CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Nghiên cứu trên thế giới Archer và Davison (2008) đã tiến hành một nghiên cứu tại Anh kiểm tra các kỹ năng việc làm quan trọng nhất theo tổ chức quốc tế. Nó cho thấy những kỹ năng quan trọng nhất của người sử dụng lao động tìm kiếm những kỹ năng giao tiếp (82%), kỹ năng làm việc nhóm (91%), khả năng trí tuệ (79%), phân tích và ra quyết định (76%). Học tập dựa trên làm việc nhóm là tương đối mới trong giáo dục y tế.
Năm 1998, The Spectator; Hamilton, có bài viết “Làm việc nhóm giúp chăm sóc sức khoẻ tốt hơn = Teamwork helps provide better health care”. Khi các nhà quản lý chăm sóc sức khoẻ làm việc cùng nhau như một nhóm, kết quả cuối cùng là chăm sóc có chất lượng tốt hơn cho cộng đồng. Bệnh nhân, bác sĩ và dược sĩ làm việc cùng nhau để đảm bảo những giá trị tốt đẹp nhất cho cộng đồng: giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân, cách phòng ngừa, giảm chi phí và hướng dẫn họ sử dụng thuốc kê theo đơn và không kê theo đơn. Nelson cho rằng: “Cách tiếp cận theo nhóm này giúp giảm bớt các cuộc hẹn của bác sĩ, thăm bệnh viện cấp cứu và nhập viện" [27].
Học tập theo nhóm được lồng ghép vào chương trình tiền lâm sàng của một trường y khoa vào năm 2002. Mục đích: Nghiên cứu này so sánh thái độ của SV y khoa về quá trình học tập theo nhóm thay đổi giữa năm đầu tiên và năm thứ hai của trường y “Thái độ của sinh viên Y khoa về làm việc nhóm trong một chương trình giáo dục tiền lâm sàng = Medical Students’ Attitudes about Team-Based Learning in a Pre-Clinical Curriculum” của nhóm tác giả Dean X. Parmelee, Dan DeStephen và Nicole J. Kết quả cho thấy sự thay đổi đáng kể về thái độ của SV đã được ghi nhận như sau: làm việc trong một nhóm làm rõ họ là ai, làm việc với nhóm đã giúp họ phát triển các kỹ năng làm việc với người khác và phát triển kỹ năng lãnh đạo hợp tác và làm việc với một nhóm đã giúp họ phát triển hơn nữa sự tôn trọng 5 z ý kiến của người khác.
Còn trong nghiên cứu của nhóm tác giả: Lindsey Elmore và cộng sự năm 2014 về “Tác động của các phương pháp học tập đội nhóm thích nghi về sự tự đánh giá của sinh viên về tính chuyên nghiệp, làm việc nhóm và kỹ năng trong một khóa học tự chăm sóc = Impact of adapted team-based learning methods on student self-assessment of professionalism, teamwork, and skills in a self-care course”, Mục đích của nghiên cứu này là đánh giá tác động của việc áp dụng phương pháp sư phạm học tập dựa trên đồng đội thích nghi (TBL) dựa trên sự chuyên nghiệp của SV, kỹ năng làm việc nhóm, và nhận thức về học tập cũng như các đánh giá khóa học kết quả [28, 488-493]. Kết quả cho thấy rằng, làm việc nhóm: họ học được kinh nghiệm quý báu, được tôn trọng, từng cá nhân được cải thiện chính mình, trình độ của họ được nâng lên và thúc đẩy họ làm việc chăm chỉ hơn, họ được phát triển kỹ năng hợp tác nhiều hơn, trở thành người giải quyết một vấn đề, phát triển kỹ năng lãnh đạo. Như vậy, nhìn chung tất cả các bài viết trên đều khẳng định tầm quan trọng của kỹ năng làm việc nhóm đối với SV kể cả trong học tập lẫn trong cuộc sống. Kỹ năng làm việc nhóm không chỉ giúp sinh viên tăng cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp, giúp họ thành công hơn trong sự nghiệp mà còn hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân.
Nghiên cứu ở Việt Nam Với tiêu chí “Lấy người học làm trung tâm”, quy chế đào tạo tín chỉ luôn hướng đến mục tiêu kích thích sự tư duy, chủ động của người học. Làm việc nhóm là một trong những phương pháp học tập phát huy tính sáng tạo, tư duy độc lập, tinh thần tập thể của SV. Hoạt động học tập được tiến hành theo nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, tính cách của mỗi cá nhân được bộc lộ, được uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng…nhờ đó mà hiệu quả học tập sẽ tăng lên, 6 z bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp. Thực tiễn cho thấy tại các trường đại học dường như chưa quan tâm đúng mức đến việc hình thành và rèn luyện KN làm việc nhóm cho SV, điều này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng đào tạo và kết quả học tập của SV.
