Nghiên cứu lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u màng não trên yên

Luận án tiến sĩ phân tích nghiên cứu đặc điểm lâm sàng đặc điểm cộng hưởng từ và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2019

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu lâm sàng u màng não trên yên

Nghiên cứu lâm sàng về u màng não trên yên đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong y học hiện đại. U màng não là khối u nguyên phát của hệ thần kinh trung ương, thường gặp ở độ tuổi trung niên và có tỷ lệ mắc cao hơn ở nữ. Các nghiên cứu cho thấy rằng u màng não trên yên chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số các loại u màng não. Việc hiểu rõ về đặc điểm lâm sàng và phương pháp điều trị là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả điều trị.

1.1. Đặc điểm lâm sàng của u màng não trên yên

U màng não trên yên thường biểu hiện qua các triệu chứng như giảm thị lực, đau đầu và rối loạn nội tiết. Triệu chứng này có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác, do đó việc chẩn đoán sớm là rất quan trọng. Theo nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng giảm thị lực lên tới 80% khi nhập viện.

1.2. Tình hình nghiên cứu u màng não trên yên tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về u màng não trên yên đã được thực hiện từ nhiều năm qua. Các báo cáo cho thấy tỷ lệ mắc bệnh này đang gia tăng, với nhiều trường hợp được phát hiện sớm nhờ vào sự phát triển của công nghệ chẩn đoán hình ảnh như MRI và CT. Việc nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn cải thiện quy trình điều trị.

II. Vấn đề và thách thức trong điều trị u màng não trên yên

Điều trị u màng não trên yên gặp nhiều thách thức do vị trí giải phẫu phức tạp của khối u. Việc phẫu thuật lấy u có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng, bao gồm tổn thương thần kinh và mạch máu. Hơn nữa, việc xác định chính xác vị trí khối u trước phẫu thuật là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

2.1. Những khó khăn trong chẩn đoán và điều trị

Chẩn đoán u màng não trên yên thường gặp khó khăn do triệu chứng không đặc hiệu. Nhiều bệnh nhân đến khám khi khối u đã lớn, gây khó khăn trong việc điều trị. Việc sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại như MRI giúp cải thiện khả năng phát hiện sớm, nhưng vẫn cần có sự kết hợp với lâm sàng để đưa ra quyết định điều trị chính xác.

2.2. Biến chứng trong và sau phẫu thuật

Phẫu thuật lấy u màng não trên yên có thể dẫn đến nhiều biến chứng như tổn thương thần kinh thị giác, chảy máu và nhiễm trùng. Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật có thể lên tới 20%, do đó việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp và kỹ thuật viên có kinh nghiệm là rất quan trọng.

III. Phương pháp điều trị u màng não trên yên hiệu quả

Có nhiều phương pháp điều trị cho u màng não trên yên, bao gồm phẫu thuật, xạ trị và theo dõi. Phẫu thuật là phương pháp chính để loại bỏ khối u, trong khi xạ trị có thể được sử dụng cho những trường hợp không thể phẫu thuật hoặc để điều trị tái phát.

3.1. Phẫu thuật vi phẫu thuật u màng não

Phẫu thuật vi phẫu thuật là phương pháp chính trong điều trị u màng não trên yên. Kỹ thuật này cho phép bác sĩ loại bỏ khối u với độ chính xác cao, giảm thiểu tổn thương cho các mô xung quanh. Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật vi phẫu thuật lên tới 90% trong việc loại bỏ hoàn toàn khối u.

3.2. Xạ trị và các phương pháp hỗ trợ

Xạ trị có thể được áp dụng cho những bệnh nhân không thể phẫu thuật hoặc để điều trị tái phát. Phương pháp này giúp tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn chặn sự phát triển của khối u. Các nghiên cứu cho thấy xạ trị có thể cải thiện tỷ lệ sống sót cho bệnh nhân mắc u màng não.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về u màng não trên yên đã chỉ ra rằng việc chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời có thể cải thiện đáng kể tiên lượng cho bệnh nhân. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc áp dụng các công nghệ mới trong phẫu thuật và chẩn đoán hình ảnh đã giúp nâng cao hiệu quả điều trị.

4.1. Kết quả điều trị và phục hồi chức năng

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phục hồi chức năng sau phẫu thuật đạt khoảng 80%. Bệnh nhân được theo dõi sau phẫu thuật cho thấy sự cải thiện rõ rệt về thị lực và chất lượng cuộc sống. Việc theo dõi định kỳ là cần thiết để phát hiện sớm các dấu hiệu tái phát.

