp sang lọc xác định cá

2.3.5. Phương pháp pha chất cho thí nghiệm đánh giá tác dụng của chất trên cá

2.3.6. Phương pháp xử lý, đánh giá tác dụng của chất trên cá Rankl

2.3.7. Phương pháp nhuộm xương cá cố định

2.3.8. Phương pháp chụp ảnh và xử lý hình ảnh cá nhuộm cố định

2.3.9. Phương pháp nhuộm xương huỳnh quang trên cá sống

2.3.10. Phương pháp đánh giá mức độ khoáng hóa và tổn thương xương cá

2.3.11. Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của resveratrol/NecroX-5 đến tế bào tạo xương và sự tạo xương trên cá chuyển gen col10a1:nlGFP

2.3.12. Phương pháp đánh giá ảnh hưởng của chất NecroX-5 đến sự biểu hiện các gen tham gia vào con đường RANKL

2.3.13. Phương pháp xử lý thống kê số liệu

2.4. Các phần mềm được sử dụng

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Nghiên cứu chọn dòng cá rankl:HSE:CFP và thời gian sốc nhiệt phù hợp

3.2. Ảnh hưởng của bisphosphonate đến sự tổn thương xương ở cá Rankl

3.2.1. Ảnh hưởng của alendronate đến sự tổn thương xương trên cá Rankl

3.2.2. Ảnh hưởng của etidronate đến sự tổn thương xương trên cá Rankl

3.3. Ảnh hưởng của DMSO đến mức độ tổn thương xương trên cá Rankl

3.4. Đánh giá khả năng bảo vệ xương của một số hoạt chất trên cá Rankl

3.4.1. Ảnh hưởng của chất tự nhiên resveratrol đến sự tổn thương xương trên cá Rankl

3.4.2. Ảnh hưởng của chất tổng hợp NecroX-5 đến sự tổn thương xương của cá Rankl

4. ALENDRONATE VÀ ETIDRONATE CÓ TÁC DỤNG BẢO VỆ XƯƠNG CÁ MEDAKA KHỎI TỔN THƯƠNG GÂY RA BỞI RANKL VÀ CÓ THỂ ĐƯỢC DÙNG NHƯ ĐỐI CHỨNG DƯƠNG CHO CÁC THỬ NGHIỆM ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA HOẠT CHẤT

4.1. DMSO có thể ảnh hưởng đến mức độ tổn thương xương của cá Rankl, sử dụng DMSO làm dung môi cần chú ý đến nồng độ

4.2. Resveratrol có tác dụng bảo vệ xương cá, làm giảm tổn thương xương gây ra bởi Rankl

4.3. NecroX-5 có tác dụng bảo vệ xương cá theo hướng ức chế hủy xương và kích thích tạo xương

KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bệnh loãng xương

Bệnh loãng xương (bệnh loãng xương) là một tình trạng y tế phổ biến, đặc biệt ở phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi. Tình trạng này được đặc trưng bởi mật độ xương giảm, dẫn đến cấu trúc xương yếu và dễ gãy. Theo nghiên cứu, loãng xương có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe, bao gồm gãy xương và tăng nguy cơ tử vong. Việc phát hiện bệnh thường muộn, khi xương đã bị tổn thương. Các yếu tố nguy cơ bao gồm lối sống ít vận động, chế độ ăn uống không hợp lý và sử dụng thuốc không đúng cách. Do đó, việc tìm kiếm các phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh loãng xương là rất cần thiết.

II. Mô hình nghiên cứu bệnh loãng xương trên cá medaka

Cá medaka (cá medaka) đã được sử dụng như một mô hình nghiên cứu hiệu quả cho bệnh loãng xương. Mô hình này cho phép nghiên cứu các cơ chế sinh học liên quan đến bệnh và đánh giá tác dụng của các hoạt chất chống loãng xương. Việc sử dụng cá medaka có nhiều ưu điểm, bao gồm khả năng sinh sản nhanh, chi phí thấp và khả năng quan sát các quá trình sinh học thông qua các kỹ thuật hình ảnh. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cá medaka chuyển gen rankl:HSE:CFP có thể được sử dụng để mô phỏng bệnh loãng xương, từ đó giúp đánh giá tác dụng của các hoạt chất như resveratrol và NecroX-5.

III. Tác dụng chống loãng xương của các hoạt chất

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số hoạt chất có tác dụng bảo vệ xương, bao gồm resveratrol và NecroX-5. Resveratrol, một hợp chất tự nhiên, đã được chứng minh có khả năng làm giảm tổn thương xương do loãng xương gây ra. Trong khi đó, NecroX-5, một hợp chất tổng hợp, cũng cho thấy hiệu quả tương tự. Các thí nghiệm trên cá medaka đã xác định được nồng độ tối ưu của các hoạt chất này, từ đó mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị loãng xương hiệu quả hơn.