Trong những năm gần đây, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về KN học tập của SV như Nguyễn Thị Bích Hạnh (2007) “Nghiên cứu kỹ năng tự học trên lớp của sinh viên sư phạm” [5], Lê Ngọc Huyền (2010) “Kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập của sinh viên trường Đại học Sài Gòn” [9], Phạm Hoàng Tài (2010) “Kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên trường Đại học Đà Lạt” [18], Nguyễn Đăng Khoa (2008) Kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên khoa tiếng Pháp, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Đà nẵng, Tuyển tập Báo cáo “Hội nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học” lần thứ 6 [10]. Tuy nhiên, trong giới hạn các tài liệu mà tác giả có thể tiếp cận được chưa có nghiên cứu nào đánh giá sâu vào các kỹ năng làm việc của SV khối ngành Dược mà chỉ nghiên cứu thực trạng kỹ năng làm việc nhóm củaSV hay phát triển kỹ năng làm việc nhóm của SV khối ngành sư phạm, thương mại hay kinh tế.Do đó đánh giá kỹ năng làm việc nhóm đối với SV ngành dược trước khi ra trường là vô cùng cần thiết. Một số khái niệm cơ bản 1. Đánh giá Trong lĩnh vực giáo dục có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá.
Tuy nhiên vẫn còn phụ thuộc nhiều vào cấp độ đánh giá, vào đối tượng, mục đích cần đánh giá. Các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực đánh giá giáo dục được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng trong đề tài này thống nhất sử dụng những quan niệm của Owen & Rogers [16] : - Đánh giá: là việc thu thập thông tin một cách hệ thống và đưa ra những nhận định dựa trên cơ sở các thông tin thu được; - Đánh giá là một quá trình bao gồm: chuẩn bị một kế hoạch; 7 z - Thu thập, phân tích thông tin và thu được kết quả; - Chuyển giao các kết quả thu được đến những người liên quan để họ hiểu về đối tượng đánh giá hoặc giúp những người có thẩm quyền đưa ra các nhận định hay các quyết định liên quan đến đối tượng đánh giá. Sản phẩm của đánh giá có thể là các thông tin, bằng chứng, dữ liệu thu được từ quá trình đánh giá; hay các nhận định, các ý kiến rút ra trên cơ sở thông tin, bằng chứng thu được; hay các kết luận và các kiến nghị. Quy trình đánh giá có thể bao gồm các bước sau (Owen & Rogers, 1999): - Xây dựng các tiêu chí đánh giá (xem xét sự vật, hiện tượng dưới nhiều góc độ khác nhau để có được đầy đủ thông tin về đối tượng đánh giá); - Xây dựng các chuẩn mực (thể hiện những mong muốn, yêu cầu đối tượng đánh giá phải đạt được cái gì, ở mức độ nào); - Đo lường các thuộc tính của đối tượng đánh giá theo các tiêu chí và đối chiếu với các chuẩn mực đã xây dựng trước đó; - Tổng hợp và tích hợp các bằng chứng thu được để đưa ra những nhận định chuẩn xác.
Black và Wiliam (1998), đưa ra định nghĩa đánh giá theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả các hoạt động mà giảng viên và sinh viên đã thực hiện để thu thập thông tin. Những thông tin này có thể được sử dụng theo nghĩa chẩn đoán để điều chỉnh quá trình giảng dạy và học tập. Theo định nghĩa này, đánh giá bao gồm các quan sát của giảng viên, thảo luận trong lớp học, phân tích các việc làm của SV, chẳng hạn như bài tập về nhà và các bài kiểm tra [15]. Nguyễn Kim Dung (2008) đưa ra khái niệm: đánh giá là một hình thức chẩn đoán của việc xem xét chất lượng và đánh giá việc giảng dạy, học 8 z tập và chương trình đào tạo dựa vào việc kiểm tra chi tiết các chương trình học, cơ cấu và hiệu quả của một cơ sở đào tạo, xem xét bên trong và các cơ chế kiểm soát chất lượng của cơ sở đó [2].
Lâm Quang Thiệp (2009) đưa ra khái niệm: đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn việc đánh giá một chương trình, một nhà trường, một chính sách. Đánh giá có thể là định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị [22]. Thuật ngữ đánh giá trong giáo dục được tác giả Phạm Xuân Thanh (2011) [21] định nghĩa như sau: Đánh giá: Một thuật ngữ chung để chỉ việc thu thập và xử lý thông tin một cách hệ thống làm cơ sở để đưa ra các nhận định phục vụ cho một mục đích đã được xác định từ trước (ví dụ: mục đích cải tiến, nâng cao chất lượng giáo dục). Ở đây, chủ yếu đề cập đến đánh giá trong giáo dục.
Trong Giáo trình Kiểm tra đánh giá trong dạy học của TS. Sái Công Hồng và các cộng sự (2017) đưa ra quan điểm về đánh giá [8]: Đánh giá là sự giải thích có tính chất tổng kết các dữ liệu có được từ các bài kiểm tra hay những công cụ đánh giá khác. Đánh giá là việc định ra giá trị của bản thân đối tượng được đánh giá trong mối tương quan với các đối tượng hay môi trường xung quanh. Đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn đánh giá một chương trình, một nhà trường, một chính sách có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển xã hội.
Dựa vào sự đánh giá, người ta định giá trị kết quả đánh giá để phán đoán và đề xuất các quyết định giáo dục. Mối quan hệ giữa đánh giá, đo lường và định giá trị rất chặt chẽ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau. Đánh giá là quá trình phán đoán, muốn vậy, người ta phải đo lường sự vật và thuộc tính của nó dựa trên các quan điểm về giá trị. Chính vì vậy khi nói đến đánh giá có nghĩa chúng ta nói đến việc đo đạc các giá trị của sự vật.
Quan điểm về giá trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình 9 z đánh giá.