4.2. Ứng dụng công nghệ mới trong điều trị

Việc áp dụng công nghệ mới như kính hiển vi phẫu thuật và hệ thống định vị thần kinh đã giúp nâng cao độ chính xác trong phẫu thuật u màng não. Những công nghệ này không chỉ giúp giảm thiểu biến chứng mà còn tăng khả năng lấy bỏ triệt để khối u.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu u màng não

Nghiên cứu về u màng não trên yên đang tiếp tục phát triển với nhiều triển vọng mới. Việc cải thiện các phương pháp chẩn đoán và điều trị sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh và các yếu tố tiên lượng trong điều trị.

5.1. Tương lai của nghiên cứu u màng não

Nghiên cứu trong tương lai sẽ tập trung vào việc phát triển các phương pháp điều trị mới và cải thiện quy trình chẩn đoán. Các nghiên cứu lâm sàng sẽ giúp xác định các yếu tố tiên lượng và tối ưu hóa điều trị cho bệnh nhân mắc u màng não.

5.2. Tăng cường hợp tác nghiên cứu quốc tế

Hợp tác nghiên cứu quốc tế sẽ giúp chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm trong điều trị u màng não. Việc này không chỉ nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo cơ hội cho các bác sĩ và nhà nghiên cứu học hỏi từ những thành công và thất bại của nhau.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng đặc điểm cộng hưởng từ và đánh giá kết quả điều trị vi phẫu thuật u màng não trên yên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu u màng não trên yên. Bệnh u màng nào trên yên theo y văn thế giới. Felix Plater là người đầu tiên mô tả u màng não trên xác (năm 1614).

U màng não củ yên được mổ ta bởi Stirling và Edin năm 1897 [trích 3], hai năm sau Steward [trích 7] mô tả kỹ hơn u màng não củ yên khi khám nghiệm tử thi. Năm 1916 Cushing là người đầu tiên mổ lấy bỏ u màng não củ yên, ông mô tả u xuất phát từ củ yên và rãnh thị giác. Năm 1922, Harvey Cushing là người đầu tiên chứng minh được u màng não xuất phát từ nhung mao của màng nhện. Cũng trong năm 1922 Dandy báo cáo mổ 8 cả u màng não củ yên [trích 32].

Trong năm 1938 Cushing và Eisenhardt mổ 28 trường hợp u màng não củ yên và đề xuất một phân loại bốn giai đoạn theo kích thước. Ông đã sử dụng thuật ngữ Hội chứng “suprasella chiasmal” trên cơ sở biểu hiện lâm sàng và cũng để phân biệt khối u này với các u tuyến yên, u sọ hầu, u thần kinh đệm. Tuy nhiên thuật ngữ này không biểu thị được nguồn gốc khối u xuất phát từ màng cứng của củ yên, hoành yên [trích 33]. Sau bài báo cáo của Cushing có nhiều báo cáo được công bố liên quan đến u màng não trên yên và chỉ rõ điểm xuất phát của khối u từ mái xoang bướm (planum), củ yên, hoành yên, lỗ thị giác, rãnh khứu giác.

Jane báo cáo trong 25 năm, từ năm 1936 đến năm 1961 tại bệnh viện Nữ Hoàng Anh có 858 trường hợp u màng não được mổ, có 50 ca u LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 màng não trên yên và cánh yên, ông chia thành 2 nhóm: nhóm khối u rất nhỏ (17 ca) và nhóm thứ hai u to hơn (33 ca). Lindsay Symono London - Anh tổng kết trong 35 năm, từ năm 1947 đến năm 1983 mổ 101 ca u màng não trên yên, tác giả chỉ rõ u màng não trên yên xuất phát từ củ yên, mái xoang bướm, hoành yên và mỏm yên trước [34]. Năm 1954 Busch và Mahneke báo cáo đầu tiên u màng não trên yên xuất phát từ hoành yên và năm 1995 Kinjo và cộng sự mổ 12 ca u màng não trên yên xuất phát từ hoành yên và tác giả phân loại u màng não trên yên xuất phát từ hoành yên thành 3 nhóm: - Nhóm A: U nguồn gốc từ lá trên của hoành yên chạy từ phía mỏm yên trước đến cuống tuyến yên. - Nhóm B: Nguồn gốc từ lá trên của hoành yên chạy từ mỏm yên sau đến cuống tuyến yên.