IV. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc nuôi cá medaka trong điều kiện kiểm soát và thực hiện các thí nghiệm để đánh giá tác dụng của các hoạt chất. Kết quả cho thấy rằng việc sử dụng cá medaka làm mô hình nghiên cứu bệnh loãng xương không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh lý mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các liệu pháp điều trị mới. Nghiên cứu đã hoàn thiện quy trình sử dụng cá medaka để đánh giá tác dụng của các hoạt chất, từ đó cung cấp thông tin quý giá cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu mô hình bệnh loãng xương trên cá medaka chuyển gen và đánh giá tác dụng chống loãng xương của một số hoạt chất

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Loãng xương (osteoporosis) là bệnh xương pho biến, nhất là ở phụ nữ sau mãn kinh và người cao tuổi, biểu hiện bởi mật độ xương giảm thấp, cấu trúc xương bị phá hủy làm xương xốp, giòn và tăng nguy cơ bị gay. Bệnh có diễn tiến thầm lặng và thường chỉ được phát hiện khi xương bi gay do trượt ngã hay do tác động ngoại lực. Gẫy xương do loãng xương gây hệ lụy rất nghiêm trọng tới người bệnh, gia đình và xã hội vì bệnh nhân có thể bị tử vong hay phải sống phụ thuộc với thời gian điều trị lâu dài với chi phí rất cao [Tu; 2018]. Loãng xương được chia thành hai loại là loãng xương nguyên phát do già hóa và loãng xương thứ phát do các nguyên nhân khác.

Với tốc độ già hóa dân số tăng nhanh trên toàn cầu cũng như ở Việt Nam hiện nay, cùng với những yếu tố nguy cơ như lối sống ít vận động, dùng nhiều rượu, thuốc lá, có các bệnh lý nền cũng như việc lạm dụng thuốc (glucocorticoid), s6 lượng người bị bệnh ngày càng tăng, là thách thức rất lớn cho y tế công cộng [Tu; 2018]. Các thuốc chống loãng xương hiện nay có tác dụng theo một hoặc hai hướng ức chế hủy xương hoặc/và kích thích tạo xương, bao gồm các hormone và dẫn xuất của hormone, các kháng thể; phổ biến nhất là các thuốc thuộc nhóm bisphosphonate. Tuy nhiên, với hiệu quả còn hạn chế, mỗi loại thuốc đều có những tác dụng phụ không mong muốn [Green; 2010, Kennel;2009, Maraka; 2015, Watts; 2003]. Vì vậy nghiên cứu tìm ra các thuốc điều trị loãng xương mới hiệu quả, an toàn hơn luôn được quan tâm.

Mô hình truyền thống cho các nghiên cứu đánh giá tác dụng bảo vệ xương của các hoạt chất dé phát triển thuốc thường là động vật có vú. Tuy nhiên, gần đây, hai loài cá là cá medaka (Oryzias latipes) và cá ngựa văn (Damio rerio) được sử dụng ngày càng nhiều vì có nhiều ưu điểm của động vật thí nghiệm như đẻ nhiều, thời gian thé hệ ngăn, chi phí thấp, dé chuyên gen, tao đột biến và quan sát các quá trình sông bằng các kĩ thuật hình anh. Chúng đặc biệt phù hợp cho nghiên cứu in vivo sàng lọc hoạt chất ở những bước đầu của quá trình phát triển thuốc [Wittbrodt; 20021. Năm 2012, cá medaka chuyền gen rankl:HSE:CFP được tạo ra tại Đại học Quốc gia Singapore làm mô hình bệnh loãng xương và sàng lọc chất có hoạt tính chống loãng xương.

Kiéu hình giống loãng xương ở cá này có thé gây được bang cách sốc nhiệt vì hệ gen của cá chứa cấu trúc gen chuyển chứa gen rankl mã hóa cho yêu tố kích thích hủy xương Rankl (Receptor activator of nuclear factor kappa- B ligand) được điều khién bởi promotor cảm ứng nhiệt [To; 2012]. Tang RANKL đã được biết có liên quan đến cả loãng xương nguyên phat va thứ phát [Cheng;2022, Choi;2013], do vậy mô hình bệnh loãng xương gây ra bởi tăng RANKL có ưu thế hơn mô hình được tạo ra bởi các cách khác. Do đó, từ khi tiếp nhận cá chuyền gen ban đầu từ Đại học Quốc gia Singapore, nhóm chúng tôi đã tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cá va và qui trình sử dung nó dé đánh giá tác dung của chất có hoạt tính chống loãng xương. Đầu tiên, nhóm nghiên cứu đã lai tách cá gốc ban đầu thành các dưới dòng cá trong đó có dòng clc6 và clc8, mỗi dòng có các cá thé có biểu hiện gen rankl và kiểu hình tôn thương xương đồng đều, chỉ thể hiện ở xương cung thần kinh ở một mức độ nhất định, làm cơ sở cho việc phát triển phương pháp định lượng mức độ ton thương xương dựa trên chiều dài của các xương này [Cường; 2015].