- Nhóm C: U nguồn gốc từ lá dưới của hoành yên [trích 35]. Năm 1979 Kadis và cộng sự báo cáo 105 ca u màng não trên yên với 56% phục hồi thị lực tốt sau mổ. Từ đầu thập kỉ 70 của thể kỉ trước, Wilson đã sử dụng đường mổ Keyhole (lỗ khóa) để vào phẫu thuật vùng trên yên, ưu điểm của nó là đường mổ nhỏ, kết hợp với nội soi làm cho việc lấy u dễ dàng hơn. Tháng 1 năm 1983, Jallo phẫu thuật 23 bệnh nhân u màng não trên yên bằng cách tiếp cận Pterion dưới kính hiển vi phẫu thuật.

Năm 1987, Weiss là người đầu tiên đã tiếp cận xoang bướm qua đường mũi để phẫu thuật u màng não trên yên [trích 3]. Năm 1998 Puchner mổ 50 ca u màng não trên yên theo dõi trung bình 5,7 năm cho kết quả phục hồi thị lực tốt 67 %, không thay đổi 9 %, tồi tệ 24 % và tỉ lệ tái phát u là 8 %. Từ năm 1983 đến 1998 Rudolf Fahlbusch mổ 47 trường hợp u màng não trên yên và 80 % số ca phục hồi thị lực [16]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Kane và cộng sự nhận xét sự lành tính u màng não trên yên nguồn gốc từ mái của xoang bướm (planum sphenoid) Who Grade I chiếm 92 % và u từ củ yên Who Grade I là 85% [36].

Năm 2005 Schick U báo cáo 53 bệnh nhân u màng não trên yên và tác giả cho rằng kết quả phục hồi thị lực sau mổ không liên quan kích thước khối u màng não trên yên và với tỉ lệ lấy hết u khá cao 90,5% nhưng kết quả phục hồi thị lực sau mổ không khả quan, phục hồi thị lực tốt có 37,7%, không thay đổi 49,1%, tồi tệ hơn là 13,2% và tác giả cho rằng mức độ lấy hết u nhiều hay ít không liên quan đến kết quả phục hồi thị lực sau mổ [37]. Theo một nghiên cứu của Cornelius IF năm 2013 [38] nghiên cứu hồi cứu 1663 bệnh nhân u màng não kết luận rằng với bệnh nhân trên 65 tuổi và mắc bệnh u màng não nền sọ (trong đó có u màng não trên yên) thì khả năng ác tính là rất thấp. Năm 2014 Liu Yi và cộng sự mổ 106 ca u màng não trên yên và tác giả phân loại u màng não trên yên thành 4 nhóm: - Nhóm A: U phát triển từ mái của xoang bướm (planum sphenoidale) - Nhóm B: U phát triển từ củ yên (tuberculum sellae). - Nhóm C: U phát triển từ hoành yên (diaphragm sellae) và lại chia thành 2 nhóm C1 và C2.

+ C1: U từ hoành yên trước giao thoa. + C2: U từ hoành yên sau giao thoa. Và đường mở trán thái dương cho kết quả phục hồi thị lực tốt và tác giả cho rằng vị trí của khối u màng não trên yên là yếu tố tiên lượng đến kết quả phục hồi thị lực sau mổ. Theo thứ tự lần lượt của vị trí u: Nhóm A > C2 > B > C1, phục hồi tốt nhất khi u ở vị trí A và kết quả phục hồi thị lực kém nhất ở nhóm C1 [5].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu u màng não trên yên trong nước. Năm 1996, Dương Chạm Uyên và Nguyễn Như Băng đưa ra phân loại u não dựa trên Tổ Chức Y Tế Thế Giới 1979, trên 374 trường hợp được mổ trong giai đoạn 5 năm từ khi có máy chụp cắt lớp, phân làm 8 loại, trong đó u màng não chiếm 16,37 %. Từ năm 1997 đến 2003, Võ Văn Nho tại bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh đã mổ 35 ca u màng não trên yên với tỉ lệ lấy hết u lên tới 97,14 % [39] Năm 2009 trong hội nghị khoa học phẫu thuật thần kinh toàn quốc Lý Ngọc Liên có bài báo cáo kết quả điều trị vi phẫu thuật u màng não trên yên [40].