Luận án “Nghiên cứu mô hình bệnh loãng xương trên cá medaka chuyển gen và đánh giá tac dụng chống loãng xương của một số hoạt chất” được thực hiện với hai mục tiêu chính: 1. Nghiên cứu cá chuyên gen rankl:HSE:CFP, hoàn thiện phương pháp và quy trình sử dụng cá làm mô hình bệnh loãng xương dé đánh giá hoạt tính bảo vệ xương của các chất 2. Đánh giá tác dụng bảo vệ xương của một số hoạt chất sử dụng mô hình cá và qui trình xây dựng được. Đề thực hiện được các mục tiêu này, cá rankl:HSE:CFP dòng clc6 và clc8 tiép tục được nghiên cứu, sôc nhiệt ở các thời gian khác nhau đê chọn ra dòng ưu thế hơn; tác dụng của hai dược chất chống loãng xương nhóm bisphosphonate là alendronate và etidronate với sự ton thương xương cá được đánh giá để góp phan xây dựng phương pháp định lượng mức độ khoáng hóa và tổn thương xương cũng như tìm ra nồng độ chất phù hợp dé làm đối chứng dương cho thí nghiệm.

Thêm vào đó, ảnh hưởng của dung môi DMSO dé hòa tan các chất với sự tôn thương xương cá cũng được xác định dé hoàn thiện qui trình sử dụng dòng cá này làm mô hình bệnh loãng xương sử dụng cho việc đánh giá hoạt tính bảo vệ xương của hai hoạt chất tiềm năng là chất tự nhiên resveratrol và chất tổng hợp NecroX-5. Kết quả nghiên cứu đã hoàn thiện được phương pháp và qui trình sử dụng cá rankl:HSE:CFP làm mô hình bệnh loãng xương, lần đầu tiên phát hiện ra ảnh hưởng theo nồng độ của dung môi DMSO đến chuyền hóa xương cá cũng như cho thấy tác dụng bảo vệ xương của chất tông hợp NecroX-5. Đây cũng là nghiên cứu của nhóm đầu tiên ở Việt Nam sử dụng cá làm mô hình bệnh xương. * Tính mới của luận án 1.

Tìm được dòng cá rankl:HSE:CFP phù hợp (dòng clc8), b6 sung một số chỉ số dé hoàn thiện được qui trình sử dụng dòng cá này cho việc đánh giá tác dụng bảo vệ xương của các chất: chế độ sốc nhiệt với thời gian 90 phút ở nhiệt độ 39°C; nồng độ dung môi DMSO được dùng dé hòa tan chất có thé xử lý trên cá là dưới 0,5%; nông độ alendronate có thé được sử dung làm đối chứng đương là 25Iig/ml hay 50 ug/ml. Khang định tác dung ức chế hủy xương của hai thuốc chống loãng xương bisphosphonate thông dụng là alendronate và etidronate trên mô hình cá medaka rankl:HSE:CFP khi được phân tích bằng cách nhuộm xương cố định. Kết quả này góp phần xây dựng được phương pháp Iy xác định mức độ khoáng hóa và tổn thương xương của cá. Lần đầu tiên xác định được dung môi DMSO có thé anh hưởng đến mức độ ton thương xương gây ra bởi Rankl trên cá medaka và đưa ra khuyến cáo về việc sử dụng DMSO cho nghiên cứu trên cá này.

Khang định được resveratrol có tác dung làm giảm tốn thương xương gây ra bởi Rankl trên cá rankl: HSE:CFP mô hình bệnh loãng xương. Lần đầu tiên cho thấy chất tổng hợp NecroX-5 có tác dụng bảo vệ xương trên cá medaka thé hiện qua tác dung ức chế hủy xương và kích thích tạo xương. Điều này gợi ý tiềm năng nghiên cứu phát triển chất và các hợp chất NecroX-5 thành thuốc chống loãng xương. * Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của luận án cũng khăng định thêm giá trị của cá medaka rankl:HSE:CFP làm mô hình bệnh loãng xương va góp phan phát triển việc dùng cá làm động vật mô hình nghiên cứu ở Việt Nam, tiệm cận với nghiên cứu trên thế giới.

TONG QUAN TÀI LIEU 1. Bệnh loãng xương và thực trạng về bệnh Loãng xương là bệnh xương phô biến đặc trưng bởi sự suy giảm mật độ và cau trúc xương, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương, đặc biệt là xương hông và cô xương đùi [166] (Hình 1. Thiếu xương Loãng xương T-score Hình 1.1 Mật độ xương khi bình thường (normal bone), khi thiếu xương (osteopenia) và loãng xương (osteoporosis) được đánh giá bang chỉ số T-score [127]. Tình trạng bệnh loãng xương được xác định khi người bệnh có chỉ số T (T- score) nhỏ hơn -2,5 (Hình 1).

T-score được tính dựa trên giá trị mật độ xương (Bone mineral density -BMD) đo được bằng phương pháp hấp thụ tia X năng lượng kép (dual — energy x-ray absorptiometry) DXA và giá tri mật độ xương đỉnh (pBMD) được xác định trong quan thé [35]. Trên thế giới hàng năm có khoảng 200 triệu người bị loãng xương và khoảng 8,9 triệu người bị gãy xương, trong đó chủ yếu là gãy xương hông [67]. Theo dự báo tại Mỹ, trong năm 2020 có khoảng 10 — 14 triệu người bi loãng xương với tỷ lệ người trên 50 tudi bị loãng xương tăng 60% trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2025 [166]. Ước tính rằng có khoảng 50% phụ nữ và 20% nam giới trên 50 tuổi sẽ bị gãy xương trong phần đời còn lại của họ [146].

Loãng xương làm tăng nguy cơ gãy xương, đặc biệt là gãy xương hông [63]. Đáng chú ý, tỷ lệ gãy xương hông tăng theo cấp số nhân ở nữ từ 60 — 85 tuổi [36]. Ở Việt Nam, nghiên cứu cho thấy phụ nữ sau mãn kinh, cứ 100 người thì có 25 đến 30 người; nam giới trên 50 tuổi, cứ 100 người thì có 10 người bị loãng xương. Điều này cho thấy tình trạng loãng xương ở Việt Nam tương đương với các nước phương Tây [57].

Dựa vào cơ cau dân số Việt Nam năm 2010 và dự báo dân số đến năm 2050, ước tính số ca loãng xương năm 2010 là khoảng 2,9 triệu người loãng xương, trong đó có 2,36 triệu là nữ [56]. Con số loãng xương này có thể tăng lên 4,3 triệu vào năm 2020 và xấp xi 11 triệu người vào năm 2050. Tỉ lệ biến chứng gãy xương sau loãng xương ở Việt Nam cũng tương đối cao, ở Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy cứ 10 phụ nữ sau mãn kinh ở độ tuổi trên 50 thì có đến 2-3 người có dau hiệu gãy xương đốt sống, còn ở người trên 70 tuổi thì tỉ lệ gãy xương đốt sống có thé lên đến 40% [57]. Chi phí điều trị các biến chứng của loãng xương rất tốn kém và tăng liên tục trong những năm gan đây.

Cụ thé năm 2015 Mỹ đã tốn khoảng 637,5 triệu đô la chi phí điều trị cho các chấn thương do ngã gãy xương và biến chứng cũng như xử lý khi tử vong; trong đó, chi phí nhập viện trung bình cho một năm điều trị gãy xương đã là trên 300 triệu đô la. Đến năm 2025, chỉ phí điều trị gãy xương do loãng xương ở Mỹ dự kiến sẽ vượt 25 tỷ đô la [166]. Sinh học của mô xương Mô xương là mô liên kết đặc biệt luôn có khả năng tự đổi mới và có nhiều chức năng trong cơ thé. Xương làm khung, là chỗ dựa, bảo vệ cho các cơ quan, đặc biệt, nó phối hợp với hệ co đảm nhiệm chức năng vận động cho cơ thé.

Ngoài ra, xương còn là nơi sản xuất các tế bào tạo máu và là kho dự trữ canxi và phospho [51].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu mô hình bệnh loãng xương trên cá medaka và tác dụng chống loãng xương của các hoạt chất" cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc sử dụng cá medaka như một mô hình nghiên cứu để hiểu rõ hơn về bệnh loãng xương. Nghiên cứu này không chỉ làm sáng tỏ cơ chế bệnh lý mà còn khám phá các hoạt chất có khả năng chống loãng xương, từ đó mở ra hướng đi mới trong việc điều trị và phòng ngừa bệnh. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các phương pháp nghiên cứu hiện đại và tiềm năng ứng dụng trong y học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe và bệnh lý, hãy khám phá thêm về mật độ xương và tình trạng vitamin D ở trẻ em, hoặc tìm hiểu về tỷ lệ nhiễm bệnh trypanosomiasis ở trâu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về các vấn đề sức khỏe khác nhau và các nghiên cứu liên quan.