Năm 2010 Dương Đại Hà, bệnh viện Việt Đức báo cáo tổng kết giai đoạn 2006 - 2008 có 204 bệnh nhân u màng nào thì u màng não củ yên chiếm 12,3 % [21]. Kiều Đình Hùng năm 2010 báo cáo 35 trường hợp u màng não trên yên được mổ trong giai đoạn năm 2000 đến 2005 tại khoa Phẫu thuật Thần Kinh bệnh viện Việt Đức ,thời kỳ này máy chụp cộng hưởng từ ở Hà nội chỉ có ở 178 Thái Hà cho nên chỉ có 18/35 ca được chụp cộng hưởng từ ,tỷ lệ lấy hết u là 77,15% ,tỷ lệ tử vong sau mổ 13% , phục hồi thị lực tốt 77 % [41]. Năm 2015, Nguyễn Ngọc Khang báo cáo 107 trường hợp u màng não củ yên được mổ tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2003 đến 2011 ,kích thước u trung bình khá lớn 4,52cm, tỷ lệ lấy hết u 68,2 %,tỷ lệ tử vong 7,5%, kết quả cải thiện thị lực so với trước mổ 58,9% [42]. Sự khác nhau giữa khái niệm u màng nào củ yên (TUBERCULUM SELLA MENINGIOMA) và u màng não trên yên (SUPRASELLA MENINGIOMA).

U màng não trên yên và u màng não củ yên về mặt thuật ngữ khác nhau hoàn toàn về nguồn gốc, điểm xuất phát của khối u. Ngay từ thủa sơ khai, cách đây hơn 100 năm từ khi Cushing và cộng sự mổ những ca đầu tiên u màng não trên yên thì ông đã sử dụng thuật ngữ Hội chứng “suprasella LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chiasmal” trên cơ sở biểu hiện lâm sàng và cũng để phân biệt khối u này với các u tuyến yên, u sọ hầu, u thần kinh đệm. Tuy nhiên thuật ngữ này không biểu thị được nguồn gốc khối u xuất phát từ màng cứng của củ yên, hoành yên. Sau bài báo cáo của Cushing có nhiều báo cáo được công bố liên quan đến u màng não trên yên và chỉ rõ điểm xuất phát của khối u từ mái xoang bướm (planum), lỗ thị giác, rãnh khứu giác.

Một số tác giả còn phân biệt u màng não củ yên và u màng não hoành yên. Trong năm 1938 Cushing và Eisenhardt mổ 28 trường hợp u màng não củ yên và đề xuất một phân loại bốn giai đoạn theo kích thước và mức độ chèn ép giao thoa thị giác đó là: - Giai đoạn 1: Tình trạng khởi phát - Giai đoạn 2: Tình trạng tiền triệu chứng - Giai đoạn 3: Tình trạng sớm và phẫu thuật cho kết quả tốt - Giai đoạn 4: Tình trạng muộn và phẫu thuật cho kết quả kém [trích 7], [trích 33]. Yasargil chia u màng não củ yên thành 3 loại dựa vào kích thước khối u [trích 33]: - Loại 1: Khối u nhỏ hơn 2 cm. - Loại 2: Khối u từ 2 – 4 cm.

- Loại 3: Khối u lớn hơn 4 cm. Nhưng tác giả không đề cập đến khối u có chèn ép giao thoa thị giác hay không. U màng não trên yên được đại đa số các tác giả cho rằng: Đó là những khối u có nguồn gốc từ màng cứng của mái xoang bướm (planum sphenoidal), củ yên (tuberculum sella), hoành yên (diaphragm sella) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Năm 1995 Kinjio và cộng sự [trích 35] phân loại u màng não xuất phát từ hoành yên thành 3 nhóm: - Nhóm A: U xuất phát từ lá trên của hoành yên, chạy từ mỏm yên trước đến cuống tuyến yên. - Nhóm B: U xuất phát từ lá trên của hoành yên, chạy từ mỏm yên sau đến cuống tuyến yên.

- Nhóm C: U xuất phát từ lá dưới của hoành yên. Loại A biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực và khiếm khuyết thị lực. Loại B ít khi giảm thị lực nhưng có thể gây suy yến vì chèn trực tiếp vào cuống tuyến yên. Loại C giống u tuyến yên và triệu chứng suy yên.

Liu Yi và cộng sự năm 2014 [5] phân loại u màng não trên yên thành 3 nhóm: - Nhóm A: U xuất phát từ màng cứng của mái xoang bướm (planum sphenoidal). - Nhóm B: U xuất phát từ màng cứng của củ yên (Tuberculum sella). - Nhóm C: U xuất phát từ hoành yên, nhưng chia thành 2 nhóm C1 và C2.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